Page 4 of 4 FirstFirst 1234
Results 76 to 88 of 88

Thread: Tâm tình với ... Lỗi chính tả

  1. #76
    Join Date
    Jul 28th 2013
    Posts
    282
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    88

    Default

    .


    Thưa các anh / chị trong Cốcthơ của QHNM

    Hôm nay Lp có vài vấn đề về chính tả không biết hỏi ai nên post ra đây mong anh / chị nào biết thì làm ơn chỉ giúp Lp.

    Huynh Tâm Tiễn viết :

    Hoa Xuân tươi thắm nhịp nhàng
    Sắc son muôn vẻ rộn ràng bướm hoa
    Trắng Xanh Tím Đỏ mặn mà
    Tình Xuân phơi phới như là ngất ngây ...


    Tâm Tiễn
    Khai Xuân Giáp Ngọ
    (Mùng Ba Tết - 2014)


    Và Mod Nhuthương vào chỉnh bài viết như vầy :

    Thương em anh vẫn sắt son lòng

    Last edited by Nhu Thuong; 20 Hours Ago at 13:24. Reason: sắt son


    Trong bài thơ : Lời Xuân Gửi Bạn của hoatigon . Đăng ở topic của Lp gần đây .Nguyên văn sis hoatigon viết là sắc son

    Xin thưa với các anh / chị sắc son hay sắt son cái nào mới đụ́ng .

    Lp rất là dốt tiếng việt nhưng theo cái sự hiểu biết hạn hẹp của Lp là Sắc son của huynh Tâmtiễn mới đúng vì nó là màu Sắc không phải Sắt thép . Lp nghĩ vậy có đúng không ?

    Kế tiếp Lp có câu thơ như vầy :

    Không còn đánh thức nổi những ngữ ngôn

    Và mod Nhưthương vào sửa thành như vầy

    Không còn đánh thức nỗ̉i những ngữ ngôn

    Last edited by Nhu Thuong; 2 Weeks Ago at 10:16.

    Không còn đánh thức nổi ..... nổi này là chìm nổi không phải nỗi nhớ nên nó là dấu hỏi phải không các anh / chị . Tức là Lp không có viết sai nhưng vẫn bị chỉnh sửa . Sau này LP phải viết thế nào đây ???

    Rất mong anh/ chị chỉ dẩn cho . Lp xin cám ơn anh chị trước và xin chúc anh chị một năm tốt lành .












  2. #77
    Join Date
    Aug 12th 2012
    Location
    Naples Florida
    Posts
    1,305
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    168

    Default

    Quote Originally Posted by Lan Phi View Post
    .


    Thưa các anh / chị trong Cốcthơ của QHNM

    Hôm nay Lp có vài vấn đề về chính tả không biết hỏi ai nên post ra đây mong anh / chị nào biết thì làm ơn chỉ giúp Lp.

    Huynh Tâm Tiễn viết :

    Hoa Xuân tươi thắm nhịp nhàng
    Sắc son muôn vẻ rộn ràng bướm hoa
    Trắng Xanh Tím Đỏ mặn mà
    Tình Xuân phơi phới như là ngất ngây ...


    Tâm Tiễn
    Khai Xuân Giáp Ngọ
    (Mùng Ba Tết - 2014)


    Và Mod Nhuthương vào chỉnh bài viết như vầy :

    Thương em anh vẫn sắt son lòng

    Last edited by Nhu Thuong; 20 Hours Ago at 13:24. Reason: sắt son


    Trong bài thơ : Lời Xuân Gửi Bạn của hoatigon . Đăng ở topic của Lp gần đây .Nguyên văn sis hoatigon viết là sắc son

    Xin thưa với các anh / chị sắc son hay sắt son cái nào mới đụ́ng .

    Lp rất là dốt tiếng việt nhưng theo cái sự hiểu biết hạn hẹp của Lp là Sắc son của huynh Tâmtiễn mới đúng vì nó là màu Sắc không phải Sắt thép . Lp nghĩ vậy có đúng không ?

    Kế tiếp Lp có câu thơ như vầy :

    Không còn đánh thức nổi những ngữ ngôn

    Và mod Nhưthương vào sửa thành như vầy

    Không còn đánh thức nỗ̉i những ngữ ngôn

    Last edited by Nhu Thuong; 2 Weeks Ago at 10:16.

    Không còn đánh thức nổi ..... nổi này là chìm nổi không phải nỗi nhớ nên nó là dấu hỏi phải không các anh / chị . Tức là Lp không có viết sai nhưng vẫn bị chỉnh sửa . Sau này LP phải viết thế nào đây ???

    Rất mong anh/ chị chỉ dẩn cho . Lp xin cám ơn anh chị trước và xin chúc anh chị một năm tốt lành .











    Hi Lan Phi và các huynh tỷ đệ muội trong cốc

    Theo sự hiểu biết rất thiển cạn của TTMN .

    Khi Huynh TAMTIEN viết

    Hoa Xuân tươi thắm nhịp nhàng
    SẮC SON muôn vẻ rộn ràng bướm hoa

    SẮC = ĐẸP , SON = TRẺ . SẮC SON là dùng để tả về cái cái ĐẸP hoặc DUYÊN DÁNG

    Còn hai câu sau :

    Anh đi gìn giữ núi non
    SẮT SON một dạ nuôi con chờ chồng

    SẮT = SẮT THÉP , SON = SƠN PHẾT hay TÔ MẦU . SẮT SON là dùng để tả về lòng CHUNG THỦY hoặc TRUNG THÀNH .

    Không biết có đúng hay không ? Mong các Huynh Tỷ Đệ Muội có ý kiến khác xin viết lên để mọi người được học hỏi .

    Thân ái . TTMN

  3. #78
    Join Date
    Sep 4th 2010
    Posts
    11
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    0

    Default

    Quote Originally Posted by Lan Phi View Post
    .


    Thưa các anh / chị trong Cốcthơ của QHNM

    Hôm nay Lp có vài vấn đề về chính tả không biết hỏi ai nên post ra đây mong anh / chị nào biết thì làm ơn chỉ giúp Lp.

    Huynh Tâm Tiễn viết :

    Hoa Xuân tươi thắm nhịp nhàng
    Sắc son muôn vẻ rộn ràng bướm hoa
    Trắng Xanh Tím Đỏ mặn mà
    Tình Xuân phơi phới như là ngất ngây ...


    Tâm Tiễn
    Khai Xuân Giáp Ngọ
    (Mùng Ba Tết - 2014)


    Và Mod Nhuthương vào chỉnh bài viết như vầy :

    Thương em anh vẫn sắt son lòng

    Last edited by Nhu Thuong; 20 Hours Ago at 13:24. Reason: sắt son


    Trong bài thơ : Lời Xuân Gửi Bạn của hoatigon . Đăng ở topic của Lp gần đây .Nguyên văn sis hoatigon viết là sắc son

    Xin thưa với các anh / chị sắc son hay sắt son cái nào mới đụ́ng .

    Lp rất là dốt tiếng việt nhưng theo cái sự hiểu biết hạn hẹp của Lp là Sắc son của huynh Tâmtiễn mới đúng vì nó là màu Sắc không phải Sắt thép . Lp nghĩ vậy có đúng không ?

    Kế tiếp Lp có câu thơ như vầy :

    Không còn đánh thức nổi những ngữ ngôn

    Và mod Nhưthương vào sửa thành như vầy

    Không còn đánh thức nỗ̉i những ngữ ngôn

    Last edited by Nhu Thuong; 2 Weeks Ago at 10:16.

    Không còn đánh thức nổi ..... nổi này là chìm nổi không phải nỗi nhớ nên nó là dấu hỏi phải không các anh / chị . Tức là Lp không có viết sai nhưng vẫn bị chỉnh sửa . Sau này LP phải viết thế nào đây ???

    Rất mong anh/ chị chỉ dẩn cho . Lp xin cám ơn anh chị trước và xin chúc anh chị một năm tốt lành .











    Chào bạn/chị Lan Phi và các ACE,

    Tôi cũng xin đồng ý với giải thích của anh TTMN về chữ "Sắt Son". Quả thật, đó là một chữ Nôm (tiếng Việt) kép hoàn toàn. Trong tiếng Việt thuần túy cũng như trong nhiều chữ Hán-Việt mà Ông Cha chúng ta sáng tạo, dùng, và để lại cho chúng ta thừa hưởng; có rất nhiều chữ được dùng với nghĩa bóng, với sự hình dung, bao gồm cả tính chất tượng hình hoặc/và tượng thanh. Tức là, khi các chữ này được đọc hoặc viết lên; người nghe hoặc người đọc đều có thể hình dung ra được ý nghĩa của nó.

    Sắt Son cùng nghĩa với Chung Thủy bởi sự so sánh như anh TTMN đã giải thích.

    Tuy nhiên, cho đến nay tôi chưa hề biết đến trong tiếng Việt chúng ta có chữ "Sắc Son" như một từ kép/ghép bao giờ. Trong số các từ điển Hán-Việt và tự/từ điển Việt ngữ tôi đang có trong nhà; đã không có cuốn nào ghi nhận và giải thích chữ "Sắc Son" như một từ kép/ghép.

    Trong trường hợp anh Tâm Tiễn muốn dùng chữ "Sắc Son" như một chữ mới theo nghĩa riêng của mình cũng không có gì là sai, nếu anh ghi chú nghĩa mới đó của anh. Sau đó, có thể chữ mới này được chấp nhận và phổ biến với nghĩa của nó để cùng đi song song với chữ "Sắt Son" hoặc sẽ bị đào thải theo quy luật của ngôn ngữ!...

    Lan Phi đã viết và giải thích đúng hai trường hợp khác nhau của chữ "nông nỗi" và "chìm nổi" cũng như "liệu chúng ta có kham nổi công việc này chăng?"

    Hàn Sinh.
    Last edited by Hàn Sinh; 02-02-2014 at 12:03.

  4. #79
    Join Date
    Jul 31st 2009
    Posts
    10,953
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    908

    Default

    * Trước hết, NT. xin thành thật xin lỗi bạn thơ Lan Phi, bạn đã viết đúng:

    Không còn đánh thức nổi những ngữ ngôn

    * Kế đến về chữ SẮC và SẮT

    NT. đọc thấy:
    - Thời son sắc: Nói về thời son trẻ, duyên dáng - diễn tả về sắc đẹp
    - Màu sắc
    Tức là chữ SẮC hàm ý diễn tả về nhan sắc hay về màu


    Khi anh Tâm Tiễn viết:
    Sắc son muôn vẻ rộn ràng bướm hoa


    Với ý nghĩa về muôn màu muôn sắc của vạn ngàn loài hoa, thì chữ SẮC này có thể đúng vì Thơ được tự do hơn văn - thơ có thể sáng tạo chữ mới thoải mái nhiều hơn văn, miễn là người đọc hiểu đúng như ý tác giả sáng tạo

    Tuy nhiên trong câu thơ sau đây cũng của anh Tâm Tiễn, thì phải là chữ SẮT mới đúng, huynh đồng ý không ?

    Thương em anh vẫn sắc son lòng

    Bởi vì có hai chữ "Thương em", nên câu thơ đã không còn ý nghĩa của màu sắc nữa để đi vào ý nghĩa của tình, của nghĩa và từ đó phải viết là SẮT để ngụ ý sự thủy chung

    Chữ SẮT mình hay gặp nhất trong câu viết chúc: SẮT CẦM HẢO HIỆP - đây là "Sắt" của "Chung thủy / Thủy chung " trong tình vợ chồng

    Rất cám ơn Huynh TTMN và Huynh Hàn sinh, nhất là bạn thơ Lan Phi đã phụ chăm sóc lỗi chính tả trong Vườn Thơ với NT -
    NT không có gì gọi là chỉ dẫn đâu, chỉ là nói ra những điều mình biết thôi
    Last edited by Nhu Thuong; 02-02-2014 at 12:20.

  5. #80
    Join Date
    Sep 4th 2010
    Posts
    11
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    0

    Default

    Xin được ghi rõ rằng chữ "Nông Nỗi" được dùng theo từ điển Việt ngữ được định nghĩa là một danh từ có nghĩa như "tình trạng" và được dùng trong các câu sau đây:

    - Đứa trẻ quá nghịch ngợm nên mới ra Nông Nỗi này!
    - Nông nỗi này biết tỏ cùng ai?

    Trong khi đó, một chữ khác là "Nông Nổi" lại được ít dùng hơn với nghĩa của một tĩnh từ nói đến tính tình, suy nghĩ nông cạn của một con người:

    - Với suy nghĩ Nông Nổi của nó, đọc dăm cuốn sách là đã thành nhà bác học rồi!

    Gọi là được dùng ít hơn, nhưng chữ "Nông Nổi" này cũng khá phổ biến tuy không thấy ghi trong các từ điển, tôi không rõ tại sao?

  6. #81
    Join Date
    Sep 4th 2010
    Posts
    11
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    0

    Default

    Quote Originally Posted by Nhu Thuong View Post
    * Trước hết, NT. xin thành thật xin lỗi bạn thơ Lan Phi, bạn đã viết đúng:

    Không còn đánh thức nổi những ngữ ngôn

    * Kế đến về chữ SẮC và SẮT

    NT. đọc thấy:
    - Thời son sắc: Nói về thời son trẻ, duyên dáng
    - Màu sắc
    Tức là chữ SẮC hàm ý diễn tả về nhan sắc hay về màu


    Khi anh Tâm Tiễn viết:
    Sắc son muôn vẻ rộn ràng bướm hoa


    Với ý nghĩa về muôn màu muôn sắc của vạn ngàn loài hoa, thì chữ SẮC này có thể đúng vì Thơ được tự do hơn văn - thơ có thể sáng tạo chữ mới thoải mái nhiều hơn văn, miễn là người đọc hiểu đúng như ý tác giả sáng tạo

    Tuy nhiên trong câu thơ sau đây cũng của anh Tâm Tiễn, thì phải là chữ SẮT mới đúng:

    Thương em anh vẫn sắc son lòng

    Bởi vì có hai chữ "Thương em", nên câu thơ đã không còn ý nghĩa của màu sắc nữa để đi vào ý nghĩa của tình, của nghĩa và từ đó phải viết là SẮT để ngụ ý sự thủy chung

    Chữ SẮT mình hay gặp nhất trong câu viết chúc: SẮT CẦM HẢO HIỆP - đây là "Sắt" của "Chung thủy / Thủy chung " trong tình vợ chồng

    Rất cám ơn Huynh TTMN và Huynh Hàn sinh, nhất là bạn thơ Lan Phi đã phụ chăm sóc lỗi chính tả trong Vườn Thơ với NT.
    Chào Sis Nhu Thuong và các ACE,

    Theo HS biết và cũng vừa tra từ điển của Khai Trí Tiến Đức, Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ, Nguyễn Văn Khôn... xong; hoàn toàn chúng ta không có chữ "Son Sắc" hoặc "Thời Son Sắc".

    Có lẽ, Sis đã nhầm với "Thời Xuân Sắc" hay chăng? Bởi vì "Sắc" theo các nghĩa "nhan sắc" và "màu sắc" đều là tiếng Hán. Ông bà chúng ta đã không hề dùng một chữ Hán để ghép với một chữ Nôm (Son = non, trẻ). Do đó, các chữ "Son Sắc" và "Sắc Son" thật ra phải nói là hoàn toàn không có nghĩa. Bởi tính chất "ba rọi" ghép từ một chữ Hán và một chữ Nôm. Trong khi "Son Sắt" là từ ghép do hai chữ Nôm hoàn toàn đó Sis!

    "Sắt" trong chữ "Sắt Cầm Hảo Hiệp" lại là Hán tự vì "SẮT" và "CẦM" là tên của hai loại nhạc khí mà người Tàu dùng hằng ngày.

    Hán tự và tiếng Việt của chúng ta có nhiều trường hợp đồng âm dị nghĩa; do đó, khi ghép chữ để dùng Ông Cha chúng ta đã có những quy luật để ngữ vựng không bị rối rắm và dễ hiểu cho những người dù chỉ mới gặp qua chữ ghép/kép nào đó, lần đầu tiên mà thôi!

    Hàn Sinh.

  7. #82
    Join Date
    Feb 13th 2008
    Posts
    752
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    48

    Default

    Quote Originally Posted by Hàn Sinh View Post
    Xin được ghi rõ rằng chữ "Nông Nỗi" được dùng theo từ điển Việt ngữ được định nghĩa là một danh từ có nghĩa như "tình trạng" và được dùng trong các câu sau đây:

    - Đứa trẻ quá nghịch ngợm nên mới ra Nông Nỗi này!
    - Nông nỗi này biết tỏ cùng ai?

    Trong khi đó, một chữ khác là "Nông Nổi" lại được ít dùng hơn với nghĩa của một tĩnh từ nói đến tính tình, suy nghĩ nông cạn của một con người:

    - Với suy nghĩ Nông Nổi của nó, đọc dăm cuốn sách là đã thành nhà bác học rồi!

    Gọi là được dùng ít hơn, nhưng chữ "Nông Nổi" này cũng khá phổ biến tuy không thấy ghi trong các từ điển, tôi không rõ tại sao?
    Cám ơn anh Hàn Sinh , bcbx cũng thấy chữ " Nông nổi " dấu hỏi chỉ sự thô thiển , hạn hẹp trong suy nghĩ hoặc hành động , tục ngữ VN có câu :
    Đàn ông nông nổi giếng khơi
    Đàn bà sâu săc như cơi đụng trầu .

    Cũng như câu " Sắt Cầm hảo hiệp " đúng nguyên văn là thuần Hán ,nhưng theo thời gian và theo dòng lịch sử có những điều cấm kỵ do phạm húy ... thành chữ " Sắt cầm hảo hợp " ...và dần dần người ta nghĩ rằng đó là chữ thuần Việt nên thường hiểu sai chữ " Sắt " . Đa tạ anh đã có những giải thích rất hay về Việt ngữ .
    Kính .

  8. #83
    Join Date
    Sep 4th 2010
    Posts
    11
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    0

    Default

    Quote Originally Posted by oantuti View Post
    "Bất cứ văn, thi nhân nào cũng trau chuốt lời thơ, con chữ trong thơ văn của mình hết cả."
    Chào anh oantuti và các ACE,

    Xin được đồng ý cùng nhiều lời phân tích và giải thích của các anh oantuti và Tâm Tiễn về câu văn được quoted bên trên.

    Tôi xin được bổ sung thêm ý của các anh như sau:

    1/ Xưa kia, do chưa có chữ viết riêng nên Ông Cha chúng ta từng mượn chữ Hán để dùng trong suốt chiều dài lịch sử nước nhà. Vì thế, trong suốt hai ngàn năm đó Hán văn là ngôn ngữ trong thi cử, văn chương, và hành chính. Tuy nhiên, dân tộc ta đã không hề bị đồng hóa cho dù bị đô họ ngàn năm và vay mượn chữ viết từ phương Bắc. Tổ tiên chúng ta vẫn dùng tiếng Việt để nói chuyện với nhau. Và cũng có cố gắng tạo ra một thứ chữ riêng của mình gọi là chữ Nôm (Quốc Âm).

    Trở lại cùng với Hán văn và Hán tự mà Ông Cha chúng ta mượn của người Tàu. Hán văn, Hán tự có rất nhiều chữ (tự) "đồng âm dị nghĩa". Tức là cùng một âm đọc ra nhưng có thể có đến dăm bảy, có khi hơn mười cách viết khác nhau. Đương nhiên, các chữ có cách viết khác nhau đó đều có nghĩa riêng biệt. Chính vì vậy, Ông Cha chúng ta đã gọi là "mặt chữ" để mô tả hình dáng của mỗi chữ viết khác nhau đó. Thí dụ, cùng phát âm là "phụ" nhưng cần biết "mặt chữ ra sao" để hiểu nghĩa chính xác của chữ "phụ" đó!

    - 父 "Phụ" này là "Cha, Bố, Ba"
    - 駙 "Phụ" này là "Giúp đỡ, Chăm Sóc, như trong chữ Phụ/Phò Mã"
    - 婦 "Phụ" này là "Vợ như trong Hiền Phụ, con dâu như trong Tức Phụ"

    Vì thế chúng ta đã có chữ "Mặt Chữ".

    2/ Thế kỷ mười bảy, các giám mục người Bồ Đào Nha và người Pháp đã phát kiến ra chữ Quốc ngữ mà mãi đầu thế kỷ hai mươi vừa qua mới được dùng để thay thế cho Hán văn trong hành chánh, học đường, và thi cử tại nước ta. Trong bảng đơn vị chữ alphabet Ông Cha chúng ta đã gọi các đơn vị chữ này là "Mẫu Tự". Chúng ta có khoảng 30 mẫu tự trong khi Ăng Lê và Pháp có khoảng 24-26 mẫu tự mà thôi!

    "Mẫu Tự", dù sao cũng là một chữ Hán-Việt. "Chữ Cái" là cách dịch thẳng một cách nôm na từ "Mẫu Tự" mà ra. Chú ý, "Cái" là một chữ Nôm cổ của người VN. Chúng ta có câu tục ngữ, "Con dại, cái mang" là vậy!

    Ngày nay, chúng ta thường nghe nói, "Quốc ngữ có 30 chữ cái." hoặc "Bảng chữ cái tiếng Việt"!

    3/ Trong kỹ thuật ấn loát xưa, người ta dùng các mẫu tự latin đúc bằng chì sắp xếp chung với nhau tạo thành câu, rồi thành cột để in sách báo. Những mẫu tự latin (và cả các mẫu tự Thái, Hán, Nga,...) được đúc bằng chì đó, được gọi là "Con Chữ".

    Do đó, "Con Chữ" mang ý nghĩa của một vật cụ thể hơn so với "Mặt Chữ" hoặc "Chữ Cái" trong cách dùng của văn chương tiếng Việt.

    Cảm nhận khác biệt trong cách dùng ba chữ này của anh onetuti được gọi là "Bút Pháp" trong cách hành văn của mỗi thứ ngôn ngữ. Trong văn chương, người ta thường nói, "hắn viết văn cứ giống như người ngoại quốc!" là bởi những điểm tế nhị như thế này!

    4/ Trở lại với câu văn nguyên thủy đã được quoted lại:

    "Bất cứ văn, thi nhân nào cũng trau chuốt lời thơ, con chữ trong thơ văn của mình hết cả."

    Tác giả đã cố gắng chơi chữ theo lối biền ngẫu (tiểu đối) giữa các danh từ "lời thơ" và "con chữ" trong câu.

    Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn thất bại, bởi theo nghĩa đen như tôi đã phân tích và tra tự điển; "con chữ" là chữ cái làm bằng chì trong nhà in theo lối sắp chữ cách nay bốn, năm thập niên rồi!

    Điểm thứ hai, khi phân tích hai danh từ tiểu đối thì một "chữ" vẫn có thể đối chỉnh với một "câu", thì việc gì phải câu nệ với "lời thơ"?

    Thứ ba, nếu muốn đối chỉnh theo ý (chưa kể luật bằng trắc bởi vì chỉ liệt kê) cho chữ "lời thơ" thì phải là "câu văn" để hợp với cấu trúc của cả câu văn được quoted để chặt chẽ hơn.

    Nếu muốn dùng "lời thơ, con chữ" như một sự so sánh lớn nhỏ của các đơn vị lời nói; tôi đề nghị như sau:


    "Bất cứ văn, thi nhân nào cũng trau chuốt từng câu, từng chữ trong thơ văn của mình hết cả."

    Vài điều nông cạn chia sẻ cùng các ACE.
    Last edited by Hàn Sinh; 02-02-2014 at 13:51.

  9. #84
    Join Date
    Oct 27th 2010
    Posts
    7,246
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    606

    Default



    MÀU SON SẮC
    ________________________________
    "Màu son ví thể như là
    Phút giây của những mặn mà đầu tiên"


    Khi biết tình thơ vẫn chứa chan
    Dù buồn vương vấn đến dung nhan
    Thì Xuân cũng vẫn pha màu thắm
    Là màu son sắc chốn dương trần

    Em vẫn đẹp như những ước mơ
    Vẫn còn duyên dáng nét ngây thơ
    Từ trong khao khát niềm xưa cũ
    Lòng vẫn chưa phai nỗi mong chờ

    Những ngày xưa đó như hờn tủi
    Mang gió Đông về cho héo tan
    Bỗng làm nhung nhớ nghe mòn mỏi
    Sắc son rồi cũng sẽ phai tàn

    Là màu son sắc của tình yêu
    Sẽ chẳng riêng ai độ tuổi nào
    Tự thủa tim chàng nghe bỡ ngỡ
    Thì buồn thương đó đã hư hao ...


    Tâm Tiễn


    *


    TÌNH SẮT SON

    ________________________________
    "Sắt son chuyên nhất một lòng
    Yêu anh là chỉ yêu chồng mà thôi"



    Gọn gàng bên những hoa rơi
    Nhịp nhàng quên những lả lơi gọi chào

    Thân em như nhánh hoa đào
    Đua chen sắc thắm khi vào gió Xuân

    Một lòng ấp ủ tình quân
    Một đời son sắt là ngần ấy thôi

    Thương nhau thì sẽ thành đôi
    Giữ gìn là tránh những lời đẩy đưa

    Sắt son không nói câu thừa
    Một lòng một dạ cho vừa lòng anh ...


    Tâm Tiễn


    *



    Quote Originally Posted by thienthanmunau View Post
    Hi Lan Phi và các huynh tỷ đệ muội trong cốc

    Theo sự hiểu biết rất thiển cạn của TTMN .

    Khi Huynh TAMTIEN viết

    Hoa Xuân tươi thắm nhịp nhàng
    SẮC SON muôn vẻ rộn ràng bướm hoa

    SẮC = ĐẸP , SON = TRẺ . SẮC SON là dùng để tả về cái cái ĐẸP hoặc DUYÊN DÁNG

    Còn hai câu sau :

    Anh đi gìn giữ núi non
    SẮT SON một dạ nuôi con chờ chồng

    SẮT = SẮT THÉP , SON = SƠN PHẾT hay TÔ MẦU . SẮT SON là dùng để tả về lòng CHUNG THỦY hoặc TRUNG THÀNH .

    Không biết có đúng hay không ? Mong các Huynh Tỷ Đệ Muội có ý kiến khác xin viết lên để mọi người được học hỏi .

    Thân ái . TTMN

    Thưa các bạn thơ, bác Hàn Sinh, và tất cả bạn đọc !
    Cám ơn Lan Phi đã nêu ý kiến và thắc mắc .

    - Trên đây là hai bài thơ tôi làm cho hai trường hợp : SẮC SON-SON SẮC và SẮT SON-SON SẮT .

    Còn câu thơ này :
    Thương em anh vẫn sắc son lòng

    Quả tình tôi không nhớ là đã làm câu này ở bài nào ! Hay có thể tôi quên chăng ! ... Nếu có thì xin Quý Vị nhắc hộ. (cám ơn)



    Xin cám ơn huynh TTMN đã phân giải giùm những gì tôi muốn nói . Nếu chưa hết ý thì tôi sẽ thêm vào ... :

    By TTMN

    SẮT SON là dùng để tả về lòng CHUNG THỦY hoặc TRUNG THÀNH

    Theo tôi hiểu :

    - SON = Có ba nghĩa chính :

    (1)- mầu hồng, đỏ tươi . (gọi là mầu son)
    (2)- tấm lòng son (lòng chung thủy, nói thế là đủ . Nếu muốn nhấn mạnh về ai đó thì nói : tấm lòng sắt son của ...) .
    (3)- sự tươi trẻ, son trẻ

    - XUÂN = Mùa Xuân, hoa thắm cỏ tươi . Tuổi xuân = thời son trẻ

    - Thời xuân sắc = Những người đi học thường dùng ... (Thường là để diễn tả thời SON TRẺ của một nhân vật nào đó đã được đề cập tới một cách cụ thể và riêng biệt ...)

    - Thời son sắc = Cách dùng đại chúng (chung chung, không nhất thiết là ai - ngoài Bắc) hay nói (và có thể) ít thấy trong văn viết, tuy nhiên không có nghĩa là sai (sẽ giải thích )

    - Lòng son sắc = Lòng chung thủy lúc còn son (trẻ) của tuổi thanh niên ...
    - Lòng son sắt = Chỉ nói về lòng chung thủy, bao gồm mọi lứa tuổi . Không có ý nghĩa về lúc còn son trẻ ...

    NHƯNG KHI NÓI NGƯỢC LẠI :

    - Sắt son = Chỉ sự chung thủy giữa nam và nữ .
    - Sắc son = Tính bền chặt của sự gắn bó giữa mọi người nói chung, bất kể nam nữ, tuồi tác ...

    ĐÓ LÀ Ý NGHĨA CỦA TỪ NGỮ (CÓ THỂ NÓI LÀ CỦA THỜI ... TRƯỚC)

    VÌ GẦN ĐÂY THẾ GIỚI, KỂ CẢ CHÚNG TA, ĐÃ CHẤP NHẬN ĐỒNG TÍNH, LƯỠNG TÍNH, ĐA HỆ ... THÌ Ý NGHĨA CỦA NHỮNG NGÔN TỪ LIÊN QUAN TỚI NHỮNG KHÍA CẠNH TẾ NHỊ NÀY CŨNG CẦN PHẢI ĐƯỢC CHÂM CHƯỚC VÀ HIỂU CHO RỘNG HƠN ĐỂ PHÙ HỢP VỚI THỜI ĐẠI ...


    (Nghĩa là ý nghĩa của SẮC SON - SON SẮC và SẮT SON - SON SẮT cũng phải uyển chuyển xuôi theo tính hệ của mọi giới tinh, do đó :

    - Sắt son = Chỉ sự chung thủy giữa nam và nữ, cùng mọi tính hệ khác nữa
    - Sắc son = Tính bền chặt của sự gắn bó giữa mọi người nói chung, bất kể nam nữ, tuồi tác,
    và tính hệ.



    Dân gian cũng thường nói :

    - Sắc trắng, sắc đỏ, sắc vàng, sắc son (hồng đậm), sắc hồng, sắc đen, sắc tía ...
    và còn có câu ví là : ĐỎ TÍA NHƯ SON ! (Chính tôi cũng tự hòi tại sao đã ĐỎ lại còn TÍA, lại còn như SON !)

    Trong truyện Cô Gái Đồ Long thì TÍA/TỶ Sam Long Vương là ý nói về màu đỏ ...

    Chẳng qua đó cũng chỉ là cách diễn tà cùa dân gian về chữ SON, mà thường là xuất phát từ cửa miệng gọi nôm na là văn nói . Mà đã gọi là văn nói thì MIỄN KHẢ TRANH CHẤP !

    Đỏ là tiếng Việt, Tía có thể là chữ Hán(***) . nếu dân gian ghép với nhau thì ai cấm được mà bảo là sai, mà SAI THEO TIÊU CHUẨN NÀO. SÁCH VỞ ĐÚNG HAY DÂN GIAN ĐÚNG , ĐIỀU ĐÓ CÒN TÙY THEO TỪNG TRƯỜNG HỢP , có khi sách vở viết một đàng mà dân gian lại cứ nói một nẻo ! Sách vở là vật chết, dân gian là người sống thì cái nào sẽ phải theo cái nào ? ...

    Sách là do một người, một nhóm người viết ra . Họ tuy chịu tìm tòi nên thông thạo phần nào, nhưng cũng chỉ là một hay dăm ba cái đầu, làm sao bằng được triệu triêu người trong cả nước ! Họ viết sách trong khoảng 10- 20 năm và không hề được hiệu đính, thêm thắt cho phù hợp với vài trăm năm sống của dân gian mà ta cố căn cứ vào đó làm kim chỉ nam thì sẽ không hợp thời nũa ...

    Tôi không có ý nói rằng bản gốc là sai nhưng cũng không nên căn cứ vảo đó để bắt bàn dân thiên hạ phải dẹp bỏ những biến thiên đã có trong ngôn ngữ hàng ngày mà họ quen dùng .

    Từ điển chỉ nên dùng để tham khảo , phê phán đúng sai thì cũng còn tùy ... Nếu ta chỉ căn cứ vào 1 -2 cuốn tự điển, có cuốn được viết cả trăm năm trước, không hề, hay chưa hề được hiệu đính, THÊM VÀO, rồi nói những biến thiên của thời đại là sai thì hơi ... "quá cứng" !

    Những gì dân gian đã xài quen miệng, đã trở thành nề nếp thì ta PHẢI THÊM VÀO mới gọi là phong phú chứ, nếu dẹp đi thì lấy gì để "phong phú" ! Càng thêm nhiều "tiếng dân gian" vào càng hay, cần gì phải giữ nguyên thủy gốc Hán, Tàu Khựa có gì hay ! (Xin lỗi, tôi đã mang thằng Khựa vào văn chương, thực ra tiếng Hán(***) cũng hay lắm ...)


    Khi tôi nói :

    1)- Sắc son = (1)- màu son, hồng . (2)- màu của lòng chung thủy, 3)- màu của sự tươi trẻ (tùy theo câu thơ).
    - Màu cũng sẽ phai, tình cũng sẽ tan, vì lòng chung thủy không còn, khi nhan sắc phai tàn ... :


    SẮC SON RỒI CŨNG SẼ PHAI TÀN


    2)- Son sắc = (1) son là sự tươi trẻ [ra đường thiếp vẫn còn son] . Sắc là nhan sắc
    Mùa Xuân có màu hoa tươi thắm thì dương gian có nhan sắc trẻ trung, muôn dáng muôn vẻ của giai nhân :

    THÌ XUÂN CŨNG VẪN PHA MÀU THẮM
    LÀ MÀU SON SẮC CHỐN DƯƠNG TRẦN


    TÔI KHÔNG DÙNG từ ngữ XUÂN SẮC - VÌ XUÂN SẮC "THƯỜNG" NHẤN MẠNH ĐẾN THỜI "SON SẮC" CỦA MỘT NHÂN VẬT NÀO ĐÓ ĐÃ ĐƯỢC NHẮC TỚI MỘT CÁCH CỤ THỂ, CHỨ KHÔNG DÙNG CHUNG CHUNG CHO SỐ ĐÔNG MỘT CÁCH MƠ HỒ NHƯ Ý THƠ MUỐN DIỄN TẢ

    Nếu tôi viết :

    LÀ MÀU XUÂN SẮC CHỐN DƯƠNG TRẦN

    Thì câu thơ nghe sẽ rất "cục mịch" (không thanh tao) ! Và không đạt được trọn ý ! Vì XUÂN SẮC là để chỉ về một người nào đó, mà nét thanh xuân chỉ có một thời rồi tàn lụi, và chỉ có một ý. Hơn nữa, phải nói là THỜi xuân sắc, chứ không ai nói là MẦU xuân sắc bao giờ cả ...

    Còn SON SẮC là nói đến sự tươi trẻ của tuổi xuân, nhan sắc của giai nhân, và không nhất thiết phải là ai trên CHỐN DƯƠNG TRẦN ...


    *



    1)- Riêng về bài Tình Sắt Son thì đã rõ nghĩa quá rồi, đây là viết về lòng chung thủy trong tình yêu :

    "Sắt son chuyên nhất một lòng
    Yêu anh là chỉ yêu chồng mà thôi"

    Sắt son không nói câu thừa
    Một lòng một dạ cho vừa lòng anh ...


    2)- Nhưng khi SON SẮT theo sau hai chữ MỘT ĐỜI trong câu thơ sau đây thì chữ SON mang cả BA ý, một là sự chung thùy, hai là nhan sắc trẻ trung, ba là từ lúc mới yêu (son trẻ) cho đến tuổi bạc đầu :

    Một lòng ấp ủ tình quân
    Một đời son sắt là ngần ấy thôi


    Đó là suy nghĩ về ý nghĩa những chữ tôi đã dùng trong hai bài thơ trên . Dĩ nhiên sẽ có sự khác biệt khi có những giải nghĩa khác với điều tôi đã trình bày, và tôi cũng rất vui lòng đón nhận như là sự góp ý từ mọi phía .

    Xin cám ơn tất cả, ...


    Tâm Tiễn
    Xuân Giáp Ngọ
    (Khai bút đầu năm)
    2014


    *
    Last edited by tamtien; 01-02-2016 at 00:57.

  10. #85
    Join Date
    Sep 4th 2010
    Posts
    11
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    0

    Default

    Quote Originally Posted by tamtien View Post

    -Thương em anh vẫn sắc son lòng

    Quả tình tôi không nhớ là đã làm câu này ở bài nào ! Hay có thể tôi quên chăng ! ... Nếu có thì xin Như Thương nhắc hộ . (cám ơn)



    - Thời xuân sắc = những người có học hay dùng .
    - Thời son sắc = dân quê (ngoài Bắc) hay nói và ít được dùng trong văn viết, nhưng cho dù có dùng cũng không có gì sai . (tôi sẽ giải thích sau)

    Ờ vùng chúng tôi vẫn gọi :

    - Sắc trắng, sắc đỏ, sắc vàng, sắc son (hồng đậm), sắc hồng, sắc đen, sắc tía ...
    và còn có câu ví là : ĐỎ TÍA NHƯ SON ! (Chính tôi cũng tự hòi tại sao đã ĐỎ lại còn TÍA, lại còn như SON !)

    Trong truyện Cô Gái Đồ Long thì TÍA/TỶ Sam Long Vương tức là đỏ ...

    Chẳng qua đó cũng chỉ là cách diễn tà cùa dân gian, gọi nôm na là VĂN NÓI .
    Mà đã gọi là văn nói thì MIỄN KHẢ TRANH CHẤP

    Ví dụ :

    Đỏ là tiếng Việt, Tía là chữ Hán . Dân gian ghép với nhau thì ai cấm được mà bảo là sai, mà SAI THEO TIÊU CHUẨN NÀO, SÁCH VỞ ĐÚNG HAY DÂN GIAN ĐÚNG , sách cứ viết mà dân cứ nói thì sao ! ...


    Đó là suy nghĩ về ý nghĩa những chữ tôi đã dùng trong hai bài thơ trên . Dĩ nhiên sẽ có sự khác biệt khi có những giải nghĩa khác với điều tôi đã trình bày, và tôi cũng rất vui lòng đón nhận như là sự góp ý từ mọi phía .


    Xin cám ơn tất cả, ...


    Tâm Tiễn
    Xuân Giáp Ngọ
    (Khai bút đầu năm)
    2014
    Thưa anh Tâm Tiễn, thưa quý ACE;

    Ngữ vựng (vocabularies) tiếng Việt của chúng ta từng vay mượn rất nhiều đơn âm (chữ rời) từ tiếng Hán để dùng. Trong quá trình vay mượn đó, Ông Cha đã ghép thành những chữ Hán-Việt mà ngày nay chúng ta đang dùng.

    Thí dụ, ngay cả chữ "thí-dụ" mà tôi dùng trong câu này cũng là một chữ Hán mà chúng ta dễ nhận ra.

    Ngoài ra, còn có cả những chữ đơn âm (chữ rời) của chữ Hán cũng được Việt hóa. Để rồi, sau này chúng ta dùng mà không hề biết rằng có nguồn gốc Hán tự. Thí dụ các chữ "học", "sách", "sắc", "ngâm (trong chữ "ngâm thơ")... đều có nguồn gốc chữ Hán mà chúng ta vẫn dùng hằng ngày!

    Vì thế trong các thí dụ của anh Tâm Tiễn đưa ra như "Sắc trắng, sắc đỏ, sắc vàng, sắc son (hồng đậm), sắc hồng, sắc đen, sắc tía ..." hoặc ngay cả chữ "ngâm thơ" như tôi vừa kể ra; thì "sắc" và "ngâm" đều đã được Việt hóa và dùng theo cấu trúc tự loại của tiếng Việt, chứ không được xem là một TỪ KÉP/GHÉP Hán-Việt nữa rồi!

    Chúng ta cần phân biệt chữ kép Hán-Việt và chữ kép tiếng Việt như sau:

    Trong chữ kép Hán-Việt; yếu tố tĩnh từ luôn luôn đi trước và danh từ luôn luôn theo sau. Thí dụ, Hoàng Kỳ là lá cờ màu vàng.

    Nhưng ngược lại trong chữ "Sắc vàng" được dùng trong câu "Mây chiều đã ngả (thành) sắc vàng", thì "Sắc" là danh từ lại đi trước, vì sao?

    Lý do, là chữ sắc đó đã được Việt hóa do đó nó không thể theo trật tự của chữ kép/ghép Hán-Việt nữa rồi! Mặt khác, trường hợp này hai chữ đơn âm cũng hoàn toàn độc lập với nhau về mặt tự loại; do đó chúng không còn được xem là một từ ghép để mà cần được gom và giải thích chung với nhau.

    Điều phân tích trên được áp dụng hoàn toàn đúng với chữ "Sắc Son" nếu anh muốn dùng "Sắc" với ý nghĩa đã được Việt hóa!

    Rất hy vọng tôi đã phân tích rõ được khác biệt giữa cấu trúc từ kép trong Hán-Việt và Việt ngữ!

    Đỏ và Tía đều là chữ Nôm (chữ của người Việt). Thật ra, đỏ và tía cũng là hai màu khác nhau; vì "Tía" là màu đỏ đã ngả sang gần với màu tím.

    Bản thân màu đỏ, cũng có nhiều sắc độ khác nhau và người Tàu đã dùng những chữ khác nhau để diễn tả như là Hồng, Đơn/Đan, Chu, Xích.

    Tỷ Sam Long Vương là một cách phiên âm khác của Tử Sam Long Vương (紫衫龍王). Trong đó, chữ Tử/Tỷ có nghĩa là "tím đỏ" gần với màu "tía" của tiếng Việt chứ nó hoàn toàn không có nghĩa là đỏ như anh giải thích, thưa anh Tâm Tiễn!

    Bản thân tôi cũng không dám lạm bàn đến phần "Miễn khả tranh chấp" của anh. Bởi vì, thấy anh viết rằng đang dùng chữ "Sắc Son" cho "thơ viết" chứ không hề dùng cho "thơ nói" bao giờ cả!

    Kính anh.

  11. #86
    Join Date
    Jul 31st 2009
    Posts
    10,953
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    908

    Default

    NT. rất cám ơn tất cả quý ACE đã post lên diễn đàn những kiến thức, những trang sách của mênh mông chữ nghĩa .
    NT. học được nhiều điều rất bổ ích .

    Tóm lại, NT. xin viết :
    * Xuân sắc - chứ không phải là son sắc: Chỉ về sắc đẹp thời thanh xuân
    * Sắt son: Chỉ sự thủy chung

  12. #87
    Join Date
    Oct 27th 2010
    Posts
    7,246
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    606

    Default



    4/ Trở lại với câu văn nguyên thủy đã được quoted lại:

    "Bất cứ văn, thi nhân nào cũng trau chuốt lời thơ, con chữ trong thơ văn của mình hết cả."

    Tác giả đã cố gắng chơi chữ theo lối biền ngẫu (tiểu đối) giữa các danh từ "lời thơ" và "con chữ" trong câu.
    Này bác Hàn Sinh, bác nhận xét 1 nhà thơ mà nói rằng :"Tác giả đã cố gắng chơi chữ"(trong câu này) thì hơi cường điệu đấy, nhưng nếu nói tác giả chú trọng về vần điệu thì tôi đông ý ! Tôi cũng chẳng hiểu "biền ngẫu" là gì, nhưng mở ngoặc là tiểu đối thì tôi sẽ cố gắng hiểu đó là đối nhè nhẹ, chút chút ... Nghĩa là chỉ đối một hai chữ chứ không "Đại đối" cả câu, phải không.

    Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn thất bại, bởi theo nghĩa đen như tôi đã phân tích và tra tự điển; "con chữ" là chữ cái làm bằng chì trong nhà in theo lối sắp chữ cách nay bốn, năm thập niên rồi!

    Nó không hoàn toàn thất bại như lời bác đâu. Bởi theo nghĩa đen như bác nói tôi mới thấy sự thất bại là do chính những tác giả viết tự điển (tôi hiểu tự và từ như nhau dù đã được Bác Minh Cảnh phân rõ nghĩa) và bác là người diễn giải nó .

    Cám ơn bác (thật lòng) là bây giờ tôi mới biết nhà in đã gọi những cục chì là con chữ . Họ gọi như thế là sai, là hiếp dâm chữ nghĩa, (cũng chằng hiểu họ nghĩ ra sao về chữ nghĩa ...)

    Tôi ví dụ nhé :

    Thày giáo viết chữ A trên bảng, hỏi trò Tám chữ này chữ gì ?
    - Thưa Thày chữ A !
    Thấy gần hết giờ, thày viết chữ TAN HỌC hỏi chữ gì ?
    - Thưa Thày chữ tan học ạ !

    Một chữ A cũng là chữ, sáu vần hợp lại thành TAN HỌC cũng là chữ thì sao người thợ in LẠI GỌI CỤC CHÌ LÀ CON CHỮ ! Tác giả viết sách sao lại ĐỊNH NGHĨA "CỤC CHÌ MANG MẪU TỰ" LÀ CON CHỮ ! Còn bác thì nói dùng con chữ để nói về chữ nghĩa là sai vì nó là CỤC CHÌ !

    Lẽ ra họ phải gọi đó là CỤC CHỮ CÁI, CỤC MẪU TỰ... Hay bất cứ là gì đó mà không nên gọi là CON CHỮ . Như thế là sai từ trong căn bản ... Cục chì là cục chì và con chữ là con chữ, hai cái không thể là một. Cho dù nhà in đã vô tình hay cố ý, thì người soạn từ điển cũng phải đủ trình độ nhận thức để không gây ra những sự đáng tiếc về sau, hay ít ra phải dẫn giải thêm ý nghĩa khác về CON CHỮ !


    vì CON CHỮ, CÁI CHỮ...vv... là dùng để nói về chữ nghĩa chứ không phải nói về CỤC CHÌ !


    Tôi tin chắc rằng những người dùng từ ngữ CON CHỮ cho câu thơ, câu văn đều có cùng một nhận thức là khi viết như thế là họ hiểu đúng và dùng đúng nghĩa Tiếng Việt, và không có gì đáng chê trách ! Có chăng (đáng chê trách) là do lỗi lầm của từ điển từ lúc biên soạn và sau đó cũng không được cập nhật ...

    Và một điều hiển nhiên nữa, là không ai nghĩ rằng từ ngữ CON CHỮ lại bị nhà in dùng để ám chỉ những CỤC CHÌ MẪU TỰ ! Có khi chỉ vì sự ngẫu nhiên, tình cờ nào đó, mà một trong số những người thợ in đã "buột miệng" gọi như thế rồi bỗng dưng thành tên ... Nhưng chung qui cũng vẫn là tại người soạn từ điển đã coi nhẹ vấn đề ..., để rồi sau này những người (Tỷ dụ như Hàn Sinh) căn cứ vào đó biện luận cho lập trường của họ và nghĩ rằng đó là chân lý ! (Cho rằng từ điển là đúng và CON CHỮ là CỤC CHÌ MẪU TỰ chứ không phải nói về CHỮ NGHĨA)


    Điểm thứ hai, khi phân tích hai danh từ tiểu đối thì một "chữ" vẫn có thể đối chỉnh với một "câu", thì việc gì phải câu nệ với "lời thơ"?
    Nếu một chữ vẫn có thể "đối chỉnh" với cả câu
    thi sao bác Hàn Sinh không "phán" cho "một chữ" để chúng "em" được lời như cởi ... tấc ... lòng... mà bác lại phải "câu nệ" thay thế cả bốn chữ của người ta thành TỪNG CÂU, TỪNG CHỮ làm chi cho dài dòng thế ...


    Thứ ba, nếu muốn đối chỉnh theo ý (chưa kể luật bằng trắc bởi vì chỉ liệt kê) cho chữ "lời thơ" thì phải là "câu văn" để hợp với cấu trúc của cả câu văn được quoted để chặt chẽ hơn.
    LỜI THƠ và CÂU VĂN đối nhau là không chỉnh, vì lời thơ không phải là văn xuôi. Lời thơ thường ngắn và câu văn thường dài . Lời thơ thường cô đọng còn câu văn lại trải rộng .

    Lời thơ có thể là một chữ, cũng có thể là nhiều chữ hợp lại . Nhưng "câu văn" thường là nhiều chữ ! Nếu không, ai gọi là "câu". Nếu chỉ có một chữ sẽ gọi là "tiếng" !


    Nếu muốn dùng "lời thơ, con chữ" như một sự so sánh lớn nhỏ của các đơn vị lời nói; tôi đề nghị như sau:

    "Bất cứ văn, thi nhân nào cũng trau chuốt từng câu, từng chữ trong thơ văn của mình hết cả."

    Điều tôi không mấy hiểu để có thể cảm thông, chứ chưa nói đến chấp nhận, là tại sao có người lại đề nghị một một người khác bỏ cách hành văn của mình đi để viết lại theo ý họ, mà ý đó cũng không lấy gì làm CHUẨN !


    Mà nếu có thay đổi (để làm gỉ ?) thì tôi nghĩ rằng "may ra" tác giả sẽ để mắt tới một trong những ví dụ của tôi là NGHĨA CHỮ có khi còn "hợp lý" hơn là phải thay đổi cả 4 chữ để thành TỪNG CÂU, TỪNG CHỮ !

    Tôi nắm vững một điều là ở trong diễn đàn này, ít nhất cũng có bốn năm tác giả đã dùng từ ngữ CON CHỮ trong thơ văn của họ, thì họ đã chiếm đa số ...

    Nếu nói theo kiểu ngôn ngữ biến thiên của dân gian thời đại thì ta phải tu chính hoặc thêm vào mấy cuốn từ điển lâu đời kia để cho ngôn ngữ được phong phú chứ nhỉ !

    Vài điều nông cạn chia sẻ cùng các ACE.


    Dầu sao cũng rất cám ơn bác đã chia sẻ, bác Hàn Sinh

    Tâm Tiễn
    Cẩn đề,



    *

    ANH VŨ ÁNH VÀ TÔI

    Nguyễn Khanh




    Nhà báo Vũ Ánh (trái) và Nhà báo Vũ Đình Trọng,
    ảnh chụp năm 2013. Courtesy Việt Báo.




    Nhưng cũng qua câu trả lời đó, tôi mới thấy hình ảnh của một “ông bụt” trong con người của anh. Tất cả những bài anh viết đều không chứa đựng sự chua chát, đều không có nét căm hờn, mà chỉ là những con chữ biểu hiện của sự thật, của con người tôn trọng sự thật và lúc nào cũng ước mơ sẽ nói được sự thật. Điều đó được anh thể hiện rất rõ trong bài nói chuyện anh đọc tháng Sáu năm ngoái nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Tuần Báo Sống, trong đó anh nói ở tuổi đã trên 70, ước mơ của anh vẫn là ước mơ của một nhà báo với cái nhìn trong sáng, mong mỏi đóng góp điều đó cho cộng đồng, “xin quý vị giúp chúng tôi làm tròn công việc của một người cầm bút chỉ mong được nói sự thật”.


    Trên đây là một thí dụ điển hình :
    Trích từ bài post của Đỗ Phương Khanh
    - Một Người Công Chính Đã Ra Đi -
    Hội Nghị Bàn Tròn - QHNM

    Ông Nguyễn Khanh khi viết về Nhà Báo Vũ Ánh
    cũng đã dùng từ ngữ CON CHỮ một cách rất là chính thống ...

    (Tâm Tiễn)



    Tháng Tám, Thầy Tôi, Vũ Đình Tuyến - Du Tử Lê - ( Tuỏng Nhớ - Báo Người Việt)

    . . . . . . .

    Tháng Tám của tôi, với Thành Tôn kể về tình trạng sức khỏe ngày một thêm suy kém của nhà văn Võ Phiến. Tôi im lặng. Như tôi đã im lặng trong gặp lại Thành Tôn, chốc lát, mới đây thôi, ở Tài Bửu.

    Tôi không kể Thành Tôn nghe, một buổi chiều (cũng mới đây thôi), tôi chở T. đi thăm chị Viễn Phố, người bạn đời của tác giả “Bắt trẻ đồng xanh”. Tôi đã im lặng thả mình rơi theo những giọt lệ chắt hoài không cạn, của chị Viễn Phố, lúc chị tiễn chúng tôi rời căn nhà ở thành phố Santa Ana, nơi có những chùm hoa giấy chói, đỏ.

    Tháng Tám của tôi, T. hỏi đọc chưa bài thơ mới của Trần Thị NgH, gửi cho, đánh dấu một năm “đi xa” của Nguyễn Xuân Hoàng.


    Thầy

    Thầy Vũ Đình Tuyến (bên phải) - học trò (nhà thơ Du Tử Lê - bên trái)


    Và, cũng Tháng Tám của tôi, T. hỏi có nhớ Thầy Vũ Đình Tuyến?

    Tôi nói, nhớ chứ. Đó là một trong những người thầy nhân từ, độ lượng nhất mà, tôi được học.

    Tôi nói, Thầy Tuyến không chỉ cho chúng tôi, con chữ, kiến thức. Mà, thầy còn dạy chúng tôi (cách của thầy), về đạo làm người.

    Tháng Tám, trả lời T., tôi kể, chín năm trước, một buổi chiều, khi một nhóm cựu học sinh Trần Lục - Chu Văn An họp mặt tưởng nhớ Nguyễn Kim Tiền, Khang Nguyễn, Tạ Đức Thiện, Nguyễn Hữu Định, ở nhà hàng Royal, trên đường Brookhurst, Garden Grove; bất ngờ, chúng tôi được gặp lại Thầy Tuyến. Người thầy không chỉ cho chúng tôi con chữ, kiến thức mà, thầy còn dạy chúng tôi (cách của thầy), về đạo làm người.

    Dù Tháng Tám của chín năm cũ đã lùi xa, nhưng tôi vẫn nhớ ...


    Một ví dụ khác về từ ngữ CON CHỮ được dùng trong
    bài viết tưởng nhớ Thầy dậy học của nhà thơ Du Tử Lê
    (đăng trên Báo Người Việt)


    Tâm Tiễn


    *
    Last edited by tamtien; 12-13-2015 at 17:11.

  13. #88
    Join Date
    Oct 27th 2010
    Posts
    7,246
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    606

    Default

    Quote Originally Posted by Hàn Sinh View Post
    Thưa anh Tâm Tiễn, thưa quý ACE;

    Ngữ vựng (vocabularies) tiếng Việt của chúng ta từng vay mượn rất nhiều đơn âm (chữ rời) từ tiếng Hán để dùng. Trong quá trình vay mượn đó, Ông Cha đã ghép thành những chữ Hán-Việt mà ngày nay chúng ta đang dùng.

    Thí dụ, ngay cả chữ "thí-dụ" mà tôi dùng trong câu này cũng là một chữ Hán mà chúng ta dễ nhận ra.

    Ngoài ra, còn có cả những chữ đơn âm (chữ rời) của chữ Hán cũng được Việt hóa. Để rồi, sau này chúng ta dùng mà không hề biết rằng có nguồn gốc Hán tự. Thí dụ các chữ "học", "sách", "sắc", "ngâm (trong chữ "ngâm thơ")... đều có nguồn gốc chữ Hán mà chúng ta vẫn dùng hằng ngày!

    Vì thế trong các thí dụ của anh Tâm Tiễn đưa ra như "Sắc trắng, sắc đỏ, sắc vàng, sắc son (hồng đậm), sắc hồng, sắc đen, sắc tía ..." hoặc ngay cả chữ "ngâm thơ" như tôi vừa kể ra; thì "sắc" và "ngâm" đều đã được Việt hóa và dùng theo cấu trúc tự loại của tiếng Việt, chứ không được xem là một TỪ KÉP/GHÉP Hán-Việt nữa rồi!

    Chúng ta cần phân biệt chữ kép Hán-Việt và chữ kép tiếng Việt như sau:

    Trong chữ kép Hán-Việt; yếu tố tĩnh từ luôn luôn đi trước và danh từ luôn luôn theo sau. Thí dụ, Hoàng Kỳ là lá cờ màu vàng.

    Nhưng ngược lại trong chữ "Sắc vàng" được dùng trong câu "Mây chiều đã ngả (thành) sắc vàng", thì "Sắc" là danh từ lại đi trước, vì sao?

    Lý do, là chữ sắc đó đã được Việt hóa do đó nó không thể theo trật tự của chữ kép/ghép Hán-Việt nữa rồi! Mặt khác, trường hợp này hai chữ đơn âm cũng hoàn toàn độc lập với nhau về mặt tự loại; do đó chúng không còn được xem là một từ ghép để mà cần được gom và giải thích chung với nhau.

    Điều phân tích trên được áp dụng hoàn toàn đúng với chữ "Sắc Son" nếu anh muốn dùng "Sắc" với ý nghĩa đã được Việt hóa!

    Rất hy vọng tôi đã phân tích rõ được khác biệt giữa cấu trúc từ kép trong Hán-Việt và Việt ngữ!

    Đỏ và Tía đều là chữ Nôm (chữ của người Việt). Thật ra, đỏ và tía cũng là hai màu khác nhau; vì "Tía" là màu đỏ đã ngả sang gần với màu tím.

    Bản thân màu đỏ, cũng có nhiều sắc độ khác nhau và người Tàu đã dùng những chữ khác nhau để diễn tả như là Hồng, Đơn/Đan, Chu, Xích.

    Tỷ Sam Long Vương là một cách phiên âm khác của Tử Sam Long Vương (紫衫龍王). Trong đó, chữ Tử/Tỷ có nghĩa là "tím đỏ" gần với màu "tía" của tiếng Việt chứ nó hoàn toàn không có nghĩa là đỏ như anh giải thích, thưa anh Tâm Tiễn!

    Bản thân tôi cũng không dám lạm bàn đến phần "Miễn khả tranh chấp" của anh. Bởi vì, thấy anh viết rằng đang dùng chữ "Sắc Son" cho "thơ viết" chứ không hề dùng cho "thơ nói" bao giờ cả!

    Kính anh.

    Bác Hàn Sinh nhã giám,

    Qua những điều bác viết thì tôi nghĩ may ra tôi được cái vinh dự là người "cùng thời" với bác . Tuy nhiên, nói về sở học thì chắc là bác hơn tôi vì bác học từ sách vở, còn những gì tôi hấp thụ phần lớn là ở dân gian ...

    Vì thế những điều bác nói có thể coi như thuộc về "lý thuyết" còn sự phân giải của tôi là ở "thực hành". Bác thì phân tích tới lui, chứng minh này nọ chỉ cốt ý cho thấy trên thế gian này không hề có từ ngữ SON SẮC hay SẮC SON gì đó, còn nếu có người dùng thì đó là thứ tiếng Việt "ba rọi", và vì không có, không đúng nên không thể là một từ ngữ kép để muốn đảo lộn ra sao thì đảo, phải không !

    Tôi nói dài dòng vậy để mọi người hiểu rõ hơn là bác muốn nói gì . Và nói để bác biết là nếu bác chưa "ra ngoài" nhiều chứ thiên hạ dùng hai chữ đó hà rầm mà ... Dưới đây là một vài thí dụ, chỉ là không muốn phí thời gian để lục tìm thôi :

    By Iris Vinh Hayes - XIN ĐỪNG TRÁNH XA CHÍNH TRỊ - Dân Luận

    ... Như tôi đã từng nói trong bài Bát Chánh Kiến Cho 1001 Ghonim Của VN: Chỉ có tình thương lớn mới chuyển hóa được tâm thức con người và đưa cá nhân, chủng tộc, nhân loại vượt lên trên mọi dị biệt để hình thành một môi trường sống dung nạp hơn, phồn thịnh hơn, nhân bản hơn và an ninh hơn. Hãy dùng chính cái sức mạnh chúng ta có được mà họ không có để thắng. Họ có sức mạnh của bạo lực, chúng ta có sức mạnh của biển người phản kháng bất bạo động. Họ độc tài chuyên chế, chúng ta biểu dương dân chủ tự do. Họ khinh bạc nhân dân, chúng ta có lòng thành kính thể hiện qua sự tôn trọng nhân quyền và dân quyền. Họ tàn nhẫn với dân đen, chúng ta có lòng từ mẫn thể hiện qua sự quan tâm và tương trợ.

    Họ chà đạp sĩ phu và trí thức, chúng ta tôn trọng lắng nghe dù là tiếng nói đối lập. Họ bán nước cầu vinh, chúng ta sắc son với tiền nhân giữ nước và dựng nước. Họ bịt mắt thiên hạ, chúng ta có thông tin và sự thật. Họ có ĐCSVN, chúng ta có toàn dân trong đó bao gồm cả cảnh sát, quân đội và CNV của bộ máy hành chánh. Họ có được ngọn roi của kẻ cầm quyền, chúng ta có được áo giáp lương tâm và nhiệt tình của toàn nhân loại trên thế giới. Họ sử dụng cương thi XHCN để tiếp tục phủ bóng tối lên đất nước, chúng ta mang quang huy của mặt trời chân lý “sống như con người” chiếu sáng khắp hang cùng ngõ hẹp. Họ chỉ có một kết quả duy nhất là phải đầu hàng trước sức mạnh của toàn dân, chúng ta có một chọn lựa đúng đắn là sẽ ôm vào vòng tay tất cả những người đã qui phục trước sức mạnh của dân. Họ chắc chắn sẽ tan rã, chúng ta chắc chắn sẽ có 1001 Ghonim của Việt Nam bước ra từ dân để hoàn thành ý nguyện của dân thứ ý nguyện đơn giản mà thiêng liêng: MỌI NGƯỜI ĐỀU ĐƯỢC SỐNG NHƯ MỘT CON NGƯỜI.





    GIỮA SINH TỬ ĐÃ
    VĨNH HẰNG THANH DANH

    _____________________________________
    Luân Hoán
    (Tưởng niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng)
    Tuần Báo SỐNG




    Cố tình mượn thể ca dao
    Tiễn người chưa gặp lần nào buồn tênh
    Chưa quen nhưng quá thuộc tên
    Gần như thân thiết anh em bạn bè

    Nhiều lần đã lắng lòng nghe
    Tâm tình anh trải mái che hiên đời
    Khi chải chuốt trang trọng lời
    Khi hồn nhiên thở cùng người bình dân

    Lời nào cũng từ nội tâm
    Đính lên cánh nhạc bang khuâng mặn nồng
    Tình thơm ngọn núi dòng sông
    Tình cho trai gái mượn bồng nựng nhau

    Niềm vui hòa nhịp nỗi đau
    Âm giai âm điệu theo nhau sống còn
    Hồn nhạc giữ tuổi sắc son
    Thời gian nhất định giờ chôn nhân tài

    Cầm lòng không dám thở dài
    Vẫn nghe nhoi nhói trong ngoài xác thân
    Nỗi gì như thể bâng khuâng
    Tiếng gió như chợt thổi lồng vô tim

    Tôi ngồi im ngồi lim dim
    Ngón tay trên phím chữ tìm đến thơ
    Mượn ngọn đèn lúc nửa giờ
    Thắp hương tiễn biệt hồn tơ đồng chìm

    Anh đi thanh thoát cánh chim
    Tôi chờ đi xốn nhịp tim bồi hồi
    Đêm đang gió đẩy mưa rơi
    Nhắm mắt tôi thấy trên trời bóng anh

    Anh Bằng chừ thật thăng bằng
    Giữa sinh tử đã vĩnh hằng thanh


    Luân Hoán
    12 giờ 31, khuya 13-11-2015
    Trời đang mưa




    *




    - Cốc Thơ QHNM
    (tamtien)



    CHIẾC ÁO PHONG SƯƠNG


    Thương anh áo trận bạc màu
    Làm người yêu Lính nguyện cầu ơn trên
    Chiến trường anh được bình yên
    Hậu phương em một lời nguyền yêu anh

    Cũng vì chiến cuộc phân tranh
    Bỏ quê bỏ nước đoạn đành ra đi
    Em chưa về lại từ khi
    Biết anh cũng vẫn gan lì đấu tranh

    Trời chia đôi ngã thôi đành
    Em thề sẽ giữ tình anh suốt đời
    Núi sông còn lúc đổi dời
    Thể nào cũng có ngày vui chúng mình

    Tạ ơn chiếc áo đăng trình
    Cho em được giữ lòng mình sắc son

    Miên Thụy
    Sept 22, 2013


    *



    (Những Bài Thơ Tháng Tư)
    tamtien




    THƠ QUÁCH THOẠI


    *

    Quách Thoại tên thật là Đoàn Thoại, sinh năm 1929 tại Huế.
    Năm 1948 Ông vô Sàigòn
    cộng tác với các báo Đoàn Kết, Làm Dân... Nguồn Sống ... Việt Chính, Sáng Tạo ...
    Ngày 07 Tháng 11 năm 1957 Ông từ trần ... vì bệnh lao tại BV Hồng Bàng.


    TRĂNG THIẾU PHỤ
    _______________________________


    Đã mấy đêm trường tôi không ngủ
    Nằm thao thức nhớ mảnh trăng thu
    Đã biết bao lần tôi tự nhủ
    Rằng cho tôi chết giữa âm u

    Cớ sao trăng sáng ngoài kia nhỉ
    Làm động tình tôi giữa buổi đêm
    Tôi nhắm mắt nằm không dám nghĩ
    Sợ nhìn trăng lạnh rớt bên thềm

    Tôi muốn phòng tôi luôn mãi tối
    Xin trăng đừng chiếu lướt qua song
    Tôi muốn hồn tôi chìm lạc lối
    Cho tàn chết hết cả hoài mong

    Cơ khổ cho tôi còn nuối mộng
    Làm đau chăn gối giữa êm thu
    Chỉ tội hồn tôi thêm náo động
    Mà thương mà sợ mảnh trăng lu

    Tôi sợ ngày mai trời sẽ sáng
    Trăng thu mơ mộng sẽ không còn
    Tôi gặp một người người đã bán
    Cả mùa xuân đẹp thuở sắc son

    Chao ơi trăng hỡi trăng thu đẹp
    Trăng của lòng tôi hay của ai
    Tôi mở hồn thơ thôi khó khép
    Gửi cả lên trăng tiếng thở dài

    Và cho tôi ngủ cho tôi ngủ
    Thao thức làm chi mãi thế này
    Trăng tội tình chi mà ấp ủ
    Mảnh lòng thi sĩ quá thơ ngây

    Bởi đâu lệ nhỏ lăn trên gối
    Tôi thấy cô đơn lạnh lắm rồi
    Tôi biết đời tôi e hấp hối
    Mà trăng thì sáng tận trên đồi

    Không người thiếu phụ đứng bên tôi


    Quách Thoại

    *




    Bác nói rằng cha ông chúng ta đã "vay mượn" chữ Tầu, tôi thì lại nghĩ hơi khác là chúng ta chẳng có vay mượn gì ráo trọi, mà đó cũng là một trong những chiến lợi phẩm mà ta có được qua những thời kỳ bắc thuộc dù là sự chiếm hữu này rất khiêm nhượng và đau thương ...

    Nhưng chuyện "vay mượn" này lại khiến tôi nghĩ đến một điều là cha ông chúng ta "vay mượn" thì bác và một số người "từ chương" vẫn còn muốn bảo tồn nó (nghĩa là muốn thiên hạ phải xài cho đúng phép tắc, qui luật) còn những từ ngữ khác tùy thời phát sinh trong dân gian, cũng là của cha ông ta cải biến đi vì nhiều lý do thì lại bị cho là "ba rọi" . Như thế thì là "câu nệ" hay vẫn còn vọng ngoại . Đã có nhiều chữ mà cha ông ta cải sửa để biến đổi cả nghĩa rồi kia mà . [Xin coi : Từ Hán Việt - Những Khía Cạnh Việt Hóa . Bài viết của Võ Ngân Vương . ( trong mục "Khai Trừ Hán Việt Ra Khỏi Việt Ngữ" - Phòng TVMY)]

    Ý tôi chỉ muốn nói là sách vở PHẢI tùy thời bổ túc theo lòng người, nghĩa là theo cách dùng của đại chúng . Nếu thiên hạ đã dùng nhiều thì tự động phải thêm nó vào chứ không thể nói là "ba rọi" không được dùng . Rồi chứng minh lung tung . Dân chúng sẽ không có thời gian tra tự điển trước khi nói đâu !

    Dĩ nhiên là ta luôn phải tham khảo tự điển, cho dù là 5-6 cuốn của 5-6 tác giả đều không có từ ngữ mà ta muốn tra cứu thì cũng không nên vội kết luận những chữ đó là tiếng "ba rọi" :
    By Hàn Sinh -
    Trong khi đó, một chữ khác là "Nông Nổi" lại được ít dùng hơn với nghĩa của một tĩnh từ nói đến tính tình, suy nghĩ nông cạn của một con người:

    - Với suy nghĩ Nông Nổi của nó, đọc dăm cuốn sách là đã thành nhà bác học rồi!

    Gọi là được dùng ít hơn, nhưng chữ "Nông Nổi" này cũng khá phổ biến tuy không thấy ghi trong các từ điển, tôi không rõ tại sao?
    Như thế thì bác Hàn Sinh cho rằng từ ngữ "Nông Nổi" bác xài thì không sao !
    Còn tôi xài chữ "Sắc Son" thì là thứ Tiếng Việt "ba rọi" .

    MẶC DÙ CẢ HAI ĐỀU KHÔNG CÓ TRONG TỪ ĐIỂN ! ...



    By Hansinh
    Chào Sis Nhu Thuong và các ACE,

    Theo HS biết và cũng vừa tra từ điển của Khai Trí Tiến Đức, Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ, Nguyễn Văn Khôn... xong; hoàn toàn chúng ta không có chữ "Son Sắc" hoặc "Thời Son Sắc".

    Có lẽ, Sis đã nhầm với "Thời Xuân Sắc" hay chăng? Bởi vì "Sắc" theo các nghĩa "nhan sắc" và "màu sắc" đều là tiếng Hán. Ông bà chúng ta đã không hề dùng một chữ Hán để ghép với một chữ Nôm (Son = non, trẻ). Do đó, các chữ "Son Sắc" và "Sắc Son" thật ra phải nói là hoàn toàn không có nghĩa. Bởi tính chất "ba rọi" ghép từ một chữ Hán và một chữ Nôm. Trong khi "Son Sắt" là từ ghép do hai chữ Nôm hoàn toàn đó Sis!


    Xin vui lòng tham khảo đoạn dưới đây của Tác Giả Võ Ngân Vương để xem có phải là :Ông bà chúng ta đã không hề dùng một chữ Hán để ghép với một chữ Nôm hay không nhé !



    By Võ Ngân Vương

    Từ Hán - Việt có nhiều thay đổi về mặt kết cấu nếu so với từ gốc Hán. Dễ thấy nhất là xu hướng rút gọn hàng loạt từ ghép thành từ đơn: văn (văn chương, văn học), chế (chế biến, chế tạo), lệnh (mệnh lệnh), đảm (đảm đương), hạn (kỳ hạn), hỗn (hỗn hào), điệu (yểu điệu), nghiệt (khắc nghiệt), v.v. Đã rút gọn thế rồi, người Việt lại phát triển thành từ ghép Việt Nam theo công thức: từ Việt + từ Hán. Theo đó, biết bao từ mới xuất hiện như: cảm mến, bao gồm, bày biện, bình bầu, biến đổi, bồi đắp, kỳ lạ, sống động...

    (Từ ngữ Hán-Việt - những khía cạnh Việt hóa - Võ Ngân Vương - Google)





    Một tác giả làm sao có thể tham thấu hết được các từ ngữ địa phương đang dùng ở khắp nơi trong nước ! Đã bao lâu rồi họ chưa bổ túc sách vở của họ ! Nếu chỉ căn cứ vào đó để nhận định thì sẽ không chính xác . Cả trăm vùng, triệu triệu người, ngôn ngữ ngày nào cũng dùng thì sẽ có phát triển, nẩy sinh từ ngữ mới . Nhiều khi sách vở cũng không sao cập nhật hết được thì đó không phải là lỗi của ngôn ngữ .



    By Han sinh
    Tuy nhiên, cho đến nay tôi chưa hề biết đến trong tiếng Việt chúng ta có chữ "Sắc Son" như một từ kép/ghép bao giờ. Trong số các từ điển Hán-Việt và tự/từ điển Việt ngữ tôi đang có trong nhà; đã không có cuốn nào ghi nhận và giải thích chữ "Sắc Son" như một từ kép/ghép.

    Trong trường hợp anh Tâm Tiễn muốn dùng chữ "Sắc Son" như một chữ mới theo nghĩa riêng của mình cũng không có gì là sai, nếu anh ghi chú nghĩa mới đó của anh. Sau đó, có thể chữ mới này được chấp nhận và phổ biến với nghĩa của nó để cùng đi song song với chữ "Sắt Son" hoặc sẽ bị đào thải theo quy luật của ngôn ngữ!...
    Trong kho chữ của chúng ta còn rất nhiều tiếng chưa được khai sáng, chẳng lẽ mỗi khi có người bổ nghĩa cho một chữ mới (đã nằm sẵn trong kho) lại phải công bố thiên hạ thì mới được chấp nhận hay sao ! (Nếu chúng ta có sẵn một BAN TU THƯ thì chính những vị này lại phải họp bàn để từng thời từng lúc bổ nghĩa mà khai sáng những từ ngữ chưa có nghĩa rồi đưa vào Tự Điển, thì đâu cần phải bàn . Có thể vì nước ta còn nghèo, nên bộ Giáo Dục không có ngân khoản dành cho những việc làm như thế ...).

    Trường hợp ở đây, khi hành văn :

    Ngoại trừ chữ nào hiểu không nổi, tác giả mới phải chua nghĩa để người đọc tường lãm.
    Còn những chữ có thể hiểu được thì người viết không cần PHẢI CHUA NGHĨA ĐỂ ĐƯỢC CÔNG NHẬN ...
    Chuyện biến thiên và đào thải sẽ do thời gian gạn lọc . Là điều dĩ nhiên ! ...

    SẮC SON - SON SẮC mà lại bảo là vô nghĩa thì đã không rành CHỮ QUỐC NGỮ mất rồi ! (Xin coi chú thích nơi cuối bài)


    Trừ phi không thể viết ra thành chữ thì mới không phải là tiếng Việt, còn hễ đã viết ra thành chữ tất phải có nghĩa [(*)Xin coi chú thích nơi cuối bài], thì căn cứ vô đâu để nói từ ngữ SON SẮC, SẮC SON là tiếng "ba rọi" và "hoàn toàn không có nghĩa" !

    (NẾU) Cha Ông chúng ta không ghép tiếng Việt với chữ GỐC Hán để lập thành một từ ngữ kép (có chắc không ?) thì chúng ta cũng không thể làm thế hay sao ? Trong tiến trình phát triển của ngôn ngữ ai cản được điều này ? Như thế Việt - Hán, Hán - Việt nghĩa là gì ? Có phải là nửa Hán nửa Việt hay không ? ...[Xin coi dẫn chứng nơi cuối bài (**)]

    Người Tầu muốn đồng hóa chúng ta mà không làm nổi, tại sao ta phải tự nguyện ép mình vào NGUỒN GỐC HÁN VIỆT (***) để phải hiểu theo cái "qui luật" của họ thì mới là uyên bác ! ...


    Hán Việt, Việt Hán chỉ là nhất thời, đã qua rồi, (nhưng ta sẽ duy trỉ chứ không hủy bỏ) Tiếng Việt thuần túy mới là vạn đại ... Trong tiến trình phát triển tiếng Việt, nếu xã hội phát sinh một hay nhiều chữ mới, qua những biến thiên (đàm thoại,gạn lọc, đào thải ...) thì đó là Tiếng Việt thuần túy . Nó không còn, cần phải nói rằng, đã được tra khảo từ thứ Tiếng Hán nảo cả, và cũng sẽ không liệt kê nó là Hán Việt hán vung gì sất cả ! Càng không thể nói nó là thứ tiếng "ba rọi" một cách tùy tiện, ngây ngô như thế .

    Vấn đề tự loại và văn phạm sẽ tự nó thích nghi với cách nói của quảng đại quần chúng, từ đó, các giáo sư giảng dậy về văn phạm, những nhà nghiên cứu về ngữ pháp để viết sách, hay nhà soạn từ điển, sẽ căn cứ theo sao cho phù hợp . Nghĩa là phải theo cách dùng của dân gian mà hiệu đính lại sách vở, cùng sự giảng dậy nơi học đường, chứ không phải là : PHẢI CĂN CỨ VÀO NGUỒN GỐC HÁN VIỆT rồi bảo rằng PHẢI THẾ NÀY - PHẢI THẾ KIA !


    LUẬT THÌ DĨ NHIÊN CẦN PHẢI CÓ - NHƯNG CHỈ NÊN HƯỜNG ĐẾN SỰ CỞI MỞ - CHỨ KHÔNG NÊN THẮT CHẶT - TẠI SAO MÌNH CỨ PHẢI TỰ LÀM KHÓ CHÍNH MÌNH VÀ NGƯỜI KHÁC !



    by Han sinh
    Chúng ta cần phân biệt chữ kép Hán-Việt và chữ kép tiếng Việt như sau:

    Trong chữ kép Hán-Việt; yếu tố tĩnh từ luôn luôn đi trước và danh từ luôn luôn theo sau. Thí dụ, Hoàng Kỳ là lá cờ màu vàng.

    Nhưng ngược lại trong chữ "Sắc vàng" được dùng trong câu "Mây chiều đã ngả (thành) sắc vàng", thì "Sắc" là danh từ lại đi trước, vì sao?

    Lý do, là chữ sắc đó đã được Việt hóa do đó nó không thể theo trật tự của chữ kép/ghép Hán-Việt nữa rồi! Mặt khác, trường hợp này hai chữ đơn âm cũng hoàn toàn độc lập với nhau về mặt tự loại; do đó chúng không còn được xem là một từ ghép để mà cần được gom và giải thích chung với nhau.

    Điều phân tích trên được áp dụng hoàn toàn đúng với chữ "Sắc Son" nếu anh muốn dùng "Sắc" với ý nghĩa đã được Việt hóa!

    Rất hy vọng tôi đã phân tích rõ được khác biệt giữa cấu trúc từ kép trong Hán-Việt và Việt ngữ!

    Về văn xuôi tôi không dám lạm bàn vì chưa từng viết lách gì, nhưng với thơ thì tôi cũng đam mê đôi chút, nên cũng xin thưa với bác rằng khi làm thơ, chúng tôi được phép "xếp" chữ vào bất kỳ vị trí nào trong câu, miễn là người đọc hiểu dù lờ mờ rằng chẳng biết có đúng hay không

    Vì thế khi tôi viết : SẮC SON, SON SẮC thì nên hiểu theo nghĩa rộng . Vì đó là Tiếng Việt chính thống, và cũng mong đừng thắc mắc rằng chữ đó thuộc tự loại gì, đơn hay kép, phải giữ vị trí nào trong câu ! Chỉ cần hiểu đúng nghĩa của nó là được. , cũng xin đừng lấy VĂN PHẠM ra để hạch tội một câu thơ vì nó được miễn nhiều thứ LUẬT !


    Còn thơ của tôi, khi bác đọc mà mím môi thì là thơ viết, còn khi bác ngâm ra tiếng thì là thơ nói ! ...


    Xin bác nhận lời chúc đầu năm của tôi nhé ! ...




    CÒN VỀ CHUYỆN AI "VAY MƯỢN" CỦA AI THÌ XIN THAM KHẢO PHẦN DƯỚI ĐÂY :

    (TRÍCH DẪN TỪ WICKIPEDIA)


    BÁCH VIỆT


    Dòng di cư của người Hán và chiếm đất[sửa mã nguồn]



    Kiếm bằng đồng xanh có hình đầu người Lạc Việt
    Từ thế kỷ 9 trước Công nguyên, hai nhóm Việt ở phía Bắc, Câu Ngô và Ư Việt, bị ảnh hưởng ngày càng nhiều bởi láng giềng Trung Hoa (Người Hán) ở phía Bắc. Hai nước này, một nước có lãnh thổ ở phía Nam Giang Tô, nước kia ở vùng Bắc Chiết Giang. Giới quý tộc lãnh đạo học chữ Hán, tiếp nhận các thể chế chính trị và kỹ thuật quân sự Trung Hoa. Người ta đã cho rằng sự thay đổi về văn hóa này là do tể tướng nước Ngô là Ngô Thái Bá (吳太伯) - một vương tử của nhà Chu đã chạy về phía Nam lánh nạn. Vùng đất đầm lầy ở phía Nam đã mang lại cho Câu Ngô và Ư Việt những đặc điểm độc đáo. Họ không chú trọng vào làm ruộng mà dựa nhiều hơn vào nghề thủy sản (aquaculture). Giao thông đường thủy có tầm quan trọng lớn ở phía Nam, do đó hai nước này đã tiến lên trình độ cao về kỹ thuật đóng tàu thuyền và kỹ thuật thủy chiến. Họ còn nổi tiếng với những thanh bảo kiếm.

    Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, hai nước này, bấy giờ có tên là Ngô và Việt, đã tham gia ngày càng sâu vào chính trị Trung Hoa. Năm 512 TCN, Ngô đánh Sở - nước lớn nhất ở miền Trung sông Dương Tử. Một chiến dịch tương tự đã diễn ra vào năm 506, lần này Ngô chiếm được kinh đô của Sở - thành Dĩnh (郢). Cũng năm đó, chiến tranh nổ ra giữa Ngô và Việt và tiếp diễn thêm 3 thập kỷ nữa. Năm 473 TCN, Việt Vương Câu Tiễn (雒句踐 - Lạc Câu Tiễn) cuối cùng đã đánh bại nước Ngô và được các nước phía Bắc là Tề và Tấn (晉) công nhận. Năm 333 TCN, đến lượt Việt bị Sở diệt.

    Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, vùng đất của Bách Việt bị nhập vào đế quốc Trung Hoa. Quân Tần còn tiến xa hơn về phía Nam dọc theo sông Tương (湘江) tới vùng đất nay là Quảng Đông và thiết lập các quận dọc theo các tuyến giao thông chính. Trong suốt thời nhà Hán, có hai nhóm Việt được nhắc đến, đó là Nam Việt ở phía cực Nam, sống chủ yếu tại các vùng Quảng Đông, Quảng Tây, và Việt Nam; và nhóm Mân Việt ở phía Đông Bắc, tập trung tại sông Mân Giang (閩江) ở vùng Phúc Kiến ngày nay.

    Quá trình Hán hóa các dân tộc này được thực hiện bởi sự kết hợp giữa sức mạnh quân sự đế quốc và định cư của người Hán. Các khó khăn về vận tải và thủy thổ phương Nam đã làm cho việc chiếm đất và cuối cùng là đồng hóa các dân tộc Việt diễn ra một cách chậm chạp. Khi người Hán đến tiếp cận với các dân tộc Việt địa phương, họ thường giành lấy quyền kiểm soát lãnh thổ hoặc khuất phục dân địa phương bằng bạo lực. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa vào năm 40, tướng Mã Viện của nhà Hán đã đem một lực lượng gồm 10.000 quân đến đánh dẹp. Trong khoảng từ năm 100 đến 184 đã có không dưới 7 cuộc nổi dậy bằng quân sự, nhà Hán đã thường phải dùng đến các hoạt động phòng vệ mạnh.

    Khi dân nhập cư người Hán tăng dần, các tộc Việt dần dần bị buộc phải chuyển đến những vùng đất xấu hơn ở khu vực miền núi. Tuy nhiên, không giống với các dân tộc du mục ở miền Trung Á, chẳng hạn người Hung Nô hoặc người Tiên Ti (鮮卑), các dân tộc Việt chưa bao giờ là mối đe dọa lớn đối với sự bành trướng hay quyền kiểm soát của người Hán. Đôi khi, họ thực hiện các cuộc tấn công quy mô nhỏ vào vùng định cư của người Hán - các nhà sử học truyền thống của Trung Quốc gọi đây là "các cuộc nổi loạn". Về phần mình, người Hán coi các dân tộc Việt là những tộc người rất kém văn minh và có xu hướng gây chiến lẫn nhau.

    Tuy nhiên, dưới đời nhà Tần và nhà Hán, các tộc Bách Việt vẫn cư ngụ ở vùng đất cũ của họ với các tổ chức xã hội và chính trị của riêng họ, sự cai trị của chính quyền người Hán chỉ là trên danh nghĩa. Từ thế kỉ 4, khi Trung Quốc bắt đầu bị các tộc du mục phương Bắc đánh chiếm - những người đã chiếm được toàn bộ vùng Bắc Trung Quốc và thiết lập Ngũ Hồ thập lục quốc và Bắc triều, chiến tranh đã gây ra những đợt lớn dân di cư từ phía Bắc về đổ về Nam Trung Quốc. Điều này đã tăng tốc quá trình Hán hóa(Giao thoa văn hóa giữa người Việt và người Hán) ở vùng Nam Trung Quốc, dân cư địa phương đã dần dần bị nhập vào văn hóa Hán hoặc phải rời đi nơi khác. Theo thời gian, từ "Bách Việt" đã không còn được sử liệu của Trung Quốc nhắc đến. Phần nhiều các tộc Việt đã bị Hán hóa và đồng nhất với người Hán (Hoặc nói cách khác, người Hán di cư làm phong phú thêm văn hóa Việt phía nam Trung Hoa). Một số trở thành tổ tiên của các dân tộc thiểu số như người Cao Sơn (高山族-Cao Sơn tộc) ở Đài Loan, người Tráng, người Bố Y (布依族), người Đồng (侗族), người Hỏa (水族) ở miền Nam Trung Quốc.

    Trong khi hầu hết các dân tộc Việt cuối cùng đã bị đồng hóa vào nền văn hóa Hán, người Việt Nam, hậu duệ của nhóm Lạc Việt, đã giữ được bản sắc dân tộc của mình và cuối cùng đã thoát khỏi sự thống trị của Trung Hoa vào thế kỷ 10.[9]

    Di sản của Bách Việt[sửa mã nguồn]

    Sự sụp đổ của nhà Hán và giai đoạn phân chia sau đó là đẩy nhanh quá trình Hán hóa. Các giai đoạn bất ổn và chiến tranh ở vùng phía bắc Trung Quốc, như là Nam Bắc triều và trong thời nhà Tống đã dẫn đến nhiều cuộc di dân lớn của người Hán. Hôn nhân giữa các sắc tộc và giao tiếp giữa các nền văn hóa đã dẫn đến sự pha trộn của người Hán và các dân tộc khác ở phía nam. Vào thời nhà Đường, từ "Việt" đã gần như trở thành một địa danh hơn là một từ mang tính văn hóa. Chẳng hạn, trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, một nước tại vùng ngày nay là tỉnh Chiết Giang đã dùng tên nước là Ngô Việt. Cũng giống như vậy, từ "Việt" trong "Việt Nam" có gốc từ chữ "Việt" (越) này.

    Ảnh hưởng của văn hóa Việt đối với văn hóa Trung Hoa chưa được người Hán khẳng định một cách chính thức, nhưng rõ ràng ảnh hưởng đó là đáng kể. Các ngôn ngữ của những quốc gia cổ như Ngô và Việt đã hình thành nền tảng cho tiếng Ngô hiện đại (吳語 - Ngô văn) và ở một mức độ nào đó cũng là nền tảng cho tiếng Mân (閩方言) - các ngôn ngữ của vùng Phúc Kiến. Các nhà nhân học ngôn ngữ cũng đã khẳng định rằng một số lượng lớn các từ trong tiếng Trung Quốc có nguồn gốc từ các từ Việt cổ. Một ví dụ là từ "giang" (江), nghĩa là "sông". Các con sông ở phía Bắc Trung Quốc đều được gọi là "hà" (河), trong khi các con sông ở phía Nam Trung Quốc được gọi là "giang" (江). Dấu vết của ngôn ngữ Việt, đặc biệt là cấu trúc "tính từ đi sau danh từ" (ngược lại với tiếng Trung Quốc) vẫn còn lại trong các tác phẩm văn thơ kinh điển của Trung Quốc như Kinh Thi[10], và trong tên gọi của các vị thần/vương truyền thuyết mà người Trung Quốc coi là của họ như Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Khốc [11].

    Ở một mức độ nào đó, một số dấu vết còn lại của các dân tộc Việt và văn hóa của họ còn có thể được thấy trong một số dân tộc thiểu số ở Trung Quốc, đặc biệt là người Tráng, và nhiều dân tộc ở Việt Nam.

    Một số học giả cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn minh Thần Nông ở phía Nam sông Dương Tử (nghĩa là thuộc vùng đất Bách Việt). Có người còn khẳng định cụ thể hơn rằng đây là sản phẩm của người Âu Việt và Lạc Việt[12][13][14][15][16], với các lập luận chẳng hạn như: có thể thấy các khái niệm Kinh Dịch được mã hóa trên các họa tiết trống đồng; một số tên quẻ cũng như diễn giải quẻ của người Trung Quốc từ xưa tới nay đôi khi còn rất mơ hồ...

    Cách dùng hiện đại[sửa mã nguồn]

    Trong tiếng Trung Quốc hiện đại, các chữ "越" và "粵" là khác nhau. Chữ thứ nhất thường được dùng để chỉ vùng đất nguyên thủy của Vương quốc Việt, một khu vực phía bắc của Chiết Giang và Thượng Hải, đặc biệt là các khu vực xung quanh Thiệu Hưng và Ninh Ba. Hát tuồng Chiết Giang, chẳng hạn, được gọi là "Việt kịch" (越劇). Chữ "越" cũng được dùng để chỉ Việt Nam (越南). Chữ thứ hai "粵" (yuè) được dùng làm tên gọi tắt của tỉnh Quảng Đông. Tiếng Quảng Đông, được sử dụng tại Quảng Đông, Quảng Tây, Hồng Kông, Macau và trong nhiều cộng đồng Hoa kiều ở các nước trên thế giới, còn được gọi là "Việt ngữ" (粵語).

    Trong chữ Hán-Nôm mà người Việt Nam sử dụng, chữ "越" cũng được dùng trong tên Việt Nam - "越南".

    Qua những dẫn giải bên trên, người đọc sẽ kết luận như thế nào !

    TA VAY MƯỢN CỦA TÀU

    HAY LÀ TÀU VAY MƯỢN CỦA TA !

    HAY LÀ PHẢI VAY MƯỢN LẪN NHAU - ĐỂ HIỂU NHAU - MÀ DỄ BỀ TRAO ĐỔI ...



    Xin để tùy nghi,
    TT.


    *




    CHÚ THÍCH : (*)
    __________________________

    - Ai cũng biết là ý nghĩa của mỗi chữ trong Tiếng Việt được hiểu theo cách ĐỔI DẤU. Cùng một chữ nhưng khác dấu sẽ khác nghĩa :

    1)-
    - HÁ = há miệng ra ...
    - HÀ = hà hơi ...
    - HẢ = hả dạ ...
    - HÃ = chưa có nghĩa vì chưa ai xài tới . Nhưng sẽ dùng với HÃN MÃ, HÃNG XƯỞNG, HÃNH DIỆN ...
    - HẠ = hạ huyệt
    - HA = tiếng cười : Ha ha ha !

    2)-
    - NGHĨA = nghĩa địa ...
    - NGHÍA = ngắm nghía ...
    - NGHÌA = chưa có nghĩa (?)(dấu huyền)
    - NGHỈA = chưa có nghĩa (?)(dấu hỏi)
    - NGHỊA = chưa có nghĩa (?)(dấu nặng)
    - NGHIA = Chưa có nghĩa (?)(không dấu)

    3)- ... Vân vân ... và vân vân ...


    - Chúng ta thường tự hào là Tiếng Việt rất phong phú, nhưng phong phú ở điểm nào ? Và dựa vào đâu mà phát biểu như vậy !

    Một số lượng lớn chữ Việt (không rõ là bao nhiêu) có chung nguồn, và được hiểu nghĩa giống như chữ Hán(***) ! Chỉ duy cách phát âm là có phần dị biệt, do đó khi nói, cùng là một chữ, một câu ... nhưng hai bên sẽ không hiểu nhau như là người cùng một dòng giống ..., do đó mà một số người bảo rằng ta đã VAY MƯỢN từ chữ của người TẦU ! (Xin coi phần Wickipedia phía trên ...)

    Nhưng nếu đã 'vay mượn' như thế thì dựa vào đâu mà nói rằng Tiếng Việt rất phong phú !


    Xin thưa, phong phú là nhờ ở cách viết và hiểu nghĩa từng chữ THEO QUY LUẬT CỦA BỘ DẤU - CÙNG CÁCH GHÉP VẦN (sắc-huyền-hỏi-ngã-nặng - và không dấu) mà ta đã được học từ Mẫu Giáo ...


    Xin thí dụ một chữ A :


    - Á = tiếng kêu khi bị đau ...
    - À = À quên, mày có đem theo con dao hay không ? ...
    - Ả = cô ả ...
    - Ã = đứng riêng rẽ thì chưa có nghĩa, nhưng ghép vần thì : đã, tã, lãnh ...
    - Ạ = gì thế ạ ? ...
    - A = (không dấu) tiếng kêu lúc ngạc nhiên ...

    Đó mới chỉ là một vần, rồi khi ta ghép thành :

    Hai vần
    -Tá-tà-tả-tã-tạ-ta ...

    Ba vần
    -Tán-tàn-tản-tãn-tạn-tan ...

    Bốn vần
    - Táng-tàng-tảng-tãng-tạng-tang ...

    Sáu vần : (NGOACH) - Bẩy vần : (NGHIÊNG)


    Trên đây mới chỉ là một nguyên âm A ghép với phụ âm T . Sau đó là : A-Ă-Â -E-Ê-I-O-Ô-Ơ-U-Ư , nếu ta lần lượt ghép từ phụ âm nọ sang nguyên âm kia, theo bảng chữ cái, rồi từ một vần cho tới bẩy vần, thì sẽ có hằng hà sa số từ ngữ, với những ý nghĩa khác nhau nhờ BỘ DẤU . Vì thế cách bỏ dấu là điều quan trọng nhất trong chữ Quốc Ngữ - đặc biệt là DẤU HỎI và DẤU NGÃ ... không thể coi nhẹ, quấy quá cho xong !



    Những ví dụ trên cho ta thấy có chữ tự nó đã có nghĩa, có chữ phải ghép thêm vần mới có nghĩa. Riêng những tiếng chưa có nghĩa, còn đang nằm trong kho chờ người khai sáng . Hay có khi nó đã được dùng cho một nghĩa nào ... , ở đâu đó rồi, mà ta chưa biết đến chăng ...

    NHƯNG CHÍNH VÌ ĐÃ ĐƯỢC GHÉP THÀNH CHỮ VÀ THÀNH ÂM,
    THEO QUY LUẬT CỦA BỘ DẤU (sắc-huyền-hỏi-ngã-nặng-không dấu)

    Nên ta mới nói Tiếng Việt phong phú là vì thế . Ngoài ra, phong phú còn do những sự luyến láy, chêm đệm, nói lái, nói kháy, nói hờn, nói mát, nói ví von, nói bóng bẩy, nói đối chữ, đối nghĩa, đối câu ... đều là từ cách ghép vần, ghép chữ mà ra cả ! Sau nói lại còn có ngâm (đối), hát (đối), hò (đối) ... đủ mọi hình thức ...

    Có thể nói là Kho Chữ Tiếng Việt bao la như biển cả, muôn đời dùng cũng không hết,

    (cha ông chúng ta 'lười' không chịu khai sáng thêm nữa là vì đã dùng chung một số chữ gốc Hán (?)(***), Pháp, Anh ... bằng cách phiên âm cho thành âm Tiếng Việt... cho 'tiện việc sổ sách'... rồi cứ thế dùng, chỉ thỉnh thoảng mới bổ nghĩa thêm chữ mới ... )


    TẤT CẢ ĐỀU ĐÃ NẰM SẴN TRONG KHO CHỮ NHƯ NHỮNG CUỐN TỰ ĐIỂN VĨ ĐẠI
    VÀ KHI ĐÃ GHÉP ĐƯỢC THÀNH VẦN - THEO LUẬT CỦA BỘ DẤU
    DÙ CHƯA CÓ NGHĨA

    THÌ CŨNG KHÔNG THỂ BẢO ĐÓ LÀ TIẾNG VIỆT BA RỌI ...

    NGÀY XƯA CHÚNG TA ĐI HỌC LÀ CÓ KIM VĂN VÀ CỔ VĂN ,
    DĨ NHIÊN NẾU HỌC THÔNG SUỐT CẢ HAI MÔN THÌ CÒN GÌ BẰNG,
    NHƯNG NẾU KHÔNG ĐƯỢC, TA CẦN PHẢI THÀNH THẠO KIM VĂN TRƯỚC,
    RỒI MỚI NÓI TỚI CỔ VĂN THÌ CŨNG CHƯA MUỘN ...



    *



    CHÚ THÍCH (**)
    ____________________________

    1) - CHÚNG CƯ : Nguyên bản gốc Hán (?) [coi chú thích (***) ], phiên âm thành âm Việt .
    (CHÚNG = dân chúng, chúng sinh, công chúng, người ta ... - CƯ = cư ngụ, cư trú, ở ...)

    2) - CHUNG CƯ : Nửa Việt nửa Hán(***) .
    (CHUNG = chung chạ, chung đụng, công cộng ... - CƯ = cư ngụ, cư trú, ở ...)


    - Tại sao ta lại phải hiểu CHUNG là = chung sự, kết cuộc, chấm dứt ... của gốc Hán(***) như : mệnh chung (chết),
    mà không chịu hiểu nó như là nghĩa thông thường của người Việt là công cộng, chung chạ, chung đụng, cùng nhau ...?



    Tôi dám chắc rằng 99% dân Sài Gòn đều gọi là :
    - Chung Cư Nguyễn Thiện Thuật
    - Chung Cư Minh Mạng
    - Chung Cư Phạm Thế Hiển ...

    Vì họ đã hiểu một cách chính thống và nôm na rằng : CHUNG = thì có nghĩa là chung đụng, cùng nhau, công cộng ...

    - Riêng khu Thanh Đa thì cũng có người gọi là Chung Cư Thanh Đa, nhưng đa số lại hay gọi là Cư Xá Thanh Đa ! ...
    - Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa, vì ở khu Bắc Hải, nên cũng có người gọi là Cư Xá Bắc Hải ...
    - Cư Xá Tự Do, ở Ngã Tư Bẩy Hiền ...

    Tuyệt nhiên 'không mấy ai' gọi là CHÚNG CƯ nữa (chữ chúng dấu sắc), nếu không muốn nói là : KHÔNG AI

    Cho dù nguyên bản có là gì đi chăng nữa, nhưng cha ông chúng ta đã cải sửa cho phù hợp với sự biến thiên trong ngôn ngữ dân gian, thì thiết tưởng ta cũng nên quên cái nguyên bản của nó đi để hiểu rằng chữ Quốc Ngữ cũng có thể GHÉP với chữ gốc Hán để lập thành danh từ KÉP một cách đường hoàng, chứ không phải là :

    TIẾNG VIỆT BA RỌI - NỬA NỌ NỬA KIA ...



    CHÚ THÍCH (***)
    _________________________


    Hiện tại ta chưa có thời gian để tham khảo xem cái 'HÁN VIỆT - VIỆT HÁN' này là của ai, nhưng dựa vô phần Wickipedia bên trên, ta có quyền nghi ngờ rằng không chừng cái 'HÁN VIỆT' đó nó lại là TIẾNG VIỆT CỔ thì sao ! ... và chính cha ông chúng ta, những người từng học Hán - Nho cũng mù mờ không rõ vì không có hoàn cảnh thuận lợi để tra cứu ...
    Một khi chưa chứng minh được một cách xác đáng, thì mọi kết luận vẫn còn là một dấu hỏi chờ phần giải đáp !

    Sở dĩ tôi 'dám' nói vậy, là nghĩ rằng, nếu ta ngược dòng lịch sử để tìm hiểu về nguồn gốc Bách Việt và Hán tộc, thì điều hiển nhiên ngay trước mắt là Hán tộc chỉ có một, mà Bách Việt là cả trăm ! (Từ đó chúng ta mới có : Trăm họ ...) Số HỌ di cư xuống phía Nam cũng chỉ là vài chục, phần còn lại vẫn tập trung ở phía Nam nước Tầu bây giờ ...) Từ thời khởi thủy, Hán tộc đông người, hay Bách Việt đông dân hơn, nào ai biết ? Văn hóa Hán tộc do đâu mà có nếu không phải phần lớn là từ Bách Việt ? Miền Nam ( nước Tầu) ấm hơn miền Bắc, thì lẽ dĩ nhiên là dân số bao giờ cũng tập trung đông đảo là điều có thể đúng ! ... Từ đó ta có thể suy ra nhiều thứ, đã khiến cho Hán tộc phải chịu ảnh hưởng của Bách Việt mà nét đặc thù chính yếu là ngôn ngữ và văn hóa, văn minh ... Khi Hán tộc chiếm được Trung nguyên để dựng nước , đã thâu tóm những tinh hoa Bách Việt gom chung với Hán hóa để tự nhận là của Hán tộc khi đối đầu với nhà Mãn Thanh ...

    Tôi chỉ gợi ý sơ sơ về chút khái niệm này, nó cần phải được sưu tầm và minh chứng rõ ràng, cụ thể và xác thực để không còn bị ngộ nhận ! ...

    Điều mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây là ta không nên lúc nào cũng đem cái 'NGUỒN GỐC HÁN VIỆT' ra để gọi tên cho những sự giải thích về ý nghĩa của từ ngữ, vì chưa chắc đã phải là NGUỒN GỐC HÁN như đã từng được hiểu, mà có thể nó chính là NGUỒN GỐC VIỆT... vì nó là TIẾNG VIỆT CỔ (Bách Việt Cổ Ngữ) mà người Tầu nhận vơ là của họ, hoặc là chính tổ tiên của chúng ta vì bị áp bức mà phải tự nhận như thế ...


    Mong lắm thay ,

    TT


    .




    __________________________________________________ ______________



    DƯỚI ĐÂY LÀ MỘT BÀI THAM LUẬN
    CÓ TÍNH CÁCH GỢI Ý RỘNG RÃI HƠN NHỮNG GÌ TÔI TRÌNH BÀY
    Ở TRÊN .
    TUY LỜI LẼ HƠI CƯỜNG ĐIỆU
    NHƯNG RẤT MONG CÁC NHÀ BIÊN KHẢO NHẬP CUỘC
    ĐỂ SOI XÉT LẠI MỘT LÃNH VỰC RẤT QUAN TRỌNG CỦA LỊCH SỬ ...




    (tamtien)



    *


    Quote Originally Posted by matrix_rl2000 View Post
    Lượm lặt trên net - Xin chia xẻ

    Người Việt Nam bắt đầu gọi nước Tàu là Trung Quốc từ bao giờ?

    Quay trở về 100 năm trước, nếu bạn bắt gặp tất cả những người đi trên đường và hỏi "bạn có biết Trung Quốc không?" thì 9/10 người sẽ hỏi lại "Trung Quốc là cái gì?", nhưng nếu bạn hỏi "bạn có biết nước Tàu không?" thì cả 10/10 người sẽ trả lời rằng "thằng Tàu thì ai chả biết". Trung Quốc", cái danh từ mà thực ra nó còn có tuổi đời ít hơn rất nhiều so với tên gọi Việt Nam của Đất nước ta. Vậy tại sao người Việt Nam trước đây gọi quốc gia ở phía Bắc Đất nước ta là "Tàu"? Hay bắt đầu gọi nước "Tàu" là "Trung Quốc" từ bao giờ? Và chúng ta có nên tiếp tục gọi là "Trung Quốc" nữa hay không? Bài viết sau đây sẽ giải thích cho bạn biết phần nào về nguồn gốc và lý do của việc đó.

    (Bài hơi dài, mình chỉ copy và biên tập lại một số đoạn thôi)

    1. Khởi nguồn của "Trung Quốc"

    Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông. Trung (中) là ở giữa. Nguyên (原) là cánh đồng. Cho nên chữ Trung Nguyên chỉ có nghĩa là cánh đồng giữa hai dòng sông.






    Bản đồ cổ của "Bách Việt" (màu tím) và "Tàu" (màu đen) 2000 năm trước
    Hai chữ Trung Nguyên quá mơ hồ không rõ ràng, cho cả vùng rộng lớn. Trong vùng này có một địa phương, khá đông dân cư, gọi là Hoa Âm (thuộc địa phận tỉnh Hoa Nam hiện nay), nên còn được gọi là Trung Hoa. Từ đó hai chữ Trung Nguyên hay Trung Hoa thường được dùng lẫn lộn. Để phân biệt với Bắc Mạc (北 漠), tức vùng sa mạc phía bắc sông Hoàng Hà, họ gọi là Trung Nguyên. Để phân biệt với Lĩnh Nam (嶺 南), tức vùng đồng bằng có núi cao (lĩnh) phía nam sông Dương Tử, họ gọi là Trung Hoa.
    Thế rồi, qua nhiều thời kỳ, các kẻ nắm quyền cai trị người Tàu tự vẽ vời ra đủ điều để sơn phết cho hai chữ Trung Hoa nhằm đánh bóng thân thế đối với các xứ lân cận.






    Lúc này, bọn vua chúa người Tàu bắt tên bồi bút Khổng Khâu, mà người Việt thường gọi là Khổng Tử, vẽ vời cho rằng Trung (中) là ở giữa, Hoa (化) là có văn hóa, có học thức. Ý muốn tôn xưng rằng chỉ có nơi đây mới là trung tâm văn hóa của con người. Là “đỉnh cao trí tuệ” tự xưng của thế giới vào thời bấy giờ. Vì thế họ gọi những dân tộc sống vùng chung quanh là súc vật như: Nam Man (chó); Bắc Địch (sâu); Đông Di (rắn); Tây Nhung (khỉ). Cũng bởi ngu si và đầu óc bán khai, kém tiến hóa, nên họ không hề biết rằng gọi như thế tự chính họ còn thua cả súc vật. Kẻ ngu si thường mắc phải căn bệnh hoang tưởng này để giải tỏa ẩm ức tâm lý hèn kém, mà cho đến nay chúng ta vẫn còn nhận thấy.
    * Tụi Tàu dám gọi các dân tộc phía Nam là "chó" curse.gifcurse.gif

    Thật ra, tên họ Khổng xứ Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) nhận lệnh đi ăn cắp văn hóa của phương Nam, tức của dân Bách Việt, rồi đem về xào nấu, nên hắn ta chỉ dám gọi là đồ ăn cắp chứ không phải tự tay tạo ra (述 而 不 作 – thuật nhi bất tác – chỉ kể lại chứ không phải sáng tác). Bán khai đến độ, hắn ta cũng không hề biết và cho rằng "trà" và "lúa" của dân Bách Việt phía nam sông Dương Tử đang dùng là kỳ lạ và chẳng phải là những món ăn, uống mà kẻ có văn hóa nên dùng. Thế nhưng sau khi uống thử rồi thấy ngon, thấy ghiền. Cái tài lưu manh của kẻ ăn cắp luôn là tẩy xóa hết dấu vết cũ rồi cho là của mình. Để bây giờ cả thế giới, ngay người Việt cũng tin chắc rằng trà phát xuất từ Tàu. Cả đến chữ Tàu cũng bắt nguồn từ bộ chữ Khoa Đẩu của tộc Bách Việt. Thế nhưng không có mấy người Việt Nam dám chấp nhận điều này. Căn bệnh tự cho là mình man di và kém cỏi truyền đời đã ăn sâu vào tận tâm trí của họ. Điều gì cũng cho là của Tàu thì mới thỏa mãn căn bệnh truyền kiếp này của người dân Việt hiện nay. Cũng theo lệnh kẻ cầm quyền, tên bồi bút họ Khổng này đưa ra những thuyết ma mỵ để đặt ách nô lệ lên đầu người dân như; thuyết thìên mệnh, ngũ thường, và trung quân ái quốc, vân vân.

    Tự gọi mình là "Thiên từ" (Con trời), gì mà bị kẻ khác soán ngôi tàn sát thẳng tay không chừa một mống. Ngũ thường gì mà trong cung đình, con giết cha để cướp ngôi, hai cha con cùng lấy một vợ, con cướp vợ của cha rồi loạn luân, chém giết, tàn sát lẫn nhau đủ kiểu. Thế nhưng chúng bắt mọi người dân phải trung thành với kẻ cai trị mới gọi là yêu nước.

    Những người Việt mang nặng tinh thần tiểu nhược nên cứ mãi bị giặc Bắc lừa gạt mà tôn thờ tên bồi bút này là bậc thầy muôn đời (萬 世 師 表 – vạn thế sư biểu). Hãy để cho những người này thỏa mãn tinh thần tiểu nhược và thờ Tàu của họ. Nhưng chúng ta, những người Việt biết tự trọng và có tinh thần dân tộc, không nên làm điều này. Không những thế, mỗi người nên có trách nhiệm đối với Dân tộc và Tổ quốc. Nghĩa là khi nghe người khác hiểu sai, nói sai, chúng ta nên trình bày, giải thích cho họ hiểu rõ sự việc. Cùng giúp nhau hiểu rõ vấn đề, thì không có gì phải ngần ngại, hay lo sợ cả. Mà đây lại là vấn đề sống còn của cả một dân tộc. Đây là trách nhiệm của mọi người Việt, không riêng gì ai cả. Mọi người dân đều hiểu rõ tức là dân trí được nâng cao. Sự hiểu biết của người dân càng nhiều, đám quan lại Tàu càng lo sợ. Điều này ai cũng hiểu cả.






    Từ xưa, Trung Nguyên này là nơi tranh giành quyền lực tự do và được xem là vườn hoang không có chủ. Kẻ nào giành được thì mặc sức mà cai trị. Và họ cũng chẳng có khái niệm gì về quốc gia dân tộc. Kẻ nắm quyền cai trị luôn có tham vọng bành trướng và xâm chiếm các nước chung quanh. Thời kỳ Chiến Quốc là một thí dụ điển hình lịch sử về sự tranh giành quyền lực nơi vườn hưu hoang này. Với tinh thần đó, và nhằm trấn áp người dân để cai trị nên kẻ nào lên nắm quyền cũng tự xưng mình là con trời, là lớn, là đại. Như Đại Chu, Đại Tần, Đại Hán, Đại Đường, Đại Tống, Đại Nguyên, Đại Minh, Đại Thanh. Đại sau thẳng tay tàn sát tiêu diệt đại trước. Và đại cuối cùng thì bị tám cường quốc Tây phương cùng nhau xẻ thịt. Nên thực tế chẳng có ma nào là "Đại" cả.

    Các chữ Trung Hoa hay Trung Quốc cũng mang tinh thần ngu xuẩn nhưng ngạo mạn này. Ngày nay với kiến thức về địa dư thế giới, mọi người Việt đều biết rõ xứ này chẳng có gì để tự xưng là Nước Ở Giữa cả. Thế nhưng nhiều người Việt vẫn đang chấp nhận điều này qua ngôn ngữ.

    Lưu Bang, một tên thôn trưởng lưu manh sống bên dòng sông Hán Thủy, cướp công Hạng Võ, diệt Tần lên nắm quyền cai trị (256 trước TL). Để thành lập triều đại, Lưu Bang lấy chữ Hán từ tên con sông rồi gọi là Triều Hán, và tự xưng là Đại Hán. Sự cai trị của dòng họ lưu manh này kéo dài suốt 400 năm, nên hai chữ đại hán đã ăn sâu vào đầu của nhiều thế hệ dân cư trong vùng. Để sống còn, tránh cảnh bị tàn sát và tiêu diệt, dân tộc hay bộ tộc nào trong vùng bị cai trị cũng tự gọi mình là người Hán. Ngay cả chữ viết đã có trước đó từ lâu chúng cũng bắt mọi người gọi là chữ Hán. Người Việt sau này, dưới sự áp đặt của Tàu mấy trăm năm trước cũng mặc nhiên chấp nhận điều này. Cho đến nay, hầu hết người Việt cũng vẫn còn gọi là chữ Hán. Không mấy ai dám gọi là chữ Tàu cả. Vì họ sợ. Sợ điều gì họ cũng không rõ. Nhưng vẫn cứ sợ và gọi như thế là đủ an tâm. Nêu điều này ra để chúng ta cùng nhận rõ cái tinh thần tiểu nhược này đã truyền đời đến cả ngàn năm nay vẫn còn nhiều người Việt không chịu nhận ra và quyết tâm tiêu trừ.






    Sau khi Mông Cổ diệt Đại Tống lập Đại Nguyên cai trị xứ này cả trăm năm. Đến khi Trần Hữu Lượng (Lượng là con trai Chiêu Minh Vương Trần Ích Tắc – qua việc thông đồng với giặc, vương bị anh là vua Trần Thánh Tông không giết nhưng đuổi ra khỏi Việt Nam và qua Tàu sống ở vùng Trường Sa, Quảng Đông ngày ngay) đánh đuổi Mông Cổ chuẩn bị lên ngôi thì bị Chu Nguyên Chương cướp công và lập nên Đại Minh.

    Dòng họ Ái Tân Giác La của bộ tộc Mãn Châu (Nữ Chân, Kim sau đổi là Thanh) diệt Minh, rồi cũng gọi là Đại Thanh. Thời kỳ nầy không còn ai dám nhận mình là Đại Hán hoặc Đại Minh nữa cả. Và bọn đại hán (trong đầu người Việt) phải cạo đầu thắt bính như người Mãn Châu. Nếu không sẽ bị chặt đầu ngay. Lúc bấy giờ, trong dân gian, vì quen miệng họ vẫn gọi xứ này là Trung Nguyên hay Trung Hoa. Tuy rằng biên giới đã vượt qua sông Dương Tử và tiến xa xuống phương nam.

    Sau này một vài người Tây phương, vốn không biết nhiều về xứ này, nên cho rằng người sống ở đây là dân Hán, nhưng họ lại gọi là nước Tần. Người Việt lúc đó là thuộc địa của Pháp, vốn tôn thờ khoa học tây phương, nghe người da trắng Âu Châu gọi thế nên vội vã cho là có tộc Hán. Ngày trước họ thờ Tàu. Khi Tàu đi, Tây đến thì họ đành phải thờ Tây. Đối với họ hễ người Tây phương nói là phải đúng, và họ không hiểu rõ nghĩa chữ tộc trong tiếng Việt. Điều này cũng ngây ngô chẳng khác nào hiện nay bảo những người sống tại Mỹ là dân tộc Hoa Kỳ. Ai cũng biết chỉ có người công dân Mỹ chứ không có dân tộc Hoa Kỳ. Xứ Tàu cũng chỉ là một loại hợp chủng quốc ở Châu Á mà thôi. Hiện nay, ngoài hàng trăm ngôn ngữ của những dân tộc thiểu số, Tàu vẫn còn xử dụng sáu ngôn ngữ chính. Ngay cả Mao Trạch Đông vẫn nói tiếng Hồ Nam, khiến nhiều người Tàu nghe không hiểu. Không có ngôn ngữ Tàu chính thống, tuy rằng phần lớn là tiếng Việt do dân Bách Việt sống khá nhiều ở vùng phía Nam sông Dương Tử, mà còn giữ rõ âm Việt nhất là tiếng Quảng Đông, Quảng Tây. Vì sự kiện này nhiều người Việt Nam, không chịu tìm hiểu lịch sử của tộc Bách Việt, lại nặng tinh thần tiểu nhược, nên cứ cho rằng tiếng Việt hiện nay là mượn từ tiếng Quảng Đông của Tàu. Dù vẫn còn sáu ngôn ngữ chính, nhưng chữ viết chỉ một, do Doanh Chính, tức Tần Thủy Hoàng, thống nhất chữ viết để dễ bề cai trị, và gọi là quan thoại, tức ngôn ngữ của quan lại. Đến thời Mao Trạch Đông, vốn xem Tần Thủy Hoàng là thần tượng, cũng bắt chước Doanh Chinh bắt sửa lại chữ Tàu và gọi là chữ Tàu đơn giản. Đến đây chúng ta đã biết đó gọi là chữ Tàu, nhưng sẽ còn vô số người Việt quyết tâm giữ suy nghĩ là chữ Hán trong đầu cho đến chết, và truyền lại cho con cháu.

    Dưới áp lực xâm lăng của giặc Bắc, người Việt từ vùng Động Đình Hồ, dần dần bị đẩy xa về phương nam xuống Việt Nam ngày nay. Qua thời gian, người Việt còn ở lại vùng phía Nam sông Dương Tử đã quên mất nguồn gốc Bách Việt của mình. Nhưng họ không hề bị đồng hóa, vì dân số Việt tộc ở những vùng này vẫn luôn nhiều hơn những bộ tộc hỗn tạp nhỏ khác. Họ chỉ mất gốc. Một điển hình trong lịch sử cận đại là Tôn Dật Tiên (Sun Yat Sen) hay còn gọi là Tôn Trung Sơn, tổng thống đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc, sinh ở Quảng Đông, người mà dân Tàu đang thờ phượng và suy tôn là cha đẻ của cuộc Cách Mạng Tam Dân, vốn là người Việt. Ông ta biết rõ điều này. Tuy vậy, vì quá lâu đời và vì sự nghiệp chính trị ông không dám nói rõ thân thế. Trong khi đó dòng họ Lý của Việt Nam sống tại Đại Hàn gần ngàn năm nay vẫn luôn tự hào mình là người gốc Việt. Nên khi vừa lên cầm quyền, tổng thống Lý Thừa Vãng của Nam Hàn đã nhờ tổng thống Ngô Đình Diệm truy tìm gia phả của dòng họ Lý tại Việt Nam.

    Chiến thắng mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) mọi người Việt đều đã biết. Sau khi đánh quân Thanh một trận nhớ đời và đuổi ra khỏi bờ cõi, Quang Trung Hoàng Đế liền có kế hoạch lấy lại đất bị giặc Bắc cướp trước đó. Theo chương trình, vua Quang Trung sẽ đuổi Mãn Thanh trở ngược về phía Bắc sông Dương Tử, quyết lấy lại vùng Lĩnh Nam của dân Bách Việt ngày xưa. Bước đầu, nhà vua bắt Càn Long phải gả con gái và trả lại hai vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây. Sau đó sẽ làm bàn đạp để bắc tiến và tây tiến. Càn Long liền gởi chiếu mời vua Quang Trung sang Bắc Kinh để đàm phán. Nhắm để phòng sự tráo trở của giặc Bắc cùng sẵn dịp hạ nhục Càn Long của Đại Thanh, vị Hoàng Đế Đại Việt cho người giả trang dẫn phái đoàn sang Tàu. Trên đường đi phái đoàn Việt cố tình hành hạ bọn quan lại Tàu đủ điều, nhưng chúng cũng phải cúi đầu chịu nhục. Càn Long vẫn biết rõ trưởng phái đoàn chỉ là vị vua giả. Nhưng mở miệng ra lại sợ nhục nhã, nên hắn đành phải câm miệng và dùng đủ lễ nghi để tiếp đãi phái đoàn. Đây cũng là một sự nhục nhã nặng nề mà Càn Long của Đại Thanh đành phải nuốt sâu vào lòng.






    Vua Quang Trung cho Càn Long biết, nếu không chịu trả đất, vua Việt sẽ giúp bọn phục Minh nổi dậy diệt Thanh.

    Vừa mới bị đánh một trận kinh hoàng, lại muốn giữ ngôi để tiếp tục cai trị xứ Tàu, Càn Long đành phải nuốt nhục cúi đầu chấp nhận. Nhưng mọi việc chưa xong thì vua Quang Trung băng hà. Thế là việc đòi lại đất của người Việt xem như bất thành.

    Nếu vua Quang Trung không mất sớm và bắt Càn Long của Đại Thanh trả lại Quảng Đông, Quảng Tây cho Đại Việt thì hôm nay đã không có Tôn Dật Tiên cho dân Tàu thờ làm Quốc Phụ. Nêu ra điều này để người dân Việt thấy được sự ngu ngốc của người Tàu. Đúng ra, mọi người Việt đều có bổn phận phải nói rõ điều này cho người Tàu.

    Chữ Qin được Tàu phát âm là Ch’in, người Việt phát âm là Tần. Từ âm Ch’in này người da trắng gọi xứ này là China hay Sino. Khi nắm quyền Doanh Chính dùng chữ Đại Tần vì lấy tên địa phương của xứ Tần (hiện nay thuộc tỉnh Giang Tô). Cho nên người Tây phương dùng chữ China, Sino, Chinois là do sự diễn âm chữ Tần (Ch’in), để gọi xứ này. Hoàn toàn không có ý nghĩa gì là Nước Ở Giữa cả. Xin người Việt không nên đem hình ảnh của hai chữ Trung Quốc trong đầu của mình mà áp đặt lên chữ China, Sino của người da trắng.
    Người da trắng gọi họ là Tần. Tại sao chúng ta không dám gọi họ là Chệt hay Tàu? Hỏi tức là đã trả lời rồi vậy.
    2. Người Việt Nam bắt đầu gọi "Tàu" là "Trung Quốc" từ khi nào?

    Hai chính thể của Tàu ngày nay, nếu dịch sang tiếng Việt cho đúng nghĩa quốc tế, ở đây chúng ta sẽ dựa trên tiếng Mỹ, phải là Cộng Hòa Nhân Dân Tàu (Tần), và Cộng Hòa Tàu (Tần). Cũng như Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Socialist Republic of Vietnam, hay Việt Nam Cộng Hòa là Republic of Vietnam.

    Trở lại hai chữ Trung Quốc. Người Tàu, bởi ngu si lại nặng tinh thần hống hách luôn tự cho mình là lớn, là trung tâm của thế giới, nên họ tự gọi là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, và Cộng Hòa Trung Hoa, viết và hiểu theo cách Tàu dùng tiếng Việt. Sau khi được cai trị toàn miền đại lục, Mao Trạch Đông vẫn tiếp tục truyền thống ngu si và bạo chúa nên tự gọi là Trung Quốc.

    Thứ nhất; nhằm kích thích tinh thần ngông cuồng của dân trong xứ.

    Thứ hai; bắt Việt Nam phải tuân dùng theo, để tròng ách nô lệ lên đầu người Việt.

    Hiểu một cách rõ ràng, chữ Trung Quốc vẫn hoàn toàn không có ý nghĩa gì là Nước Ở Giữa cả. Bởi chữ Trung vốn có gốc từ chữ Trung Nguyên từ thời xa xưa. Tuy vậy, Tàu Khựa vẫn mập mờ để bắt phải áp đặt vào đầu những người Việt, kém hiểu biết lại nặng tinh thần tiểu nhược trước phương Bắc, nên tự suy diễn ra là Nước Ở Giữa để in sâu trong đầu.

    Trước năm 1975, người Việt tại Miền Nam thường gọi hai quốc gia này là Trung Hoa * và Trung Hoa Quốc Gia để chỉ cho hai thể chế chính trị, nhưng vẫn gọi chung là người Tàu. Như; Tàu Đài Loan, Tàu Chợ Lớn, Tàu Hồng Kông, Tàu Đại Lục. Chính những người Tàu sống ở Việt Nam cũng tự gọi họ là người Tàu. Từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấm không cho người Tàu làm 11 nghề chính để bảo vệ kinh tế cho người dân Việt Nam. Nguồn gốc phát xuất âm Tàu trong tiếng Việt, cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Có thể là do nghe và nói lại một cách sai lạc âm của chữ Tần mà người Tây Phương tại Việt Nam thường dùng. Hoặc cũng có thể xuất phát từ việc đám quan lại nhà Minh đã trốn chạy nhà Thanh sang Việt Nam bằng đường biển rồi xin tỵ nạn vào thế kỷ 16 mà bị người Việt đặt cho là Tàu. Cả Philippines, Thailand, Kampuchia, trong ngôn ngữ của các quốc gia này, họ cũng không gọi xứ này là Nước Ở Giữa. Riêng người Nhật dùng chữ China với ý nghĩa khinh miệt là lũ người bệnh hoạn, ngu si, nhu nhược, yếu hèn.

    Đến nay chỉ có người Tàu và dân Việt dùng chữ Trung Quốc. Nêu điều này ra nơi đây, để mọi người cùng nhận thấy rõ sự tiểu nhược trong tư tưởng, thể hiện qua ngôn ngữ của người Việt, đã bị bọn Tàu áp đặt sâu nặng đến thế nào.

    Một thí dụ điển hình cho căn bệnh nô lệ giặc Bắc, là cho đến hôm nay, trong đầu khá nhiều người Việt vẫn tin chắc rằng võ thuật của Việt Nam thì phải “bắt nguồn từ Trung Quốc.” Hỏi tiếp nữa thì họ chống chế rằng bởi từ Thiếu Lâm Tự, và do Đạt Ma Sư Tổ truyền ra. Quả là khôi hài. Nếu vậy thì phải bảo rằng võ thuật của Tàu vốn do Ấn Độ truyền sang. Khổ thật. Kiến thức của họ đã kém, khả năng suy luận cũng không có, lại mang nặng căn bệnh thờ Tàu. Từ thời Khổng Khâu xa xưa mãi cho đến hôm nay, bọn người này chỉ có truyền thống chuyên nghiệp là đi ăn cắp và ăn cướp, xong đem về bôi xóa dấu vết rồi cho là của mình.





    Làm hàng nhái rồi tự nhận là do mình "sáng tạo" ra là truyền thống lâu đời chứ không phải mới chỉ xuất hiện ngày nay của Tàu

    3. Chúng ta có nên tiếp tục gọi "Tàu" là "Trung Quốc" nữa hay không?

    Để thể hiện tinh thần tự chủ và độc lập của dân tộc, người Việt nên ý thức rõ điều này. Và không nên dùng hai chữ Trung Quốc. Bởi đây là thâm ý của Bắc Kinh, cố tình nhồi nhét tinh thần nô lệ vào đầu người dân Việt Nam.

    Do đó, để chống Tàu, trước hết mọi người Việt nên chống lại âm mưu áp đặt tinh thần nô lệ này, qua ngôn ngữ, của giặc Bắc.
    Bảo rằng do thói quen, thì nên tự hỏi mình có dám bỏ cái thói quen này hay không? Dĩ nhiên, không mấy ai dám chấp nhận rằng vì sợ nên phải dùng hai chữ Trung Quốc. Vẫn có nhiều người sẽ tìm đủ lý do để biện minh cho hai chữ Trung Quốc nơi cửa miệng.

    Chắc chắn có người sẽ cho rằng Trung Hoa hay Trung Quốc cũng chỉ là danh xưng, đâu có gì quan trọng. Những người này đang tự lừa dối chính mình và cố tình dùng xảo ngôn để lấp liếm và che dấu căn bệnh tiểu nhược truyền đời. Nếu chỉ là danh từ, và không có ý gì, thì tại sao không dám gọi là Tàu?

    Có vài người, vì mặc cảm tự ti kém khuyết, để tự gạt mình nhằm che dấu căn bệnh nô lệ ẩn sâu trong tư tưởng, họ bảo rằng gọi như thế sẽ làm giảm giá trị trình độ trí thức và lịch sự của họ. Vì thế họ chỉ dám dùng chữ Trung Quốc, Trung Hoa để chứng tỏ họ là kẻ có học thức, là người lịch sự.

    Khi vua Quang Trung tuyên bố trước ba quân: “Phải đuổi hết lũ giặc phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Đánh cho chúng nó không còn manh giáp.” Ai dám bảo vua Quang Trung là phường vô học?

    Để giữ gìn nền độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc, mong rằng những người Việt này cũng nên từ bỏ cái ảo giác có học thức và lịch sự của mình.

    Nên hiểu rằng khi người Tây phương gọi những xứ này là China, Sino, Chinois, qua ngôn ngữ của họ, trong đầu họ vẫn xem đó là xứ Tần. Qua ngôn ngữ xử dụng, họ hoàn toàn không có khái niệm hay ý nghĩ gì về một Nước Ở Giữa cả. Trong khi đó, người Việt nói đến hai chữ Trung Quốc, chắc chắn cái hình ảnh Nước Ở Giữa đã thấp thoáng trong đầu. Xin mọi người để ý đến điều này.

    Khi đăng những bản tin ghe thuyền của Tàu Khựa tấn công ngư dân Việt, báo chí Việt Nam chỉ dám dùng hai chữ "tàu lạ". Mọi người đều hiểu tại sao. Ở đây chúng ta không cần diễn giải thêm. Rõ ràng là ngôn ngữ thể hiện tâm lý của người sử dụng. Và ai cũng hiểu đó lá cái tâm lý hèn hạ nhu nhược của một số người Việt Nam đối với bọn giặc phương Bắc.

    Tương tự như thế, bất kỳ ai, mở miệng dùng hai chữ Trung Quốc cũng không thoát khỏi tâm lý này, dù họ có lớn tiếng hô to: “Đả đảo Trung Quốc xâm lược.” Hãy tự hỏi chính mình, tại sao mình không mở miệng nói được câu: “Đả đảo Tàu Khựa xâm lược.” Chẳng lẽ mình vẫn còn muốn chứng tỏ cho người khác biết mình là con người có học thức và lịch sự?

    Đã không xóa nổi hai chữ Trung Quốc ra khỏi đầu thì khoan nói đến chuyện chống Tàu chiếm đất, chiếm biển. Nếu chỉ là danh từ, tại sao không dám gọi là Tàu như cha ông ta đã dùng hàng trăm năm qua? Không nên tiếp tục lừa dối chính mình nữa. Xin suy nghĩ kỹ điều này.
    Đã giúp mình và cũng giúp người. Mọi người Việt cùng nhau giữ nước qua ngôn ngữ. Vô cùng quan trọng nhưng lại không hề tốn một giọt máu.

    Đây là điều đầu tiên và căn bản, vô cùng quan trọng, trong tinh thần chống lại bọn giặc phương Bắc.
    Xin nêu ra nơi đây một bài học lịch sử để mọi người cùng suy nghiệm....

    Bài viết có sử dụng các tư liệu của tác giả Trần Đức Dũng.
    (Bài này là do mình copy nhé, có ghi tên tác giả đó. Thấy có giá trị về giải thích lịch sử và văn hóa thì mình up thôi.)

    Tóm tắt cho bạn nào lười đọc là:

    - "Trung Quốc" chỉ là một danh từ tự sướng của Tàu, tự cho mình là ở giữa, trung tâm thế giới, cho các nước khác là man di, kém cỏi.
    - Nền văn hóa của Tàu là nền văn hóa ăn cắp của các dân tộc khác rồi xào nấu, gọi đó là do mình sáng tạo ra nhưng thực ra chỉ toàn là ăn cắp. Đến đời Khổng Tử mà dân Tàu còn chưa biết trà và lúa là cái gì, những thành quả trí tuệ đặc sắc như Âm Lịch, 12 con Giáp, hình tượng con Rồng, Kinh Dịch... đều là do người Việt sáng tạo ra bị dân Tàu ăn cắp rồi tự nhận là của mình, ngay cả võ thuật của Việt Nam cũng không phải là xuất xứ từ Tàu.

    - Hàng trăm năm trước, dân Việt Nam ta không gọi Trung Quốc mà gọi là Tàu. Có thể là do chữ Tần đọc trại lại mà thành, hoặc có thể là từ lịch sử đám quan lại nhà Minh sang xin tỵ nạn tại Việt Nam băng đường biển.
    - Chỉ có dân Tàu và dân Việt sử dụng danh từ Trung Quốc (nước ở giữa), các nước khác đều gọi là China hay Sino (dịch sang tiếng Việt là Tần).

    - Việc người Việt gọi nước Tàu là Trung Quốc một phần là nằm trong kế hoạch áp đặt tư tưởng nước chư hầu của Tàu lên Việt Nam

    - Tiếp tục gọi là Trung Quốc theo ý muốn của họ, hay quay trở lại gọi là Tàu như cha ông ta trước đây hoặc gọi là Sino như các nước khác là do mọi người tự quyết định.



    *


    NHA BIÊN KHẢO PHẠM TRẦN ANH
    ĐÃ CÓ NHỮNG NGHIÊN CỨU SÂU RỘNG QUA SỰ PHÁT BIỂU
    TRONG VIDEO CLIP NÀY CHIẾU THEO TÁC PHẨM CUẢ ÔNG ...



    *


    MONG BĐH CHO PHÉP TÔI POST CLIP NÀY Ở ĐÂY ĐỂ RỘNG ĐƯỜNG DƯ LUẬN
    XIN ĐA TẠ
    (tamtien)


    *








    TRÍCH ĐOẠN DƯỚI ĐÂY RÚT RA TỪ BÀI :
    'Hơn 15.000 km2 đất của Việt Nam mất vào tay ai?'
    TRÊN TRANG BLOG BA SÀM



    ... Lần giở lịch sử sẽ thấy:

    Năm 41 sau Công Nguyên, vua Quang Vũ nước Đông Hán sai Mã Viện (tức Phục Ba Tướng Quân) sang đánh Giao Chỉ của Hai Bà Trưng. Quyết tâm chiến đấu ngoan cường của Đô Dương bộ tướng của Trưng Vương, Mã Viện phải tạm ký hòa ước và cắm trụ đồng làm mốc đánh dấu biên giới cực nam của Đông Hán ở động Cổ Sâm thuộc Khâm Châu. Trên trụ đồng Mã Viện cho khắc 6 chữ:

    “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là đồng trụ gãy thì Giao Chỉ mất.

    Như thế, biên giới cực nam của nước Hán kể từ thời Đông Hán đầu công nguyên cho tới tận gần đây vẫn được đánh dấu rõ ràng bằng cột mốc biên giới ở Khâm Châu (Khâm Châu trước thuộc tỉnh Quảng Đông nay được Trung Quốc điều chỉnh thuộc về tỉnh Quảng Tây).

    Sách “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Trung Quốc (đời Đường) và “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc, đều chép cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm. Sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quế Đường (tức Lê Quý Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thước. Có lẽ đây là Mã Tống dựng lên”.

    Núi Phân Mao ở đâu? Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi viết:

    “Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh húy đổi làm Yên Quảng).

    Vân Cừ là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng.
    Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo, Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây.

    Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là cột đồng.
    Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột đồng của Mã Viện dựng…”

    (Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, trang 202).

    Sách “Gia Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí” của Nhà Thanh cho biết:

    Núi Phân Mao ở phía Tây Khâm Châu.
    Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ.
    Đến năm Gia Tĩnh thứ 21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.


    Cái gọi là ranh giới phía Nam của nước Hán tưởng đã quá rõ, vậy mà rất nhiều bậc học giả (không học thật) người Trung Quốc vẫn đang gân cổ cố cãi về một vùng biển lịch sử của Trung Quốc có từ thời nhà Hán!
    ...
    Last edited by tamtien; 01-24-2016 at 01:42. Reason: GỌI

  14. Thanks dumuc thanked for this post
Page 4 of 4 FirstFirst 1234

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •