Results 1 to 3 of 3

Thread: Cà phê Sài Gòn Xưa & Nay

  1. #1
    Join Date
    Apr 28th 2006
    Location
    Singularity inside BlackHole
    Posts
    18,034
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    1069

    Default Cà phê Sài Gòn Xưa & Nay



    Tôi biết đến cà phê rất sớm. Còn nhớ, thuở ban đầu làm quen với mùi vị cà phê là từ hồi còn học Lớp Nhất, tức Lớp 5 bây giờ. Ông cụ tôi khi đó có thói quen uống cà phê vào buổi sáng trong tiết trời lành lạnh của Đà Lạt. Tôi tự “phân công” cho mình việc dẹp ly khi ông uống xong. Bao giờ trong ly cũng còn lại một ít chất nước đen đen, sền sệt… đăng đắng mà lại ngòn ngọt. Thế là lúc dọn dẹp thế nào tôi cũng tự cho mình thưởng thức chút “sái” còn lại, dĩ nhiên vào lúc không ai nhìn thấy.
    Chuyện “bí mật” đó đã xảy ra cách đây hơn 60 năm bây giờ mới “tiết lộ” nhưng được nói một cách công khai chứ không vụng trộm như hồi còn nhỏ. Như vậy là tôi đã “biết thưởng thức” cà phê hơn 60 năm và thói quen đó đã trở thành “ghiền” trước cả khi biết đến thuốc lá.

    Cà phê và thuốc lá gắn bó với nhau như bóng với hình, một đằng là “nghiện” cafeine và một đằng là nicotine. Thực ra, chẳng có cái nào đáng được gọi là tốt đẹp nhưng suy cho cùng, “ghiền” cà phê vẫn còn đỡ hơn “nghiện” thuốc phiện, ngày nay giới trẻ lại bước sang một lãnh vực mới là ma túy.
    Phải lên đến trung học đệ nhất cấp, tức cấp 2 ngày nay, tôi mới “chính thức” gia nhập hàng ngũ những người nghiện cà phê. Lý do thật đơn giản: học thi Trung học Đệ nhất cấp nên cần cà phê để khỏi buồn ngủ vì đây là loại thức uống kích thích sự hưng phấn. Điều kỳ lạ là người nghiện cà phê cảm thấy như được sảng khoái hẳn lên khi chất cafeine được nạp vào cơ thể.

    Theo một truyền thuyết, khoảng năm 1671, những người chăn dê ở Kaffa (phía tây Ethiopia ngày nay) phát hiện ra một số dê trong đàn sau khi ăn một cành cây có hoa trắng và quả màu đỏ đã chạy nhảy không mệt mỏi cho đến tận đêm khuya. Họ bèn đem chuyện này kể với các thầy tu. Sau đó các thầy tu đã đi xem xét khu vực ăn cỏ của bầy dê và phát hiện ra một loại cây có lá xanh thẫm và quả giống như quả anh đào. Như vậy có thể nói rằng nhờ đàn dê này mà con người đã biết đến cà phê!

    Hương vị cà phê thế nào thì những người nghiện hay không nghiện cà phê đều đã có dịp trải qua. Nhưng mùi hoa cà phê tôi chắc chỉ một số ít người được thưởng thức và tôi tự hào thuộc số ít người đó. Rất tình cờ, trong một chuyến du lịch xuyên Việt với đoàn sinh viên Mỹ lên vùng cao nguyên, khi xe vào địa phận Kontum đã thoảng một mùi hương êm dịu.
    Chưa thấy cây cà phê mà đã cảm nhận được một sự khác lạ, hương thơm ngào ngạt. Xe tiến vào sâu hơn và từ từ hiện ra trước mắt hai mảng màu xanh-trắng hòa quyện với nhau. Thật may mắn, chúng tôi đến đây đúng vào mùa cà phê nở hoa trắng xóa hai bên đường…
    Đám sinh viên nhao nhao đòi dừng xe để thấy tận mắt cây cà phê, ngửi tận mũi hoa cà phê. Có điều, mùi hương thoảng theo gió rất dịu nhẹ nhưng đến gần mùi đó trở thành hăng hắc. Một số người có thể bị dị ứng với hoa cà phê khi đến gần cũng tựa như một người đẹp nhìn từ xa thấy “mát mắt” nhưng nếu đến gần lại mang nỗi thất vọng vì lý do nào đó! Khổng Tử đã dạy: “Kính nhi viễn chi” là vậy.
    Chuyện dê phát hiện ra thứ nước uống “thần kỳ” thuộc về… thần thoại. Nhưng nhiều học giả vẫn quả quyết là tỉnh Kaffa của Ethiopia tận bên Phi châu là vùng đất trồng cây cà phê đầu tiên trên thế giới từ thế kỷ thứ 9. Đến thế kỷ thứ 14 những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang vùng Ả Rập nhưng tới thế kỷ thứ 15 người ta mới biết rang hạt cà phê lên và sử dụng nó làm đồ uống.
    Cách thức pha chế cà phê truyền thống của người Ethiopia dĩ nhiên là cách thức cổ xưa nhất. Họ để hạt cà phê vào một cái chảo sắt to và rang lên, sau đó được nghiền vụn hoặc cho vào cối giã thành bột cà phê. Chỗ hạt giã vụn đó được trộn với đường trong một cái bình gọi là “jebena” (một loại bình cổ thon có quai) và được nấu lên rồi đổ ra bát. Thế là đã có “bát” cà phê thơm ngon để thưởng thức.
    Theo nhiều tài liệu, quán cà phê đầu tiên được mở ở Ba Tư, tức Iran ngày nay. Trong những quán nhỏ ở vùng Tiểu Á, Syria và Ai Cập người ta gặp nhau tại đây để thưởng thức loại thức uống kỳ lạ. Kể từ năm 1532, các quán cà phê này luôn đông nghịt khách.
    Vào thế kỷ 17 cây cà phê được trồng phổ biến tại các thuộc địa của Hà Lan, đưa nước này lên vai trò thống trị ngành thương mại cà phê. Ở Constantinopolis (Istanbul ngày nay) cà phê được biết đến lần đầu tiên vào năm 1517. Đến năm 1645, quán cà phê đầu tiên của Ý được mở ở Venezia, tức thành phố sông nước hữu tình Venise.
    Tại Anh, lần lượt xuất hiện các quán cà phê từ năm 1650 ở Oxford và năm 1652 ở London. Ở Pháp những quán đầu tiên được khai trương vào năm 1659 tại thành phố cảng Marseille và tiếp đó là Paris vào năm 1672.
    Vào năm 1683, thành phố Wien (Viena), thủ đô của Áo, cũng có quán cà phê đầu tiên do một người Ba Lan làm chủ sau khi nước Áo giành thắng lợi trước Thổ Nhĩ Kỳ và tịch thu được… 500 bao cà phê “chiến lợi phẩm”. Wien sau đó trở thành một thành phố với những quán cà phê nổi tiếng nhất.

    Người Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa và họ cũng thiết lập tại đây những đồn điền trồng các loại cây mà sau này gọi là “cây công nghiệp”: cây cao su tại miền Nam từ năm 1879, cây cà phê năm 1888 tại miền Bắc và sau đó là cây chè (1924). Chính phủ bảo hộ lập đồn điền cà phê đầu tiên tại Kẻ Sở ở Tonkin (Bắc Kỳ) với giống cà phê Arabica, hay còn gọi là cà phê chè, được mang từ đảo Bourton sang. Sau khi thu hoạch cà phê được mang thương hiệu Arabica du Tonkin và xuất cảng sang Pháp.
    Giống Arabica có năng suất thấp và chất lượng kém nên sau đó được du nhập thêm giống Robusta (gọi là cà phê vối) và giống Mitcharichia được gọi là cà phê mít kể từ năm 1908. Đồn điền cà phê được thành lập tại nhiều nơi ở Bắc kỳ như Hà Tĩnh (1910), Yên Mỹ, Thanh Hóa (1911), Nghĩa Đàn, Nghệ An (1915). Mãi đến năm 1925 mới được trồng ở vùng cao nguyên phía Nam như Ban Mê Thuột, Kontum và Di Linh.

    Thuở ban đầu người Việt chỉ biết cắm cúi trồng và chăm sóc cây cà phê, đến khi ra trái người Pháp lại “xuất cảng” về chính quốc. Uống cà phê vào thời đó là một cái thú của các quan thuộc địa và một số ít người bản xứ “có máu mặt”. Công nhân các đồn điền cà phê chỉ biết “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”, bán sức lao động để kiếm cơm.
    Claude Bourrin, nhân viên sở thuế đã từng sống và làm việc ở Hà Nội, ông cũng là cây bút viết ký sự về Bắc kỳ xưa, đã ghi lại một số những quán “cà phê Tây” từ năm 1885 trên đường Pháp Quốc (sau đổi thành Paul Bert và nay là đường Tràng Tiền) như quán cà phê Thương Mại, Sĩ Quan, Hòa Bình,Paris, Quảng Trường...
    Chủ quán cà phê Sĩ Quan là De Beire, người phụ nữ hiếm hoi có mặt rất sớm ở Hà Nội. Đây là nơi tụ họp của những người lính viễn chinh, họ đến quán để gặp bạn bè, đánh bài và giải khát. Đôi khi nước giải khát được thêm vào những cục đá lạnh được chở đến từ Hải Phòng.
    Những quán cà phê Pháp ở Hà Nội là cả một xã hội thu nhỏ giữa cánh nhà binh phiêu bạt và giới cai trị đầy uy quyền của chính phủ bảo hộ. Claude Bourrin cũng mô tả thân phận người bản địa bên phố cà phê, đó là những đứa trẻ đói rách, giành giật nhau để được giữ ngựa cho khách.


    La Pagode – quán cà phê nằm trên góc ngã tư Lê Thánh Tôn – Tự Do (trước là Rue d’Espagne và Rue Catinat). Đây là nơi nhiều gương mặt danh tiếng nhất về văn chương, thơ ca, hội họa, âm nhạc,
    cũng như những tên tuổi lớn trong các hoạt động văn hoá xã hội của Sài Gòn một thời thường có mặt.
    Quán đã bị đập để xây Eden Centre. Hai quán cà phê nữa cũng nổi tiếng bậc nhất của Sài Gòn xưa là Brodard và Givral, cả ba quán cà phê đều nằm trên đường Catinat


    Miền Nam, nói theo ngôn ngữ bây giờ là “đi sau, về trước” trong lịch sử cà phê vì cây cà phê được trồng trước tiên tại miền Bắc nhưng những quán cà phê lại mọc lên như nấm tại miền Nam. Theo nhà văn Sơn Nam [1], tại Sài Gòn khoảng năm 1864, đã thấy xuất hiện hai tiệm cà phê do người Pháp làm chủ, đó là quán Lyonnais trên đường De Lagrandière (sau đổi thành đường Gia Long và nay là đường Lý Tự Trọng) và Café de Paris trên đường Catinat (sau đổi thành đường Tự Do và ngày nay là Đồng Khởi).
    Khách sạn Continental bên cạnh Nhà hát Thành phố cũng có một khu vực cà phê lộ thiên, nói theo ngôn ngữ bình dân là “cà phê vỉa hè”, nhưng ngược lại, đây là nơi sang trọng dành cho khách Tây thuộc địa. Tại khu vực quận nhất, nhiều quán cà phê cũng nhanh chóng xuất hiện như Café de la Musique, Grand Café de la Terrasse, Café des Fleurs... để phục vụ lính viễn chinh lẫn người bản địa giàu có, sớm hấp thụ lối sống phương Tây.

    Thời chiến tranh Việt Nam cũng là lúc các quán cà phê mọc lên như nấm sau mưa. Edith Lederer, nhà báo lão thành của Associated Press, hồi tưởng lại chuyện các quán cà phê Sài Gòn: “Văn phòng của AP nằm trong tòa nhà Eden. Nhà báo chúng tôi ngồi ở Givral, Brodard và La Pagode nói đủ chuyện trên đời và nghe ngóng tin tức”.

    Cái gọi là “Trục Cà Phê” La Pagode-Givral-Brodard đã từng một thời là trung tâm báo chí của chiến tranh Việt Nam, nơi quy tụ những phóng viên hàng đầu về báo chí như Peter Arnett, Larry Burrows... Từ đây những thông tin nóng hổi về cuộc chiến đến tay người đọc khắp thế giới.
    Cũng ở cái “Trục Cà Phê” đó, “Tướng Givral” Phạm Xuân Ẩn quanh năm la cà ở cà phê Givral ngay dưới chân văn phòng của hãng thông tấn AP. Tuy nhiên, ít ai ngờ phóng viên tờ Time này lại là một nhà tình báo của… “phía bên kia”.



    Cà phê “vỉa hè” tại Khách sạn Continental

    Giới bình dân có rất nhiều “địa chỉ” để lui tới với cà phê. Trước nhất là những quán cà phê của các Chú Ba gốc Quảng Đông. Vào đây, khách thường uống cà phê kèm với các món ăn sáng như hủ tiếu, mì hoằn thắn, bánh bao, xíu mại… Khách chỉ có loại “cà phê vớ” hay “cà phê kho” để thưởng thức, có người còn nhúng dầu-cha-quẩy (miền Bắc gọi tắt là “quẩy”) vào ly cà phê, thế là xong một bữa ăn sáng.

    Cà phê “vớ” (dzớ, vợt) là thứ cà phê được để trong một cái túi bằng vải hình phễu. Vợt chứa cà phê để trên miệng siêu (loại siêu sắc thuốc) trước khi chế nước sôi vào, thế là có ngay một ly cà phê thơm phức. Gọi là cà phê “kho” vì chứa trong siêu, nấu đi nấu lại như kho. Nếu “kho” nhiều lần có thể sánh lại, mất hẳn mùi thơm của cà phê, chỉ còn vị như… thuốc bắc trong siêu!


    Siêu đựng cà phê trong các tiệm cà phê của người Tầu vamột quán cà phê người Tàu của Sài Gòn xưa

    Hồi xưa, người “sành điệu” còn nhắp cà phê qua đĩa chứ không uống qua ly. Người ta giải thích khi đổ cà phê từ ly vào đĩa cà phê sẽ mau nguội hơn. Các cụ già còn có thế ngồi một chân chạm đất còn chân kia để trên ghế như vậy sẽ cảm thấy “thoải mái” hơn khi nhâm nhi cà phê sáng.
    Người “sành điệu” cho rằng cách pha cà phê vợt và cách chứa trong siêu đất sẽ giữ độ nóng của cà phê lâu hơn cách pha cà phê trong “phin” (filtre) làm bằng kim loại. Cũng vì thế nhiều người lớn tuổi vẫn trung thành với “cái vợt” hơn là “cái phin” khi việc pha cà phê được cải tiến.
    Trong Sài Gòn Tạp Pín Lù học giả Vương Hồng Sển [2] có viết về một quán cà phê của Sài Gòn xưa như sau, nhưng ông không nói cà phê ở đây pha bằng vợt hay bằng phin:
    “... Từ 1950 cho đến trào ông Diệm, khi quán cóc trước cửa Thảo cầm viên chưa bị trục xuất để chỉnh trang vườn bách thảo và đô thành. Lúc ấy nơi trước cửa vườn mé bên Ba Son có một quán nhỏ bán cà phê, người chủ quán vì tai nạn chiến tranh bị cắt mất một chân nên có biệt danh là “quán thằng Cụt”. Cụt ta đi nạng chống và mỗi lần xê dịch vẫn nhảy cò thọt còn mau lẹ hơn chim nắc nước. Và Cụt sở trường pha cà phê rất đậm rất ngon, cà phê buổi sáng hơi nghi ngút giá chỉ có một đồng rưỡi một tách không sữa”.

    Sang đến thập niên 60 đã có nhiều bước tiến bộ trong cả cách pha chế lẫn không gian cà phê. Góc đường Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực có nhà hàng Kim Sơn với bàn ghế bày ra hiên để các văn nghệ sĩ vừa được dịp uống cà phê vừa được “rửa mắt” ngắm nhìn những người đẹp “bát phố Bonard”. Chủ Kim Sơn là người Tầu nhưng đã biết khai thác tiệm theo kiểu cà phê “lộ thiên” của Paris.



    Cà Phê Kim Sơn Góc đường Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực


    Gần Bệnh viện Sài Gòn trên đường Lê Lợi ngay cạnh rạp Vĩnh Lợi cũng có một nhà hàng với món nổi tiếng là cà phê sữa đá. Sinh viên sĩ quan Thủ Đức sáng chủ nhật được đi phép thường ngồi đây thưởng thức một đĩa bánh mì thịt nguội hay một tô “suông” cho bõ những ngày trên thao trường đổ mồ hôi.
    Lại nói về sinh viên sĩ quan Thủ Đức về phép Sài Gòn. Một số người chọn cà phê Hân trên đường Đinh Tiên Hoàng, khu Đa Kao. Cà phê ở đây không có gì xuất sắc nhưng bầu không khí ấp áp và đặc biệt là cô ngồi caisse khiến nhiều anh cứ Chủ Nhật rời quân trường là đến “trồng cây si”.

    Sau 1975 đi học tập về tôi có ghé cà phê Hân thường xuyên, không phải để uống cà phê vì quán đã đóng cửa mà là kèm Anh văn cho gia đình để sửa soạn đoàn tụ cùng người thân bên Mỹ. Bà chủ nhà thấy thầy cứ phải đi xe buýt đến dạy nên “ưu ái” cho một chiếc xe đạp cũ làm phương tiện di chuyển.
    Tôi sẽ nhớ mãi chiếc xe đạp này dù ngày nay không còn nữa, chiếc xe đã để lại “tình người” nên không thể nào quên. Gia đình cà phê Hân nay đã ở Hoa Kỳ, nếu một duyên may nào đó khiến họ đọc được bài viết này, tôi xin một lần nữa nói lời cám ơn.

    Ở cà phê La Pagode khách không ngồi ghế sắt hay ghế gỗ mà ngồi trên những salon bọc da để phóng tầm mắt nhìn ra con đường Catinat, con đường đẹp và sang nhất Sài Gòn. Ðối diện khách sạn Continental là tiệm cà phê Givral phục vụ thêm các loại bánh ngọt đi kèm. Cà phê Brodard cũng nằm trên đường Catinat với phong cách Tây: có máy lạnh, mặt tiền bọc kính để khách có thể nhìn người qua lại.
    Ði xa hơn một chút có quán cà phê Gió Nam trên đường Richaud (sau đổi là Phan Ðình Phùng và ngày nay là Nguyễn Đình Chiểu). Gió Nam hút khách vì có “cô hàng cà phê”, nước da trắng, hơi có vẻ xanh xao với mái tóc thề mang dáng vẻ liêu trai “hút hồn” khách vãng lai. Cô gái đã đi vào tiểu thuyết của Duyên Anh nhưng không biết nhà văn bụi đời này có trồng cây si cô hàng cà phê hay không.

    Một trong những quán cà phê trang trí có hạng tại Sài Gòn thời chiến tranh phải kể đến Quán Gió trên đường Võ Tánh. Sau được đổi tên là Hầm Gió vì quán nằm sâu dưới lòng đất theo phong cách một hầm rượu ở Châu Âu. Ca sĩ Thanh Lan vẫn thường đến đây giúp vui trong bầu không khí văn nghệ.
    Khánh Ly và Trịnh Công Sơn thuở còn vô danh đã bước vào làng ca nhạc trên sân khấu của Quán Văn nằm trên bãi đất trống sau lưng Đại học Văn khoa Sài Gòn. Khách của Quán Văn là sinh viên vốn ít tiền nên cà phê tại đây cũng có giá “hữu nghị”. Họ đến đây vì tinh thần văn nghệ, Khánh Ly và Trịnh Công Sơn đã có những buổi trình diễn ngoài trời không thù lao và phần thưởng mà “nữ hoàng chân đất” gặt hái được chính là danh hiệu “một hiện tượng của tân nhạc Việt Nam” từ cuối thập niên 60.

    Sài Gòn xưa có rất nhiều quán cóc nhưng ở đó người ta có thể bắt gặp những khuôn mặt nổi tiếng như nhà thơ Bùi Giáng, nhà văn Sơn Nam… ngồi cạnh bác xích lô, chú thợ nề. Tất cả đều chung một sở thích: uống cà phê. Câu nói “đi uống cà phê” trở thành quen thuộc mỗi khi người ta rủ nhau hàn huyên tâm sự ngoài quán dù có người uống thứ nước giải khát khác, không phải là cà phê.



    Cà phê Sài Gòn sau 1975 mang bộ mặt mới trong suốt 10 năm đầu sống trong thời điêu linh, bao cấp và tem phiếu. Trong thời kỳ này, người ta chỉ nghĩ đến gạo và nhu yếu phẩm… đầu óc đâu để nhâm nhi, thưởng thức ly cà phê ngày nào. Nhưng đến thời kỳ Đổi Mới, chuyện uống cà phê như “sống lại”.
    Bây giờ chỉ ngay khu vực Hồ Con Rùa cũng thấy nhan nhản quán cà phê thuộc loại sang trọng. Tên gọi cũng “đổi mới”, nào là Gió Bắc, Window’s Café, Ciao Café… việc kinh doanh cà phê đã trở thành một nghề đòi hỏi tiền của để đầu tư và cả chất xám để quảng bá.

    Nổi bật nhất là một loạt 55 cửa hàng mang thương hiệu Trung Nguyên [3] tại Việt Nam và 5 cửa hàng “nhượng quyền” tại Singapore và Nhật Bản của ông Đặng Lê Nguyên Vũ, người được mệnh danh là “Vua cà phê Robusta” của Việt Nam. Đến nay, cà phê Robusta do Trung Nguyên sản xuất đã có mặt tại 60 quốc gia, ông Vũ cho biết trong một cuộc phỏng vấn:
    “Cà phê Robusta không phải là chất lượng thấp hơn. Lý do chính là do những người yêu thích cà phê trên thế giới được học cách uống cà phê Arabica. Một phần lớn công việc của công ty chúng tôi là nâng cao chất lượng hạt cà phê tại địa phương. Chúng tôi làm việc với nông dân để giới thiệu cho họ về hệ thống tưới công nghệ cao, giảm sử dụng thuốc trừ sâu và tăng thu nhập cho nông dân”
    Khi mới bước chân vào thị trường cà phê Trung Nguyên đã gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh với các đối thủ trong cũng như ngoài nước. Cuộc chạy đua quảng cáo giữa Trung Nguyên và Nestlé với thương hiệu “café hoà tan” mang nhiều điều thú vị. Khi cà phê G7 của Trung Nguyên quảng cáo"giúp suy nghĩ mạnh hơn" thì Nescafé đưa ra thông điệp: "Ngon hơn, vị cà phê mạnh hơn". Phản công lại, G7 phát đi thông điệp "vị cà phê cực mạnh", đáp lại, Nescafé đổi quảng cáo "Bạn đã đủ mạnh để thử" và Trung Nguyên phát ra khẩu hiệu: "Mạnh chưa đủ, phải đúng gu"...


    Một cửa hàng cà phê Trung Nguyên tại Sài Gòn (trái), Nhân viên phục vụ Starbucks tại Sài Gòn (phải)


    Vinacafe Biên Hoà, đối thủ cạnh tranh trong nước với Trung Nguyên cũng đang hồi phục rất nhanh trong những năm gần đây nhưng đáng gờm nhất là cuộc đổ bộ vào “thánh địa cà phê Việt” của người khổng lồ StarBucks thông qua hợp tác với Tập đoàn Maxim Group (Hồng Kông) trong năm 2013.
    Ông Jinlong Wang, chủ tịch của công ty Starbucks tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương cho biết:“Trong tình hình số lượng cà phê được tiêu thụ ở các nước phương Tây đang sụt giảm. Trong khi đó Việt Nam mở ra nhiều cơ hội to lớn. Việt Nam là đất nước với truyền thống yêu cà phê và số lượng người dân có thu nhập trung bình đang tăng lên”.

    Trung Nguyên có vẻ như nóng nảy khi ông Đặng Lê Nguyên Vũ đưa ra nhận xét về Starbucks là "một thứ nước đường có chút mùi cà phê". Khi nói như vậy, ông Vũ chắc muốn nhấn mạnh dân ghiền cà phê ở Việt Nam đã quen uống một thứ cà phê đậm đặc với nhiều công thức pha chế bí mật. Nói như vậy cũng hàm ý người Việt có "gu" uống cà phê rất khác với nước ngoài.
    Tuy nhiên, những ai chưa từng uống loại “cà phê rang đậm” (Darkroast) của Starbucks thì hãy khoan vội kết luận là người nước ngoài chỉ biết uống nước đường có chút mùi cà phê vì đó là một loại cà phê tinh khiết rất đậm mùi cà phê không lẫn lộn các mùi vị tạp nhạp khác.
    Ngay tại Mỹ, giá cà phê Starbucks cũng không rẻ, ít nhất cũng phải trên $4 một ly. Xem ra người Việt trung lưu vào ngồi Trung Nguyên với giá khoảng 20.000 một ly sẽ không bén mảng tới Starbucks, nơi dành cho giới thượng lưu, giới “nhà giàu mới” hoặc giới trẻ “lắm tiền nhiều của”. Trong ngày đầu khai trương tại Sài Gòn, Starbucks đã thành công với hàng dài người xếp hàng chờ được thưởng thức… “của lạ”.

    Ở Sài Gòn tôi đã có lần vào Starbucks. Cách bài trí cũng giống như các Starbucks khác trên khắp thế giới. Có bàn ngoài trời dành cho khách hút thuốc hay thích ngắm xe cộ dập dìu tại Ngã Sáu Sài Gòn. Bên trong tương đối dài nhưng hẹp, có cầu thang dẫn lên lầu để khách có thể nhìn qua khung cửa kính một thế giới di động chạy quanh tượng Phù Đổng…
    Cũng như các Starbucks khác, tại quầy phục vụ khách được hỏi tên để ghi vào ly sau khi nhận hóa đơn thanh toán, bước sang khu pha chế khách chìa hóa đơn, xác nhận tên ghi trên ly và sau đó tự tìm chỗ ngồi mình thích. Có nhiều loại bánh ngọt để dùng kèm với cà phê… lại nhớ đến cái dầu-cha-quẩy thuở nào trong tiệm cà phê hủ tiếu của các Chú Ba!
    Lướt qua khách có mặt tại Starbucks ta thấy số đông là các bạn trẻ ăn mặc thời thượng, có vài người nước ngoài chắc vào đây chỉ để giải khát bình thường… Những khách có tuổi như chúng tôi cảm thấy lạc lõng như vào lầm tiệm cà phê, đó cũng là một trong những mục đích của Starbucks khi đến Việt Nam: Khai thác đối tượng là giới trẻ.
    Để chấm dứt tản mạn về cà phê tôi xin đưa ra một câu hỏi: “Có bao giờ bạn nghĩ cà phê lại liên quan đến… tôn giáo?”. Câu trả lời của tôi là “Có” sau khi khám phá quán The Fig Lounge & Coffee. Rất tình cờ, một “thổ công Sài Gòn” đưa chúng tôi đến đây với lời giới thiệu: “Đi uống café chùa!!!”. Cứ ngỡ anh bạn chơi chữ, “chùa” là “free”, nhưng đến số 15 Nguyễn Thị Huynh (Huỳnh?) quận Phú Nhuận, tôi mới… té ngửa.


    Bức tượng Phật trên hồ sen tại “The Fig” và một Bích họa trong cà phê “The Fig”


    Từ ngoài nhìn vào là một khung cửa không lấy gì làm rộng cho lắm, tấm bảng hiệu “The Fig” cũng nhỏ nhắn được treo phía trên hàng rào bằng gỗ rất… “kín cổng cao tường”. Bước qua khung cửa hẹp khách gặp ngay một bức tượng Phật bằng đá ngồi tĩnh tọa. Người ta thường thấy Đức Phật ngồi trên tòa sen nhưng ở đây Ngài lại ngồi trên một hồ sen, mỉm một nụ cười từ bi nhìn ra phía ngoài.
    Màu xanh của cây cối xung quanh khiến ta bỏ lại sau lưng cả một Sài Thành xô bồ, náo nhiệt. Khách mới chợt “ngộ” ra, trong số cây đó có cây sung (the fig)… Theo Phật giáo, cây, hoa và quả sung cũng được gọi là udumbara (tiếng Phạn là hoa đàm hay ưu đàm hoa).

    The Fig được chia thành hai khu vực để khách tùy chọn chỗ ngồi. Chúng tôi ngồi bên ngoài, phía sau lưng tượng Phật. Ngoài cà phê còn có cả thức ăn sáng, cả chay lẫn mặn, được giới thiệu qua tấm thực đơn rất… ấn tượng và giá cả cũng tương đối “mềm”.


    Một góc ấm áp của “The Fig”

    Tôi tò mò mở cửa vào khu vực bên trong và thực sự bị choáng ngợp bởi cách trang trí của The Fig. Chủ đề hoàn toàn mang tính cách Phật giáo với hàng chục bức tượng, bức lớn nhất là một tượng Phật ngồi ngay “chính điện”, xung quanh là những chiếc salon nhỏ dành cho khách. Trong gian này, có lẽ khách thích nhất là bức bích họa các nhà sư áo vàng che đầu bằng những chiếc lá sen…
    “Chính điện” được ngăn cách bởi chiếc kệ sách nhưng những bức tượng nhỏ trang trí trên kệ sách mới là điểm thu hút người chiêm ngưỡng. Gian kế bên rộng hơn, thiết trí nhiều salon hơn và trên tường nổi bật nhất là 6 bức tượng các nhà sư ôm bình bát tạo thành một hàng dài tăng lữ khất thực.
    Chúng tôi bị cuốn hút vào lối trang trí tôn nghiêm nên quyết định dời từ bên ngoài vào ngồi bên trong để có dịp thưởng thức bầu không khí trang nghiêm bên ly cà phê. Buổi sáng cuối năm trời Sài Gòn bỗng trở lạnh nhưng vẫn thấy ấm lòng giữa không gian tĩnh mịch của The Fig Lounge & Coffee.
    Saigon không thiếu gì cà phê ôm, cà phê võng, cà phê bệt, cà phê cóc, cà phê vỉa hè… nhưng tìm được một quán cà phê “chùa” là cả một duyên may.

    _______________________

    Chú thích:

    [1] Đọc thêm về nhà văn Sơn Nam, “Sơn Nam: Nhà văn miệt vườn” tại
    Code:
    http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/10/son-nam-nha-van-miet-vuon.html
    [2] Vương Hồng Sển (1902-1996): bút hiệu Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai, là một nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng. Ông được xem là người có hiểu biết sâu rộng về miền Nam và rất được kính trọng trong giới sử học và khảo cổ ở Việt Nam.
    Vương Hồng Sển sinh ngày 27/9/1902, tại Sóc Trăng, mang ba dòng máu Việt, Hoa, Khmer. Nguyên tên thật ông là Vương Hồng Thạnh hay Vương Hồng Thịnh, khi làm giấy khai sinh người giữ sổ lục bộ nghi nhầm là Sển (theo cách phát âm tiếng Triều Châu). Ông mất ngày 9/12/1996 tại Sài Gòn, thọ 94 tuổi.
    Một số tác phẩm:
    · Thú chơi sách (1960)
    · Sài Gòn năm xưa (tập I, II 1960, III 1992)
    · Hồi ký 50 năm mê hát (1968)
    · Phong lưu cũ mới (1970)
    · Thú xem chuyện Tàu (1970)
    · Thú chơi cổ ngoạn (1971)
    · Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa (1972)
    · Sài Gòn tạp pín lù (1982)
    · Hơn nửa đời hư (1992)
    · Tự vị tiếng Việt miền Nam (1994)
    · Nửa đời còn lại (1995)

    [3] Tập đoàn Trung Nguyên là một doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh cà phê; nhượng quyền thương hiệu; dịch vụ phân phối, bán lẻ hiện đại và du lịch. Cà phê Trung Nguyên là một trong những thương hiệu nổi tiếng hàng đầu tại Việt Nam và đang có mặt tại hơn 60 quốc gia trên thế giới.
    · 16/06/1996: Trung Nguyên được thành lập tại thành phố Ban Mê Thuột
    · 20/08/1998: Cửa hàng đầu tiên khai trương tại Sài Gòn
    · 2000: Nhượng quyền cửa hàng tại Nhật Bản
    · 2002: Nhượng quyền cửa hàng tại Singapore.
    · 12/2002: Nhãn hiệu cà phê hòa tan G7 của Trung Nguyên ra đời
    · 2008: Thành lập văn phòng tại Singapore
    · 2010: Trung Nguyên xuất khẩu cà phê ra thế giới
    · 2012: Trung Nguyên trở thành thương hiệu cà phê được người tiêu dùng Việt Nam yêu thích nhất.

    Nguồn blog Nguyễn Ngọc Chính






    Last edited by NgV; 03-02-2015 at 15:56.

  2. #2
    Join Date
    Apr 28th 2006
    Location
    Singularity inside BlackHole
    Posts
    18,034
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    1069

    Default



    Cây cà phê không phải ở đâu trồng cũng được. Nhưng quán, tiệm cà phê thì ở đâu cũng có. Sài Gòn bao năm chiến tranh và hòa bình liên tục xuất hiện vô số quán, tiệm cà phê từ bình dân đến sang trọng, từ rẻ tiền đến đắt tiền, từ ồn ào đến lặng lẽ và kể cả từ tối hù đến sáng trưng. Tựu chung có thể Sài Gòn còn thiếu nhiều thứ, nhưng riêng quán, tiệm cà phê thời nào cũng không thiếu. Đơn giản, bởi đó là nơi để ngồi và để nhâm nhi giọt đắng thơm lừng hương vị không thể lẫn vào đâu được vốn dĩ ngày càng trở thành thói quen của nhiều người, kể cả không ít phụ nữ


    Không chỉ cà phê mà còn chỗ ngồi

    Bất kỳ người nào từng trầm ngâm cùng cà phê Sài Gòn cũng đều dễ dàng đồng ý cà phê nói chung là một loại thức uống không phải để giải khát, mà là để đánh thức, làm sống động tinh thần – nhất là sau một đêm ngủ vùi trong hạnh phúc hoặc không hạnh phúc. Nếu ai ghiền cà phê thiển nghĩ đó là cái ghiền dễ thương, không hề gây hại, gây khổ cho người xung quanh như ghiền rượu bia, ma túy, cờ bạc. Hầu như người ghiền cà phê thường ghiền luôn cái chỗ ngồi uống cà phê. Trong hai cái ghiền này, cái ghiền nào quan trọng hơn tùy từng người. Có quán, tiệm cà phê pha chế rất ngon, chỗ ngồi lịch thiệp nhưng khách vào và ra chớp nhoáng. Có quán, tiệm chỗ ngồi lùi xùi, bàn ghế thô mộc nhưng khách vào “như nước sông Đà”, khách ra “như giọt cà phê phin”, lúc nào cũng kín bàn kín ghế. Không ai uống cà phê mà bị say xỉn như uống rượu bia. Nên trong quán, tiệm cà phê rất kỵ nói, cười, văng tục lớn tiếng tưởng quê nhà nào cũng là nhà quê. Đây dường như là sự khác biệt khó nhận ra giữa cà phê Sài Gòn ngày xưa và cà phê Sài Gòn ngày nay đối với những ai chưa trải qua trầm ngâm cùng cà phê Sài Gòn chí ít khoảng từ 40 năm trở lên, tính đến khi đọc bài viết này. Vào quán, tiệm cà phê Sài Gòn mà nói oang oang, cười hô hố, văng tục ỏm tỏi, a lô a lô như tại tư gia cầm bằng không khác gì trường hợp “giàu mà không sang” – dù tiền uống cà phê thua xa tiền ăn nhậu. Bằng hữu đồng lứa tuổi trên “60 năm cuộc đời” cho rằng tôi có thâm niên nhất trong đám về cái khoản trầm ngâm cùng cà phê Sài Gòn. Có lẽ do tôi đã ghiền cà phê và ghiền luôn thú ngồi quán, tiệm cà phê ở Sài Gòn từ năm 1963 liên tục dài dài xuyên suốt cho tới giờ. Nhờ vậy mà được tiếng gắn bó với quê hương trong ý nghĩa “con thảo không chê cha mẹ nghèo”. Trong khi bằng hữu của tôi đứa nào cũng thật lòng muốn được vậy, nhưng vì một thời khổ quá, sự sống và lẽ sống không như ý, nên hầu hết đều lần lượt trở thành “mây bốn phương trời”, đôi ba năm mới có điều kiện quay về cùng tôi trầm ngâm cà phê Sài Gòn mười ngày, nửa tháng rồi lại ra đi cùng trời cuối đất vì nợ áo cơm và vì bao điều ràng buộc của kiếp nhân sinh.



    "Mai tao đi, mày ở lại"


    Không biết có phải vì tuổi tác gia tăng thường kéo theo nỗi niềm hoài niệm một thời đã xa hay không mà hầu như bạn bè tôi mỗi khi có dịp tái ngộ thường hay nhắc lại, nhớ về những địa chỉ cà phê Sài Gòn xưa. Làm sao liệt kê cho hết tiệm, quán cà phê Sài Gòn xưa được cho là nổi tiếng khi mà chỗ ngồi uống cà phê phụ thuộc ý thích, ý muốn từng người và từng nhóm người. Chưa nói có khi sự nổi tiếng chỉ là giai thoại hoặc chỉ là sự thật của người này mà không phải là sự thật đối với người kia. Cà phê Sài Gòn ngày xưa cũng muôn mặt lắm trong một không gian chung bình yên tạm thời được mệnh danh “Hòn Ngọc Viễn Đông” ngày đêm bị vây bủa bởi vô vàn tin tức chiến sự đẫm máu diễn ra cách đó không bao xa. Dường như vì vậy nhìn chung cà phê Sài Gòn xưa luôn chứa đựng đầy ắp sự lịch sự trong từng cử chỉ nhỏ, nhưng thường tràn ngập sự đăm chiêu, trầm ngâm khó tả, tựa hồ bóng dáng chiến tranh quyện trong khói thuốc, quyện trong tách cà phê nóng hổi và rồi lơ lửng trên đầu nhiều người ưa ngồi quán, tiệm cà phê để gặp gỡ bày tỏ, tranh luận và không ít trường hợp chỉ để nói câu “mai tao đi, mày ở lại ráng sống qua cuộc chiến này”. Rồi người ra đi mãi mãi không trở về, mặc cho cây cà phê bao mùa trổ hoa, mặc cho người ở lại trầm ngâm kéo dài nỗi nhớ thương bên tách cà phê lúc sớm mai, khi chiều hôm.

    Những thương hiệu của một thời






    Với dấu ấn như vậy, đến cà phê La Pagode ở góc đường Lê Thánh Tôn – Tự Do (nay là Đồng Khởi) gặp nhiều khuôn mặt nhà văn, nhà thơ kiêm nhà binh. Đến cà phê Givral góc Lê Lợi – Tự Do gặp nhiều nhà báo, phóng viên chiến trường của các hãng thông tấn quốc tế, áo giáp, máy chụp, máy quay kè kè bên mình. Đến cà phê Brodard góc Nguyễn Thiệp – Tự Do gặp nhiều gương mặt chưa thôi hướng về trời Tây hoài niệm một thời vàng son “Bonjour Monsieur”, “Bonjuor Madame”, kể cả sau khi Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương Nguyễn Cao Kỳ ra lệnh cấm các trường dạy chương trình Pháp, cùng lúc cho thiết lập “pháp trường cát” trước chợ Bến Thành xử bắn trùm lúa gạo Tạ Vinh về tội “đầu cơ” để mọi người được nhìn thấy tận mắt.
    Cả ba địa chỉ cà phê nêu trên đều cùng tọa lạc ở những vị trí đẹp nhất trên con đường Tự Do thẳng tắp với hai hàng cây cổ thụ giờ vẫn còn gần như nguyên vẹn. Nhưng cả ba địa chỉ cà phê lâu đời này đã lần lượt bị khai tử, đầu tiên là La Pagode bị khai tử vào năm 1987. Khá nhiều bài báo đã viết về sự kiện này, nhưng biết sao hơn khi nhận thức thay cũ đổi mới được thực thi một cách bò sát, có khi thuần túy chỉ vì chút tiền “xơi liền” mà thôi.

    Tuy nhiên, cà phê Sài Gòn xưa không phải chỉ có bấy nhiêu địa chỉ đó. Còn nhiều địa chỉ khác. Ví dụ ở khu vực Ngã ba ông Tạ có cà phê Thăng Long nằm trong con hẻm khá rộng dắt vô tòa soạn nhật báo Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm (bút danh Thiên Hổ). Đến đây gặp nhiều khuôn mặt cộm cán trên “trường văn trận bút” gốc Bắc di cư 1954 và kể cả vài tên tuổi giang hồ mặc áo lính cùng gốc, như Sơn Đảo (Vũ Đình Khánh) chẳng hạn. Đến khu vực Bàn Cờ, phía gần đầu đường Nguyễn Thiện Thuật tiếp giáp với đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai Q.3) có con hẻm rộng dẫn vô cà phê Năm Dưỡng uống là ghiền vì nghe nói có tuyệt chiêu riêng, đủ sức hấp dẫn nhiều vị khách ban ngày làm dân, ban tối làm vua, nhưng là làm vua trên sân khấu. Rong xe vô khu vực Q.10, gần nhà máy bia, sân banh, trên đường Đào Duy Từ khá rộng và yên tĩnh có cà phê Đa La mở cửa từ sáng sớm tới tối khuya lúc nào cũng đầy khách, đa phần là các chú em học trò những trường Chu Văn An, Petrus Ký sắp thi Tú tài 1 hoặc Tú tài 2, thảy đều bắt chước nhau hút thuốc lá Batos xanh khét lẹt, mặt mũi thường trực vẻ ưu tư bởi mấy câu vè “rớt tú tài anh đi trung sĩ, em ở nhà lấy Mỹ nuôi con, mai này thống nhất nước non, anh về anh thấy Mỹ con đầy nhà”. Chiến tranh sản sinh bao nỗi ám ảnh khó ngờ là vậy!

    Còn một địa chỉ cà phê nữa, rất quen thuộc với nhiều nhà báo quốc nội, nhưng sau 1975 ít thấy nhắc tới. Đó là cà phê Nam Thái tọa lạc đầu con hẻm trên đường Võ Tánh (nay là đường Nguyễn Trãi Q.1) thông qua đường Ngô Tùng Châu (nay là đường Lê Thị Riêng Q.1). Ông chủ tiệm ốm nhom, bà chủ tiệm mập ú, cả hai rất thích nuôi chó mèo. Trên đường Võ Tánh, đoạn từ Ngã Sáu Phù Đổng đến nhà thờ Huyện Sĩ, có nhiều tòa soạn, nhà in báo. Vì vậy, khách uống cà phê Nam Thái hầu hết đều trong làng báo. Ngồi ở đây khỏi cần bỏ tiền ra mua báo đọc cũng biết đủ thứ tin tức trên trời dưới đất.
    Tôi đến cà phê Nam Thái lần đầu tiên theo cuộc hẹn của Duyên Anh. Sau đó tiếp tục đến nhiều lần, gặp gỡ nhiều nhà báo mà mãi về sau này mỗi lần chợt nhớ tôi vẫn không nguôi lòng trân quý. Bởi, như tôi biết, đó là những nhà báo thường trầm ngâm cùng cà phê Sài Gòn để có cho được sự trung thực, sòng phẳng với bản thân và với cuộc đời trước mỗi bài viết ký tên mình. (Theo DDVN)






    Last edited by NgV; 03-02-2015 at 16:37.

  3. Thanks Administrator, anot, El Chapo, TKiem thanked for this post
  4. #3
    Join Date
    Jan 6th 2007
    Posts
    1,436
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    50

    Default

    " Mai tao đi, mày ở lại" . Câu này hồ xưa tui có từng nói với thằng bạn , nhưng chỉ là vuột miệng mà nói ra, không có ẫn bất cứ ý gì vì trong khi tui nói câu đó, hình như tâm trí tui đang để ở TT2 TMNN . Bây giờ nghe người ta nói câu này, thiệt là cảm xúc quá chừng luôn

  5. Thanks El Chapo thanked for this post

Similar Threads

  1. Cà phê Sài Gòn xưa
    By Đỗ Phương Khanh in forum Truyện Ngắn - Hồi Ký
    Replies: 0
    Last Post: 09-27-2014, 20:54
  2. Quán cà phê trên cây độc đáo ở Sài Gòn
    By phng99 in forum Ảnh Đẹp - Cool Pics
    Replies: 2
    Last Post: 07-11-2014, 23:13
  3. Replies: 0
    Last Post: 04-29-2014, 19:51
  4. Một Thời Cà Phê Sài Gòn
    By hatat in forum Phóng Sự
    Replies: 0
    Last Post: 03-02-2012, 20:05
  5. Một Thời Cà Phê Sài Gòn
    By NgV in forum Phóng Sự
    Replies: 24
    Last Post: 01-09-2011, 16:50

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •