Results 1 to 23 of 23

Thread: Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương

  1. #1
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương





    Bìa trước và sau của tác phẩm Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương.


    Lời nói đầu của nhà xuất bản

    Đặt tựa đề " Trăm Hoa Vẫn Nở..." cho tuyển tập này, chúng tôi có ý làm một việc tương tự công trình sưu tập văn liệu mà cụ Hoàng Văn Chí đã làm vào thập niên '50 với cuốn: " Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc ". Chúng tôi cũng muốn ghi lại những chứng tích của một cuộc đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền khởi đi từ những người trong nước hiện nay. Trước đây cụ Hoàng đã viết:

    " Bốn mươi năm một thuở " (nhân dịp hạ bệ Stalin), họ (nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm) đều đứng dậy đấu tranh chống đảng, đòi phục hồi quyền tự do tư tưởng... Trí thức ở miền Bắc đã sản xuất được trên một trăm bản văn có giá trị. Cộng Sản coi những bản văn ấy là những "cỏ độc", nhưng chúng tôicoi những tác phẩm của họ như một " trăm hoa thực sự ".

    Hôm nay, lại có những người cầm bút nổi dậy đòi phục hồi quyền tự do bất tử ấy:

    " Hoa Vẫn Nở..."

    Ở chủ đề này, chúng tôi nhận định rằng:

    " Hiện có cao trào phản kháng ở trong nước ".

    Đây không chỉ là một " phong trào văn nghệ " mà còn xuất hiện đồng thời một cao trào quần chúng đón nhận, thôi thúc và cổ võ dòng văn chương thịnh nộ trong nước. Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt giữa " trăm hoa " bây giờ với " trăm hoa... trên đất Bắc ". Nhân Văn-Giai Phẩm trước kia chưa ai có thể đặt thẳng các câu hỏi như bây giờ:

    - " Có hay không một khuynh hướng phủ nhận 40 năm văn học Xã hội Chủ nghĩa ".

    - Có hay không " cái tâm lý muốn phủ nhận, xóa sạch ".

    Hồi đó cũng chưa có ai dám nói toạc ra trước mặt giới lãnh đạo Đảng và lãnh đạo văn nghệ rằng đời Lê, đời Trần đánh thắng ngoại xâm đâu cần đến sự hổ trợ của phe Xã hội Chủ nghĩa; họ chưa dám công khai phán xét công tội của giới lãnh đạo, của đảng! " Trăm Hoa Trên Đất Bắc " là một thiểu số văn nghệ sĩ làm một hành động bất khuất. Thiểu số ấy đã sớm phản tỉnh vì thấy cái tệ hại của chế độ chuyên chính, trong khi hầu hết dân miền Bắc lúc ấy chưa " mở mắt " hoặc còn sợ sệt. Bây giờ, thế giới ai cũng đã " sáng mắt " cả rồi.

    Chúng tôi tin rằng các văn bản xuất hiện ở Việt Nam trong giai đoạn 1986-1989 sẽ là những " sử liệu quý báu cho các sử gia mai sau viết về một thời đại đen tối của dân tộc mang tên Thời đại Xã hội Chủ nghĩa ".

    Đi vào việc hình thành Tuyển Tập, chúng tôi đã không tránh khỏi một vài điểm chưa thỏa đáng:

    Vấn đề tuyển chọn tác giả, tác phẩm, văn liệu và dữ kiện thông tin trong nước: Số lượng tài liệu chúng tôi thu lượm được so với khối lượng sáng tác trong giai đoạn phản kháng vẫn còn quá ít ỏi. Có tác giả được nhận định là tiêu biểu cho dòng văn chương phản kháng thì chúng tôi lại không tìm được tác phẩm của họ. Lại có những tác phẩm rất căn bản đã được nhiều tác giả khác trích dẫn như rường cột tư tưởng phản kháng nhưng không chuyển được ra nước ngoài. Dẫu sao tài liệu hiện có ở đây cũng đã thể hiện rõ nét đa diện và đa nguyên bởi sự khác biệt về động lực phản kháng, đối tượng phản kháng và cường độ phản kháng.

    Chúng tôi cũng tin rằng các văn bản (tài liệu báo chí, các tác phẩm văn, thơ, ký, kịch, điện ảnh...) trong Tuyển Tập này sẽ đóng góp một số dữ kiện cần thiết cho các cuộc thảo luận giữa những người Việt trong khuôn khổ đấu tranh cho Tự do-Dân chủ và Nhân quyền tại Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi đã gom góp và lựa chọn một số sáng tác, tham luận có hệ thống cũng như cảm nghĩ tản mạn của những người đang thao thức vì vận mệnh tổ quốc trong thập niên giao thừa này.

    Về số lượng các bài viết xuất hiện trên nhiều tạp chí hải ngoại, chúng tôi chỉ xin trích đăng một ít vì sách đã quá dầy.

    Lời cuối, xin để tỏ lòng thành thật cám ơn bằng hữu gần xa đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp chúng tôi từ bước khởi đầu cho đến ngày ra mắt Tuyển Tập này.

    Kính chào
    Nhà Xuất Bản Lê Trần
    California, USA
    Tháng Bảy năm 1990

  2. #2
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Phần Một:


    Bối cảnh và diễn tiến


    Từ Nhân Văn-Giai Phẩm đến cao trào văn nghệ phản kháng 1986-1989


    Bài viết của tác giả Thân Trọng Mẫn (từ trang 15 đến trang 48)

    Sau đại hội lần thứ 20 của đảng Cộng Sản Liên Xô phê bình tệ sùng bái cá nhân, các đảng cộng sản trong phe xã hội chủ nghĩa đều tiến hành phê bình và đã phát hiện ra một số khuyết điểm và sai lầm trong công tác lãnh đạo của mình bên cạnh những ưu điểm và thành công to lớn và là căn bản. Bọn đế quốc đã nhân cơ hội đó gây ra được vụ lộn xộn ở Po-dơ-nan.

    Trong nước, Trung ương đảng Lao động Việt Nam cũng tự phê bình và phát hiện được những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.

    Nhân cơ hội đó tất cả các lực lượng... đối lập với chủ nghĩa xã hội đều ngóc đầu dậy chống lại sự lãnh đạo của đảng và chính phủ. Bọn phản động trong Công giáo hành động phá rối trật tự ở Nghệ An, Nam Định. Bọn phản động trong các dân tộc thiểu số " xưng vua " ở một vài miền rẻo cao... Một số địa chủ vừa bị đánh đổ liền ngóc đầu dậy, cấu kết với bọn phản động trong tôn giáo và bọn lưu manh, bọn tề ngụy cũ, đánh chửi nông dân để báo thù. Những phần tử khiêu khích phá hoại xúi dục một số thương binh làm mất trật tự ở một vài địa phương...


    Từ Nhân Văn số 4 trở đi, tức là sau khi bọn phản cách mạng ở Hung-Ga-Ri được bọn đế quốc giúp đỡ, đã thực hiện được vụ bạo động phản cách mạng ở Bu-đa-pét, thì chúng đã chuyển hẳn sang chống đối về chính trị, kích động quần chúng biểu tình chống lại đảng và chính phủ ta nhân lúc Quốc hội ta đang họp...


    Đoạn văn chúng tôi vừa trích dẫn hơi dài dòng, nhưng đó chỉ là phần dẫn nhập cho một bản cáo trạng dài gần 400 trang, mang tựa đề " Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm trước tòa án dư luận " do nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội phát hành gồm bài Viết của 84 tác giả, trong đó đủ các khuôn mặt " lãnh đạo văn nghệ " đương thời như Trường Chinh, Tố Hữu, Trần Độ, Hà Xuân Trường, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Như Phong, Chính Hữu, Bùi Hiển... Đối chiếu với hoàn cảnh hiện tại, cả trên mặt trận quốc tế lẫn quốc nội, những điều vừa trích dẫn từ bản cáo trạng xem ra khá tương đồng với những gì đang xẩy ra trong nước hiện nay, chỉ khác chút ít về mức độ và tầm ảnh hưởng. Nếu trước đây bước chuyển động bắt đầu từ bản báo cáo chính trị của Kroustchev tại đại hội đảng Cộng Sản Liên Xô lần 20, tố cáo tội ác của Stalin và khởi đầu chính sách " xét lại " thì nay cũng từ Mạc Tư Khoa, ảnh hưởng của chính sách Glasnost (cởi mở) và Perestroika (tái cấu trúc) do Gorbachev chủ trương đã đánh động một sự chuyển hóa trọn khối xã hội chủ nghĩa; nếu trước đây cuộc phản kháng bắt đầu từ công nhân và nghiệp đoàn Đông Đức (ở Podzan) và làm rung chuyển toàn khối Đông Âu trong cuộc cách mạng của Hungary thì nay cũng chính giai cấp công nhân (đội ngũ tiên tiến và cách mạng nhất của xã hội chủ nghĩa!) đã bắn phát súng lệnh tại Ba Lan và đưa đến cuộc cách mạng vĩ đại 1989 trên toàn khối cộng sản thế giới, giải thể chế độ Cộng Sản tại bảy nước Đông Âu, Nicaragua và Mông Cổ.

    Tại Việt Nam, nếu trước đây là cuộc nổi dậy của giáo dân tại Nghệ An, Nam Định, cuộc chiến du kích của các dân tộc thiểu số miền " rẻo cao ", cuộc đề kháng âm ỉ tại nông thôn sau cải cách ruộng đất, sự bất mãn của thương binh và cựu kháng chiến... thì nay là một phong trào quần chúng rộng lớn và liên tục của các lực lượng tôn giáo, các lực lượng dân tộc thiểu số tại cao nguyên, các phong trào kháng chiến toàn dân, cuộc đấu tranh trực diện của thương bệnh binh, bộ đội phục viên và hàng ngũ cựu kháng chiến... Nếu trước đây là cuộc phản kháng của văn nghệ sĩ và trí thức của phong trào " Trăm hoa đua nở " mà cao điểm đã thu hút được 304 người tham dự, thì nay là một cuộc bừng nở của một cao trào văn nghệ phản kháng trên quy mô toàn quốc với sự dính dự của bốn thế hệ văn nghệ sĩ và trí thức trong cả nước.

    Sau 30 năm, lịch sử lại tái diễn gần như trùng hợp, nhưng xét về kích thước, những vận động đang xảy ra trong nước, và nói riêng cao trào văn nghệ phản kháng của văn nghệ sĩ và trí thức, đã có những bước tiến rất căn bản về số lượng lẫn chất lượng. Về phía nhà cầm quyền, những người lãnh đạo chính trị cũng như những người lãnh đạo văn nghệ của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam hiện nay, xét về mặt lý luận văn học cũng như về ngôn ngữ phê phán, ta thấy " một sợi chỉ đỏ xuyên suốt " trong lập trường và phản ứng của họ. So sánh những bài phát biểu của Trường Chinh, Tố Hữu... của thời Nhân Văn-Giai Phẩm với bài nói chuyện của Nguyễn Văn Linh tại hội nghị Trung Ương đảng kỳ 7 (khóa VI) và kết luận của bộ chính trị BCH đảng CS Việt Nam " về công tác văn hóa và tư tưởng ", cũng như các bài diễn văn của Đỗ Mười tại đại hội nhà báo, đại hội nhà văn lần IV năm 1989, rõ ràng lập luận và từ ngữ vẫn y khuôn, cũng " cuộc đảo chính phản cách mạng ", " âm mưu xảo quyệt của bọn đế quốc và các loại phản động ", " dân chủ xã hội chủ nghĩa, về bản chất, như Lenin nói, gấp triệu lần dân chủ tư sản... ", sự sáo mòn về từ ngữ, sự hóa thạch của tư duy, và sự lão suy về tư tưởng của các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam càng khiến họ trở thành thù địch với nhân dân, cô với toàn thế đang sôi sục chuyển mình.

    Và hiện nay, dù các biện pháp công an tư tưởng và trấn áp văn hóa được đảng thi hành dưới những hình thức " quy chụp chính trị ", " chỉ điểm văn nghệ ", " uốn nắn những lệch lạc ", " báo động giả "... thậm chí cả sự đích thân hiện diện nhằm hăm dọa của Cố vấn đảng Lê Đức Thọ, và Trung tướng Cục An ninh Dương Thông tại đại hội nhà văn lần IV, phong trào văn nghệ đối kháng của giới văn nghệ sĩ và trí thức trong nước cũng không bị dập tắt, điều này chứng tỏ, vào đầu thập niên 90, do xu thế thời đại, do sự liên đới của giới cầm bút và do sự hổ trợ của đại khối dân tộc, công cuộc vận động tự do dân chủ và thịnh vượng cho đất nước, mà cao trào văn nghệ phản kháng là một bộ phận, đang dành được ưu thế, có đủ tiềm năng và khả năng vượt thắng guồng máy kềm kẹp của đảng.

    Để nhìn rõ các kết quả đấu tranh của giới văn nghệ sĩ và trí thức, bài này sẽ phác lược diễn tiến của trọn phong trào phản kháng kể từ thời kỳ Nhân Văn-Giai Phẩm đến nay, mà trong đó giai đoạn 1986-1989 chỉ là một cao điểm, một thành quả vận động khi công khai khi âm thầm, mà giới cầm bút, giới làm văn hóa đã thực hiện suốt 35 năm dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Do sự nghèo nàn về tài liệu cũng như khả năng vô cùng giới hạn của người viết, bài viết này không có tham vọng phân tích và tổng kết cả một thời kỳ văn học mà chỉ nhấn mạnh những khuynh hướng phản kháng trong giai đoạn đó.

    I. Từ Trăm Hoa Đua Nở:

    Đúng như lời cụ Nguyễn Mạnh Tường trả lời ông Phạm Trần trên báo Độc Lập (Tây Đức) tháng 11 năm 1989, phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm: " không hề chống đối đảng ".

    Thực vậy, căn cứ trên nội dung ghi lại trong tuyển tập " Trăm hoa đua nở trên đất Bắc " do cụ Hoàng Văn Chí giới thiệu, nhóm văn nghệ sĩ tập họp trên các tạp chí Giai Phẩm, Nhân Văn và Văn (1956-1958), có đòi quyền tự do sáng tác trong một giới hạn nào đó nhưng không hề phủ nhận quyền lãnh đạo của đảng, những bài thơ " chống tham ô lãng phí " hay " cùng những thằng nịnh hót " quả có quyết liệt, nhưng cũng chỉ trong khuôn khổ chống tiêu cực mà trên hình thức, đảng vẫn cho phép phát biểu trong những buổi phê bình và tự phê nội bộ, " Ông Bình vôi " của Phan Khôi hay " Con ngựa già của chúa Trịnh " của Phùng Cung có " phạm thượng " thật nhưng đâu có phạm thượng bằng Trạng Quỳnh hay Cao Bá Quát thời phong kiến!. Có vấn đề nhất là những bài thơ " Hãy đi mãi " hay " Nhất định thắng " quả thật có thể làm người ta hiểu " bóng gió ", nhưng tác giả vẫn kêu gọi " hãy đi mãi như những người cộng sản ", hoặc sát thời cuộc như bài tham luận của cụ Nguyễn Mạnh Tường đề cập trực tiếp đến những sai lầm trong cải cách ruộng đất, thì lập luận của cụ nào khác gì lập trường đảng trong việc tự phê bình về những sai lầm do chính Hồ Chí Minh nhận lỗi trước nhân dân.

    Thơ văn của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ nhằm vào những một mục đích khá giới hạn: kêu gọi một sự độc lập tương đối trong sáng tạo, phản ứng những mặt tiêu cực của chính quyền, họ chưa dám (hay vì bước đầu dọ dẫm nên chưa muốn) đề cập đến những vấn đề CĂN NGUYÊN của chế độ như bản chất của chủ nghĩa xã hội, sự hình thành giai cấp mới, tính lão suy của bộ máy nhà nước và đảng, quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, quan điểm về nhân bản và tự do... là những vấn đề được trực tiếp nêu lên 30 năm sau (1986-1989).

    Dù với mục đích hạn chế như vậy, phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm đã chịu những hậu quả thảm khốc, bằng thủ đoạn vu khống chính trị, đảng đã thổi phồng vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm như một âm mưu khuynh đảo quốc tế với sự tham dự trực tiếp của Mỹ và miền Nam, tất cả những từ ngữ thô bỉ nhất, hằn học nhất đều được sử dụng nhằm bôi nhọ các nhà văn của phong trào: Thụy An bị gọi là " con phù thủy xảo quyệt ", Nguyễn Hữu Đang bị coi là " quân sư quạt mo ", Trần Đức Thảo bị mỉa mai là " triết gia phản bội chân lý ", Trần Dần là " một tâm hồn đồi trụy ", Hoàng Cầm là một " tên bội bạc "... (Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm trước tòa án dư luận , từ trang 42-104).

    Cả một phong trào quần chúng, mít tinh, biểu tình, học tập... được bộ máy đảng huy động để áp đảo nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, tất cả những ngôn ngữ bôi bẩn đầu đường xó chợ nhất đả được sử dụng trong suốt gần hai năm (1958-1959) để đấu tranh chống Nhân Văn-Giai Phẩm, điểm làm cho hậu sinh chúng ta tê tái (chữ của Hoàng Ngọc Hiến khi phê bình truyện Nguyễn Huy Thiệp) là những lời chửi rủa độc ác xách mé nhât lại là do những nhà văn, nhà thơ mà chúng ta vẫn kính trọng tài năng từ thời tiền chiến và kháng chiến như Tế Hanh, Hoài Thanh, Phạm Huy Thông, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu...

    Tại sao cả guồng máy đảng, chánh quyền phải huy động toàn lực để chỉ đối với 34 văn nghệ sĩ của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải nhìn lại bối cảnh chính trị của chế độ CS vào thời điểm 1956-1958... Vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp, để huy động toàn lực quốc dân, đảng cộng sản phải dương lá cờ dân tộc làm bình phong vận động quần chúng, đảng phải tự giải tán và lui vào bóng tối để củng cố lực lượng và đào tạo đội ngũ cán bộ trung kiên (mà tên gọi phổ cập là Việt Minh: chính phủ Việt Minh, mặt trận Việt Minh, bộ đội Việt Minh) nếu đại đa số là nông dân thì thành phần lãnh đạo trung cao (cả trong bỗ đội lẫn ủy ban kháng chiến) đa số là tiểu tư sản (trí thức, tiểu thương, tiểu chủ, phú nông...), số lượng cán bộ cộng sản, dù nắm những chức vụ quyết định, vẫn còn là thiểu số.

    Khi tiếp thu miền Bắc, guồng máy kháng chiến trở về thành cũng với cơ cấu nhân sự như vậy. Trong mục tiêu " dọn sân để xây dựng chủ nghĩa xã hội ", đảng đã vội vã phát động chiến dịch " cải cách ruộng đất " nhằm triệt tiêu thành phần tiểu nông, trung nông, phú nông và địa chủ tại nông thôn, mặc dù các thành phần này, tự thân họ, hoặc con em họ, lại là thành phần lãnh đạo hoặc tham gia tích cự kháng chiến. Nhằm đánh gục các thành phần này, đảng đã huy động một thiểu số đảng viên và thổi phồng một số vô lại tại địa phương được mệnh danh là " bần cố nông cốt cán " để thành lập những đội cải cách với toàn quyền sinh sát trên nông thôn. Hậu quả là, do cuồng tín, vô học và thù hận, chính sách này đã gây những bất mãn, căm phẫn của đại khối nhân dân, và đặc biệt, của chính các thành phần cán bộ có công với kháng chiến, chính họ đã chống đối đảng mãnh liệt nhất, họ đã cầm đầu các cuộc nổi loạn vũ lực khắp miền Bắc mà đảng không thể bưng bít và đành thú nhận qua phần trích dẫn đầu bài.

    Sự thất bại của chính sách cải cách ruộng đất khiến đảng phải thay đổi chiến lược, lùi một bước tại nông thôn và nắm vững lại hệ thống đảng bằng một cuộc tổng thanh lọc các tầng lớp tiểu tư sản trong guồng máy đảng và chính quyền, mà đặc biệt hai thành phần trí thức tiều tư sản và văn nghệ sĩ đã được ưu tiên chiếu cố. Cuộc đàn áp phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm nằm trong chiều hướng đó.

    Trong màn cuối của cuộc đàn áp, hai hội nghị của văn nghệ sĩ, thực chất là hai phiên tòa án nhân dân đã được tổ chức để chứng kiến 34 thành viên của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, sau khi làm việc với công an văn hóa, phải ra trình diện nhận tội - họ và những người liên hệ " đã tự giác, tự phê bình " trước đại hội.

    Ngoài 34 nhân vật được nêu tên, bản cáo trạng còn dành một án treo cho tất cả giới văn nghệ sĩ bằng một câu thòng: " nhưng đó không phải là tất cả (còn những tên chưa ra mặt) ". (Bọn Nhân Văn-Giai Phẩm trước tòa án dư luận, trang 309-310, nhấn mạnh của người viết).

    Bản án treo này mới thực sự tàn nhẫn, tất cả những nhà văn nhà thơ nào tỏ ra còn chút bất khuất, không tự nép mình trong khuôn khổ đảng, đều bị ghép vào tội " liên hệ với Nhân Văn-Giai Phẩm " hoặc " ủng hộ bọn Nhân Văn-Giai Phẩm ", như nhà thơ, kịch tác gia Đoàn Phú Tứ bị đấu tố đến mắc bệnh tâm thần, như nhà thơ Nguyễn Bính bị bao vây kinh tế đến nỗi chết lạnh giữa đêm giao thừa, miệng còn chóp chép thèm cơm (thơ Trần Mạnh Hảo), hoặc suốt đời sẽ là kẻ " có vấn đề " như Trương Chính tự thuật trong bài " Mấy ý kiến chung quanh việc đảng lãnh đạo văn nghệ ".

    Hiển nhiên tất cả các biện pháp trấn áp không phải chỉ nhằm vào cá nhân các thành viên trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, bản án 15 năm tù đối với Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Thiếu Bảo (chúng ta tự hỏi bây giờ đã 32 năm sau, không biết các vị này đã được phóng thích chưa?), hoặc là truất hết quyền cầm bút, quyền công dân, bao vây kinh tế và cô lập về tinh thần khiến tất cả các nạn nhân đều trở nên các công dân mạt hạng trong đáy tầng xã hội. Biện pháp trấn áp này nhằm khủng bố tinh thần đối với mọi văn nghệ sĩ khác, gây cho họ một tình trạng lo âu thường trực, sợ hãi thường xuyên, để biến họ thành một đám cừu non dễ bảo.

    Sợ hãi trở thành một bản tính thứ hai của văn nghệ sĩ dưới chế độ cộng sản. Ta hãy nghe Nguyễn Minh Châu mô tả một hoạt cảnh về nhà văn Nguyễn Tuân: " một nhà văn đàn anh nâng chén rượu lên giữa đám đàn em: Tao còn sống đến bây giờ là nhờ biết sợ! ". Nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt tuôn lả chả, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng ". (Hãy đọc " Lời ai điếu cho một thời văn học minh họa ").

    Nỗi sợ hãi một cách bi phẫn như vậy là số phận chung của cả một thế hệ nhà văn cuối thập niên 50 và kéo dài cho mãi tới gần đây. Nguyễn Tuân dù sao cũng còn được xưng tụng là cương trực, thẳng thắn, và khi mất đi còn được hậu thế " ca tụng cái đức " không chịu hèn " của một người cầm bút trung thành với chính mình " (Phạm Xuân Nguyên - Cái hèn của người cầm bút, Sông Hương số 31), còn những nhà văn khác, không có tài năng và thành tích như ông, tình trạng còn bi thảm đến chừng nào.

    Như vậy xét về măt Văn học sử, qua vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, không phải đảng chỉ triệt tiêu sự cống hiến cho văn học của 34 nhà văn thành viên của phong trào và chừng 70 nhà văn nhà thơ bị quy kết là liên hệ với họ, mà đảng đã hủy hoại một thế hệ văn nghệ sĩ đã thành danh từ thời tiền chiến. Giờ đây (1990) nhắc đến các nhà văn tiền chiến, ta vẫn nghĩ đến một thế hệ vang bóng một thời, nhưng vào cuối thập niên 50, tất cả họ chỉ mới trên dưới 40, cái tuổi sung sức nhất của sáng tạo. Quả thật, dù khe khắt đến đâu, chúng ta cũng phải xác nhận những Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Thanh Tịnh... là những tài năng xuất chúng, ở lứa tuổi 20, họ đã có những tác phẩm rực rỡ trên văn đàn như Thơ Thơ, Lửa Thiêng, Bỉ Vỏ, Điêu Tàn, Mấy Vần Thơ, Quê Ngoại...

    Vậy mà kể từ khi họ chịu khuất phục, gậm nhấm " cái hèn " trong thân phận cầm bút, văn phong họ cũng trở thành " hèn " luôn, họ chỉ có thể sáng tác được những bài vè tuyên truyền, những bài văn nhạt nhẽo, phần nhiều họ kéo dài kiếp sống thêm 30 năm nữa, nhưng sự nghiệp văn học của họ coi như chấm dứt từ ngày đầu của chế độ cộng sản.

    (còn tiếp)

  3. #3
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    II. Sinh hoạt văn nghệ và những trường hợp phản kháng trong nền văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa.

    Sau khi thanh toán được cuộc vận động của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, đảng bắt đầu công cuộc tổ chức và đoàn ngũ hóa giới văn nghệ sĩ.

    1) Về phương diện tổ chức, cơ quan chỉ đạo hàng ngũ văn nghệ sĩ là ban Tuyên Huấn trung ương trực thuộc ban bí thư T.Ư. đảng, ban này trước đây do Tố Hữu lãnh đạo, và hiện tại do Trần Trọng Tân nắm giữ, nhiệm vụ ban này là phụ trách công tác tư tưởng, giáo dục chính trị và tuyên truyền, phổ biến chính sách đảng; song song với ban Tuyên Huấn, ban Văn Hóa Văn Nghệ phụ trách các sinh hoạt văn học nghệ thuật bao gồm từ sân khấu âm nhạc , hội họa, điêu khắc đến các bộ môn thi ca, văn chương... Vai trò của ban Tuyên Huấn và ban Văn Hóa Văn Nghệ có tính cách chỉ đạo chứ không phải quản lý. Từ năm 1989, cả hai ban được sáp nhập làm một với tên mới: Ban Tư Tưởng-Văn Hóa Trung Ương và hiện do Trần Trọng Tân phụ trách.

    Ở trên cả hai ban là một nhân vật thuộc bộ chính trị, thường được xem là " lý thuyết gia " của đảng, nắm vai trò chỉ đạo tối cao. Trường Chinh, sau khi mất chức tổng bí thư đã nắm chức chưởng này, và hiện nay Ủy viên bộ chính trị Đào Duy Tùng đã kế vị Trường Chinh đặc trách công tác văn nghệ và tư tưởng.

    Xem như thế quả thực đảng đã " chiếu cố đặc biệt " tới thành phần văn nghệ sĩ, một điều khá bất hạnh đối với giới cầm bút là các nhà lãnh đạo chính trị của đảng lại " sính văn nghệ " và thích có tên trong văn học sử. Thực vậy, giở những sách văn học sử của chế độ, ta thấy một sự sắp xếp rất nghiêm chỉnh, theo thứ bậc rõ ràng, một ưu tiên minh bạch những tên tuổi các " nah2 văn nhà tho " Hồ chí Minh, Sóng Hồng (tức Trường Chinh), Lê Đức Thọ, Tố Hữu, Xuân Thủy... vào phần đầu trang trọng nhất của quyển sách. Có những " nhà văn ", " nhà lý luận văn học " sai tùy viên viết một số bài phát biểu hay hồi ký để được trích dẫn một cách kính cẩn và có một chỗ đứng rất uy nghi trong văn học sử như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Chí Thanh...

    Điều làm phiền lòng giới văn nghệ sĩ nhất là các " văn hữu sang trọng " đó là (chữ của Tố Hữu) lại hay có nhiều ý kiến và thắc mắc, lệnh lạc khá bất nhất trong lãnh vực không chuyên môn của mình. Thí dụ, không biết vì lý do gì, " nhà lý luận văn học " Hoàng Văn Hoan lại thù ghét nhà văn tả thực xã hội Vũ Trọng Phụng, người đã mất từ thời tiền chiến, do đó khi đề cập đến tác giả Số Đỏ, giới phê bình miền Bắc phải phê phán thật hằn học tính chất " dâm ô đồi trụy " trong tác phầm của họ Vũ. Thế nhưng sau khi Hoàng Văn Hoan đào thoát sang Trung Hoa, Vũ Trong Phụng được đánh giá lại là một nhà văn " tiến bộ ", " có tinh thần cách mạng "...

    Một thí dụ khác, do những hiềm khích từ thời Mặt Trận Bình Dân (1936-1939), vị phán quan tối cao Trường Chinh đặc biệt quan tâm đến các nhà văn Khái Hưng, Nhất Linh (" vise " như lời Xuân Diệu kể lại với thân nhân ở miền Nam vào năm 1978, nhà thơ cũng bị " vise " vì ông có thời là " thành viên dự khuyết " của Tự Lực Văn Đoàn thời tiền chiến), do đó khi buộc lòng nhắc đến Nhất Linh, Trương Chính đã phê bình: " rồi gặp những người chủ trương khác mình, ông ta chống lại và theo con đường đó, dần dần ông ta tách rời khỏi nhân dân, phản lại quyền lợ nhân dân, của dân tộc " (Mấy ý kiến xung quanh việc đảng lãnh đạo văn nghệ. Trương Chính: Văn học số 2 tháng 4 năm 1989, Hà Nội).

    Nhận định về Nhất Linh như vậy tưởng là đã đúng lập trường, nhưng sau đó lãnh đạo văn nghệ đã bắt bẻ Trương Chính " lập trường không rõ ràng, không dứt khoát " vì " trên các chữ " i " tôi không đặt dấu chấm ", chẳng qua chỉ vì Trương Chính, một nhà phê bình văn học đã thành danh từ thời tiền chiến, do lương tâm chức nghiệp, đã dám có nhận xét khá công bình về Nhất Linh: " tâm sự của Nhất Linh ký thác vào văn chương là một tâm sự sâu sắc ".

    Một nhận xét có tính cách lương thiện trong một bài phê bình có " nhiều câu nịnh mà rất ít câu trung ", nói như ngôn ngữ Nguyễn Minh Châu, đã khiến Trương Chính bị trù dập suốt đời như chính lời cụ tán thán: " Các đồng chí đại diện đảng, sống cạnh tôi và có quyền quyết định sinh mệnh chính trị của tôi. Từ đó về sau, tôi trở thành " con người phức tạp ", nhận định này theo tôi như một định mệnh! Từ trường đại học nọ đến trường đại học kia, ai cũng tin thế!!... ". (Mấy ý kiến chung quanh...)

    Tuy nhiên, sau khi Trường Chinh mất, các bài phê bình, nhận định về Nhất Linh, Khái Hưng... lại " thoáng " hơn, về phần chính trị vẫn còn nghiêm khắc, đúng đường lối, nhưng về lãnh vực văn chương lại được đánh giá lại, công bình và lương thiện hơn, và nhiều khi còn được xưng tụng nữa.

    Hai thí dụ vừa nêu cho ta thấy là nhà văn dưới chế độ CS không phải chỉ cần thấm nhuần chính sách của đảng mà còn phải có khả năng đoán ý lãnh tụ, nếu không thì có thể vô tình " phạm húy " và bị ảnh hưởng suốt đời. Từ đó ta mới hiểu tại sao gần đây giới lãnh đạo văn nghệ lại phản ứng lồng lộn trước bài " về một phương diện của quan hệ giữa chính trị và văn nghệ " của Lại Nguyên Ân. Trong bài tiểu luận này, ông Lại Nguyên Ân đã chọc vào tử huyệt của bản chất giới lãnh đạo chính trị và văn nghệ cao cấp khi ông ví von nền văn nghệ ấy có tính cách " cung đình ", " tao đàn ". Sự chỉ đạo của giới lãnh đạo chính trị và văn nghệ của nền văn học XHCN quả thực mang đầy đủ tính khe khắt, tùy tiện, chủ quan, duy ý chí và độc đáo của một chế độ quân chủ phong kiến.

    2) Về mặt hành chánh, văn nghệ sĩ đặt dưới quyền quản lý của hai bộ Thông Tin (do Trần Hoàn làm bộ trưởng) và bộ Văn Hóa (trước đây Cù Huy Cận là bộ trưởng nay là Trần Văn Phác), tương tự hai ban Tuyên Huấn và ban Văn Hóa Tư Tưởng, bộ Thông Tin có quyền hạn cao hơn, có cơ sở tại địa phương (ty Thông Tin Văn Hóa tại tỉnh, thành phố, ban thông tin văn hóa tại huyện, phường, xã...), trong khi phần vụ của bộ văn hóa nằm ở trung ương, phụ trách các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, viện bảo tàng, thư viện, bảo tồn di tích lịch sử và văn hóa...

    Đối với các văn nghệ sĩ không ở trong biên chế nhà nước, họ được quản lý trong mạng lưới hội đoàn mà đứng đầu là Ủy ban trung ương liên hiệp Văn Học Nghê Thuật Việt Nam hiện do Cù Huy Cận làm chủ tịch: Ủy ban này là hậu thân của Hội liên hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam, đi ngược dòng lịch sử, nó thoát thai từ Hội Văn Hóa Cứu Quốc từ năm 1945 mà cương lĩnh hoạt động là bản Đề Cương Văn Hóa Việt Nam do Trường Chinh soạn thảo.

    Ủy ban trung ương liên hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam là một cơ sở quần chúng, trên danh nghĩa trực thuộc Mặt Trận Tổ Quốc VN, nhưng trên thực tế, nó nằm dưới sự chỉ đạo của ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương, Ủy ban này gồm tám ngành sinh hoạt văn học nghệ thuật là Hội nhà văn, Hội nghệ sĩ tạo hình (hội họa và điêu khắc), Hội nhạc sĩ, Hội nghệ sĩ điện ảnh, Hội nghệ sĩ phát thanh và phát hình, Hội nghệ sĩ sân khấu, Hội kiến trúc và Hội nghệ sĩ nhiếp ảnh.

    Hội nhà văn (bao gồm các bộ môn lý luận văn học, phê bình văn học, sáng tác) được thành lập từ năm 1957, do Nguyễn Công Hoan làm chủ tịch, sau khi thành lập, hội cho xuất bản báo Văn nà nhập cuộc với phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm trong cuộc đấu tranh cho tự do tư tưởng, vì thế báo Văn bị đóng cửa và Nguyễn Công Hoan bị cách chức, Nguyễn Đình Thi được đề cử làm tổng thư ký hội nhà văn từ đó cho đến đại hội IV tháng 9 năm 1989. Vì tầm mức quan trọng của đại hội này, phần III của tuyển tập này sẽ dành để tường trình đại hội và các bài tham luận tiêu biểu.

    3) Về vai trò của văn nghệ sĩ, kể từ sau phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, một nỗ lực đồng phục hóa tinh thần được đảng triệt để áp dụng, các nhà văn được thường xuyên " bồi dưỡng chính trị ". Những lý luận của các lãnh đạo chính trị được học tập liên tục để các văn nghệ sĩ thấm nhuần đường lối và áp dụng làm chuẩn mực trong sáng tác, trên căn bản, bản Đề cương văn hóa Việt Nam của Trường Chinh được coi như cương lĩnh hoạt động văn học nghê thuật. Từ đầu thập niên 60, " tính đảng " bắt đầu được đề cao như một tiêu chuẩn chủ đạo của nền văn học xã hội chủ nghĩa. Tại đại hội văn nghệ toàn quốc lần 3 năm 1962, trong bản báo cáo " Tăng cường tính đảng, đi sâu vào cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa ", Trường Chinh đã chỉ thị các văn nghệ sĩ phải tuân thủ " tính đảng " với bốn nội dung sau:

    - Văn nghệ sĩ phải thừa nhận rằng văn nghệ phục tùng chính trị, phục vụ đường lối chính sách của đảng. Văn nghê sĩ phải trung thành với lý tưởng cộng sản và đấu tranh không mệt mỏi cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.

    - Văn nghệ sĩ bằng hoạt động văn nghệ và hoạt động xã hội của mình cần luôn luôn phấn đấu để tăng cường sự lãnh đạo của đảng, củng cố lòng tin của quần chúng đối với đảng, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

    - Văn nghệ sĩ bao giờ cũng giữ thế tiến công chống những tư tưởng phản động và đồi bại của bọn phong kiến và đế quốc, chống tư tưởng tư sản và tiểu tư sản.

    - Văn nghệ sĩ cộng sản, như mọi đảng viên cộng sản khác, phải phục tùng tổ chức của đảng (người nào chưa phải đảng viên thì phải phục tùng tổ chức nghề nghiệp của mình do đảng lãnh đạo), phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước đảng và trước nhân dân về toàn bộ công tác của mình (trích dẫn theo Nguyễn Hưng Quốc các tổ chức văn học dưới chế độ CSVN, Văn Học CA số 44-9/89).


    Như vậy quả thực minh bạch, vai trò văn nghệ sĩ được đồng hóa với một cán bộ tuyên truyền, họ được chỉ đạo những gì phải viết và được phép viết, mọi sự chệc hướng, lệch lạc được coi như là tội phạm, tội chống đảng, chống nhân dân, chống xã hội.

    Xem ra, văn nghệ sĩ chỉ còn vai trò cài hoa điểm phấn cho chế độ, nhưng thực tế đảng có hoàn toàn kiểm soát được họ không?

    . Theo sự ghi nhận của ông Hoàng Ngọc Thành trong quyển " tiểu thuyết miền Bắc " do Phong Trào Văn Hóa (Sài Gòn 1969) xuất bản, ít nhất đã có 3 tác phẩm dù không thể xếp loại là chống đối chế độ, thì cũng đã phản ảnh trung thực tình trạng miền Bắc và tố cáo những sai lầm của đảng.

    Trong nền văn học xã hội chủ nghĩa, khi một tác phẩm " có vấn đề ", vì một lý do nào đó xuất bản được (có thể vì tác giả khôn khéo ngụy trang và qua mặt được nhân viên có trách nhiệm tại nhà xuất bản - thông thường là đảng viên ngành tuyên huấn - hoặc cán bộ trách nhiệm lại đồng điệu với tác giả), tác phẩm này phải còn qua một cửa ải nữa là các ngự sử văn đàn, các nhà " phê bình ", dùng kính chiếu yêu soi rọi kỹ lưỡng tác phẩm để phát hiện những " ẩn ý " chính trị của tác giả.

    Qua những bài phê bình, mà thực chất là những bài chỉ điểm văn nghệ như vậy, chúng ta có thể biết được một số tác phẩm đã vượt khuôn khổ văn học hiện thực xã hội của đảng.

    - Khi cuộc đàn áp phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm vừa bắt đầu thì trên tờ Văn Nghệ số tháng 3 năm 1958 (trang 106-111), Trần Hải đã viết một bài phê phán tiểu thuyết " Sắp cưới " của Vũ Bảo vừa phát hành.

    Nội dung tiểu thuyết " Sắp cưới " tóm lược theo Trần Hải như sau: Xuân và Bưởi yêu nhau, cha mẹ đôi bên đồng ý cho đôi trẻ kết hôn. Ngày cưới đã định thì một " đội cải cách " về làng, gia đình Bưởi bị quy vào thành phần địa chủ. Sau khi so đo tính toán, Xuân từ hôn để khỏi liên quan. Về sau, đội cải cách xác nhận gia đình Bưởi bị " xếp loại lầm ", Xuân viết thư xin lỗi và muốn nối lại duyên xưa nhưng Bưởi đã từ chối, vì cô không muốn chia xẻ đời mình với một thanh niên ích kỷ, không dám bảo vệ kẻ vô tội khi họ sa cơ thất thế.

    Trong bài phê bình, tuy chấp nhận rằng có sự sai lầm trong cải cách ruộng đất, nhưng Trần Hải đã kết tội Vũ Bảo đã tô đen xã hội. Trọn tác phẩm tràn ngập một bầu không khí sợ hãi, bất công và đau khổ. Các nhân vật đảng viên trong truyện đều hống hách, tùy tiện và khinh rẻ nhân dân. Cải cách ruộng đất được mô tả như một trận cuồng phong làm tan vỡ đời sống êm đềm, tình yêu, hạnh phúc của người dân thôn Bầu, nơi đảng phóng tay đấu tố.

    Về tính giai cấp, Trần Hải cho rằng Vũ Bảo còn ngầm bênh vực các cán bộ tiểu tư sản, là những người đảng phê phán không theo sát nhân dân, không chịu gian khổ và hữu khuynh.

    Chúng ta không có văn bản quyển tiểu thuyết " Sắp cưới " để đối chiếu với bài phê bình của Trần Hải, cũng như tất cả những tác phẩm " có vấn đề " khác, khi đã bị các nhà phê bình đảng phát hiện, quyển sách này bị tịch thu, tuy nhiên ta có thể suy đoán quyển tiểu thuyết " Sắp cưới " là bước đầu cho những tác phẩm phê phán kịch liệt về cải cách ruộng đất như " Thiên đường mù ", " Ôi, cam sao mà đắng " của giai đoạn văn nghệ phản kháng 1986-1989.

    (còn tiếp)

  4. Thanks nkk72, Quốc Hoàng, Nhu Thuong, kegiangho, phng99 thanked for this post
  5. #4
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    - Sự tố cáo những bất công của xã hội được thể hiện rõ nét hơn qua tiểu thuyết " Vào đời " của Hà Minh Tuân, được Nguyễn Phan Ngọc nêu ra trong bài phê bình: " Vào đời, một quyển truyện đầy rẫy tư tưởng tư sản phản động, một khuynh hướng nghệ thuật suy đồi " đăng ở tạp chí Văn Học (Hà Nội) số tháng 10 năm 1963. Nội dung cốt truyện được Nguyễn Phan Ngọc lược dẫn như sau: Sen, một cô gái Hà Nội, học lớp 8, bị cha mẹ ép duyên nên bỏ gia đình vào làm việc ở một công trường, cô ta bị hiếp dâm sau một buổi tối đi dạy bổ túc văn hóa cho công nhân, cô mang thai và sau đó gặp Hiếu, một cựu đại đội trưởng thời kháng chiến, hai người yêu nhau, lấy nhau và từ đó đời sống là một địa ngục. Hiếu sống trong mặc cảm và định kiến vì gia đình anh bị đấu tố, cha anh phải thắt cổ tự tử trong thời cải cách ruộng đất, nỗi đau khổ của gia đình Hiếu vì đứa con của hai người bị bạo bệnh chết, cộng với nỗi bất mãn vì sự đối đãi tệ bạc của đảng đối với một cựu kháng chiến như anh khiến Hiếu càng quyết liệt hơn trong việc vận động công nhân lập thỉnh nguyện thư tố cáo sự hống hách của cán bộ quản lý nhà máy, do đó Hiếu bị bắt và bị gửi đến một nông trường để " cải tạo tư tưởng ".

    Tất cả những bất hạnh ấy đè nặng lên số phận Sen, thêm vào đó, đời sống lao động đầy ải, điều kiện làm việc khắc nghiệt đã khiến Sen kiệt lực.

    Ở cuối truyện, Hà Minh Tuân đã cố vớt vát bằng cách mô tả Sen cố gắng phấn đấu để vượt qua nghịch cảnh, và do sự cần cù nhẫn nại, cô đã được tuyên xưng là anh hùng lao động! Bên cạnh đó, tác giả đã cố gắng kết thúc " có hậu " bằng cách nêu những nhân vật tích cực như cán bộ Trần Cư, chị Bốn... là những người đã tố cáo những tệ nạn của nhà máy, tranh đấu cho một đời sống công bình và hợp lý hơn, qua những nỗ lực ấy đời sống nhà máy dần dần được cải thiện.

    Qua phần tóm lược và phê phán của Nguyễn Phan Ngọc, ta thấy " Vào Đời " là một bản cáo trạng trình bày thực tế cùng quẫn của xã hội miền Bắc, trong đó những sai lầm của đảng đã được vạch trần như sư tàn nhẫn của chính sách cải cách ruộng đất, sự bội bạc của đảng đối với cựu kháng chiến, nạn bè phái và tình trạng quản lý tồi tệ của lớp cán bộ vô học được nâng đỡ làm chủ nhà máy, tình trạng bóc lột và kém hiệu năng của chính sách lao động, sự tắc trách và cửa quyền của các cơ quan mậu dịch... Một số chi tiết khác về đời sống xã hội cũng được nêu ra như sự khinh bỉ của người dân đối với lớp văn nghệ sĩ bồi bút tô hồng cuộc sống trên báo Nhân Dân, sự tiếc nuối và kính trọng của công nhân với thái độ can đảm của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm. Theo Nguyễn Phan Ngọc, Hà Minh Tuân còn rơi rớt nhiều quan điểm phản động và đồi trụy, cần được cải tạo tư tưởng.

    Chúng ta không biết tại sao Hà Minh Tuân, một đảng viên cao cấp (trung tá) và đã từng sáng tác nhiều quyển sách đúng đường lối như quyển " Hai trận tuyến " lại cho ra đời một tác phẩm tố cáo chế độ mạnh mẽ như vậy, và cũng không hiểu đảng đã có biện pháp chế tài nào với ông ta. Duy có điều, sau tác phẩm " Vào đời ", cũng như Vũ Bảo, Hà Minh Tuân hoàn toàn biến mất trên văn đàn.

    - Tác phẩm thứ ba có vấn đề của nền văn học xã hội chủ nghĩa mà ông Hoàng Ngọc Thành ghi nhận là tiểu thuyết " Đống Rác cũ " (gồm 2 tập, trên 1000 trang) của Nguyễn Công Hoan.

    Nguyễn Công Hoan là một nhà văn tả thực xã hội nổi danh từ hồi tiền chiến, tác phẩm " Bước đường cùng " của ông được đảng đánh giá rất cao và ông đã được móc nối từ đó. Nguyễn Công Hoan là một trong những thành viên đầu tiên của hội Văn Hóa cứu quốc, ông đã tham gia kháng chiến và được xếp vào hàng ngũ " lãnh đạo văn nghê ". Sau khi tiếp thu miền Bắc, Nguyễn Công Hoan trở thành chủ tịch đầu tiên của hội Nhà văn và là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Văn, cơ quan ngôn luận của hội, và chính ông đã cùng phó chủ bút Nguyễn Tuân, tổng thư ký Nguyên Hồng lái tờ Văn tiếp sức với các tạp chí Nhân Văn, Giai Phẩm, Đất Mới... trong công cuộc đấu tranh cho tự do tư tưởng.

    Khi phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm bị đàn áp, vì các thành tích và công lao kháng chiến nên Nguyễn Công Hoan chỉ bị kiểm thảo nhưng vẫn được lưu dụng, sau đó ông đã viết nhiều tác phẩm rất đúng đường lối như " Tranh tối tranh sáng ", " Hỗn canh hỗn cư ". Đến năm 1964, Nguyễn Công Hoan cho xuất bản " Đống Rác cũ ".

    Căn cứ vào bài phê bình của Thế Toàn: " Đống Rác cũ " một điển hình về chủ nghĩa tự nhiên trong văn học đăng ở tạp chí Học Tập (sau này là tạp chí Cộng Sản) Hà Nội 1964 (trang 66-71), nội dung quyển tiểu thuyết mô tả đời sống của Trần Bá Thừa, một tên lưu manh và cô Marie, một gái giang hồ, con vô thừa nhận của một linh mục Pháp. Chung quanh hai nhân vật này là một thế giới gian xảo, dâm ô của lớp người giàu mới, trục lợi nhờ công cuộc " khai hóa " của Pháp. Bối cảnh tiểu thuyết xây dựng vào thời kỳ đầu tiên của việc mở mang các thành phố của thực dân (năm 1912-1920), tuy thế, Thế Toàn vẫn quy kết tác giả bày tỏ cảm tình với giai cấp tư sản qua việc mô tả nhà tư sản Phan Lâm có tư tưởng và nhân cách của một sĩ phu thời xưa, theo Thế Toàn, Nguyễn Công Hoan " đã biểu lộ quan điểm của một cựu tiểu tư sản bị ảnh hưởng nặng nề của giai cấp phong kiến muốn vươn lên trong một xã hội phát triển theo chiều hướng tư bản chủ nghĩa nhưng thất bại trong tuyệt vọng ". Vì thế, Nguyễn Công Hoan đã bị kết tội: " theo một thứ chủ nghĩa duy lý phản động và gieo rắc nọc độc của chủ nghĩa hư vô trong đám thanh niên trong sạch và lành mạnh ngày nay ".

    Thế Toàn còn dùng kính chiếu yêu để phân tích thêm Nguyễn Công Hoan dùng danh từ mới nhất để mô tả đời sống quá khứ: " gây cho độc giả những liên tưởng không hay giữa cuộc sống ngày nay trong xã hội mới với nếp sinh hoạt ngày xưa và làm độc giả lầm lạc, không biết tác giả phản ảnh xã hội ngày xưa một cách trung thực hay là dụng ý nói xỏ xiên về xã hội ngày nay ".

    Và cuối cùng, Thế Toàn đánh giá, sau 20 năm theo đảng Nguyễn Công Hoan đã không tiến bộ mà còn thoái hóa, so với tác phẩm " Bước đường cùng " thời tiền chiến, tiểu thuyết " Đống Rác cũ " có tính chất " phá hoại cực độ ".

    Sau bài phê bình của Thế Toàn, nhờ là một công thần cách mạng, Nguyễn Công Hoan vẫn còn xuất hiện trong các lễ lạc và chiêu đãi khách ngoại quốc, nhưng không còn thấy ông viết thêm một tác phẩm nào khác nữa.

    Ngoài công trình của ông Hoàng Ngọc Thành, chủ yếu dựa vào sách báo của Cộng Sản Việt Nam lưu trữ tại các thư viện đại học và quốc hội Hoa Kỳ, đã 20 năm qua (từ 1969) chúng ta không có một công trình nghiên cứu nào về văn học xã hội chủ nghĩa tại Việt nam, tuy nhiên, căn cứ vào các nhà lý luận văn học, các tác giả miền Bắc thú nhận, nền văn học xã hội chủ nghĩa có thể thu tóm vào một công thức: mô tả người thật việc thật.

    Theo Chu Văn, một nhà văn kiêm cán bộ tuyên huấn, chủ tịch hội văn nghệ Hà Nam Ninh, công thức " Người thật việc thật " được mô tả như sau: "... những năm ấy (1960-1965), sự tôn sùng viết người thật, việc thật, viết ký... đang rất sôi nổi trong văn học nước nhà. Bằng giấy trắng mực đen, trên báo chí, một số nhà phê bình kiên quyết cho rằng: chỉ có viết người thật việc thật, mới phục vụ được cách mạng có hiệu quả. Có cả anh nói xưng xưng là: sự thật của cách mạng Việt Nam tự thân nó cũng đã mang đầy đủ yếu tố tư tưởng anh hùng, và giá trị hấp dẫn, thuyết phục của nghệ thuật. Cứ ghi lại được các thứ ấy cho trung thực, cũng đã giá trị lắm rồi. Ai cần đến các nhà văn đi hư cấu với tưởng tượng nữa. Và như vậy, viết tiểu thuyết, lúc ấy là vô bổ, không cần thiết " (Chu Văn: Tiến tới đại hội lần IV hội nhà văn Việt Nam - Tác phẩm Văn học số 4 tháng 7,8 năm 1989 - Hà Nội ).

    Chức năng văn học, theo công thức " người thật việc thật ", đã bị đơn giản hóa thành chức năng báo cáo, nhưng vì thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc không lấy gì làm sáng lạn, nền nông nghiệp sau khi hợp tác hóa, dù có tô hồng bao nhiêu cũng chỉ có thể ca tụng " quê hương bốn tấn ". Năng suất bốn tấn trên một mẫu ruộng thật quá khiêm tốn khi so sánh năng suất 20 tấn trên một mẫu của Nhật; những ước mơ kỹ nghệ hóa, dù có nêu bao nhiêu điển hình tiên tiến, vẫn ì ạch ngót 30 năm như công trình thủy điện sông Đà, hay cầu Thăng Long.

    Vì thực tế không lấy gì làm phấn khởi, mà muốn thúc đẩy một tinh thần " lạc quan cách mạng ", dòng văn học " người thật việc thật " thay vì phản ảnh thực tại lại phải tô hồng thực tại, nhà văn phải đánh lừa quần chúng và tự đánh lừa mình để đẹp lòng cấp trên, do đó, đã sản sinh một khối lượng tác phẩm đồng dạng, gượng ép, giả dối mà chính một số tác giả của chúng sau này phải ngượng ngập, xấu hổ khi nhắc đến chúng.

    Đánh giá lại thời kỳ văn học này, một số tác giả đã không tiếc lời phê phán bằng những từ ngữ mỉa mai khinh mạn nhất: " Minh họa " (Nguyễn Minh Châu)," Phải đạo " (Hoàng Ngọc Hiến ), " Tụng ca " (Nguyên Ngọc ), " Tao đàn " (Lại Nguyên Ân). Sau lần gặp gỡ với Nguyễn Văn Linh vào tháng 10 năm 1987, cuộc phê phán nền văn học xã hội chủ nghĩa với công thức " người thật việc thật " lại bộc phát mạnh mẽ, những kẻ " lãnh đạo văn nghệ " luôn luôn áp đặt công thức và kiểm soát tư tưởng văn nghệ sĩ bị tố cáo là : " lính gác trên trận địa văn học " (Mai Ngữ) " Những kẻ ngụy trá văn nghệ sĩ và trí thức, thực chất là lớp công chức thuộc địa " (Dương Thu Hương); sự khắc nghiệt của các biện pháp chỉ đạo và quản lý của đảng đối với văn nghệ sĩ đã bị vạch trần: " chỉ cần một người suy nghĩ cho mọi người, một cái đầu tối cao suy nghĩ cho mọi cái đầu " (Lưu Quang Vũ), " Lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ. Mà con người bị coi thường thì tự nhiên thấy mình cũng hèn kém, nhỏ lại " (Nguyễn Đăng Mạnh ), " vấn đề tự do sáng tạo bị cản trở, thậm chí có khi bị chà đạp vì những quan niệm lãnh đạo ấu trĩ, thô bạo, sai trái " (tập thể nghệ sĩ sân khấu: Tất Đạt, Phạm Thị Thành, Ái Vân, Xuân Thanh)... Những điều phát biểu nêu trên, trích từ tờ Văn Nghệ số ra ngày 17-10-87 đã trình bày thực chất của nền văn học xã hội chủ nghĩa. Khi những nhà phê bình, lý luận và sáng tác nằm trong lòng chế độ đã đánh giá một thời kỳ văn học như thế, hẳn chúng ta không cần bình phẩm gì thêm.

    (còn tiếp)

  6. #5
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    III. Những dấu hiệu " Trăn Trở " và " Phản Tỉnh "

    Nền văn học xã hội chủ nghĩa, dưới dạng thức " Người thật việc thật " đã đi vào ngõ cụt, người viết thì gượng gao, người đọc thì thờ ơ, mãi đến giữa thập niên 60 mới bắt đầu có vài chuyển biến.

    Sự chuyển biến này không phải do ý muốn sửa sai của lãnh đạo mà do ở hoàn cảnh thực tế: văn nghệ phải đáp ứng với những đòi hỏi do tình hình chiến tranh.

    Trong khi nền văn học tuyên truyền về xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc càng ngày càng lạc điệu, trơ trẽn vì khoảng cách giữa thực tế và những điều tô vẽ trong tác phẩm " tụng ca ", " thông tấn ", thì nền văn nghệ để phục vụ chiến tranh, " viết về chiến tranh ", nói như Nguyễn Minh Châu, lại đòi hỏi một số quy chuẩn khác, mà " tính đảng ", " tính giai cấp ", " sự lạc quan cách mạng "... xem ra không được thích hợp lắm. Và tứ đó, nền vănb nghệ " người thật việc thật " mang tính đảng dần dần được thay thế bằng nền văn nghệ theo chủ nghĩa " anh hùng cách mạng ", nền văn nghệ " sử thi ", trong đó tính dân tộc, lòng ái quốc được tuyên xưng.

    Để tiến hành cuộc chiến tranh " giải phóng miền Nam ", bắt đầu từ những năm 60, một số văn nghệ sĩ gốc miền Nam được hồi kết, vượt vĩ tuyến 17 để làm nòng cốt cho các hội văn nghệ giải phóng. Nhằm tạo ấn tượng " tự phát ", " độc lập "... cho các hội này, các nha 2va8n hồi kết đều thay tên đổi họ; Bùi Đức Ái biến thành Anh Đức, Nguyễn Ngọc Tấn trở thành Nguyễn Thi, Lê Khâm thành Phan Tứ, Nguyễn Văn Bổng thành Trần Hiếu Minh, Nguyên Ngọc thành Nguyễn Trung Thành... Khi cuộc chiến leo thang, hầu hết các văn nghệ sĩ đều được điều vào hành lang Trường Sơn hay tuyến lửa (Bình Trị Thiên) như NGuyễn Minh Châu, Nguyễn Khải... Trong hoàn cảnh đó, nền văn học nghệ thuật mang nặng " tính đảng " hẳn không thích hợp, " tính đảng " được giảm thiểu trong công tác tuyên truyền, và cũng giống như trong cuộc kháng chiến chống Pháp, vai trò của đảng tạm lui vào bóng tối để làm nổi bật " tính dân tộc " của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đảng chỉ được nhắc đến trong một số từ nhiều nghĩa: "cách mạng ", " tiến bộ "...

    Đối với văn nghệ sĩ, do điều kiện thực tế của chiến tranh, họ không bị ràng buộc chặt chẽ quá về tính đảng như bốn nguyên tắc quy định về sự phục tùng của văn nghệ sĩ vào đảng mà Trường Chinh đã chỉ thị nêu trên, tạm thời họ được nới lỏng hơn, tìm cảm hứng qua tình đồng đội chiến đấu, những điều kiện cam khổ của chiến trường, chủ đề của họ nhằm ca tụng những anh hùng mà lòng hy sinh, sự dũng cảm và tình yêu nước được nêu cao hơn là tính đảng, tính giai cấp của nhân vật.

    Chiều hướng sáng tác như vậy được gọi là chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đặc điểm chính của nó là tính cách " sử thi " của sáng tác.

    Nội dung chính của chủ nghĩa anh hùng cách mạng là sự tô vẽ, thần thánh hóa các chiến sĩ tiêu biểu như Út Tịch, Kan Lịch, Nguyễn Văn Bé, Nguyễn Văn Trỗi... thành những anh hùng siêu việt, biến họ thành những gương mẫu để bộ đội học tập theo họ.

    Tính cách " sử thi " được hiểu một cách đơn giản là những gì thuộc về " ta " (Cộng Sản) đều tốt đẹp, tốt đẹp tuyệt đối, những gì thuộc về " địch " (Mỹ và miền Nam) đều xấu xa, xấu xa tuyệt đối.

    Mục đính chính của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và dòng văn chương " sử thi " là kích thích người lính chiến đấu, động viên người dân hy sinh chịu đựng, đào sâu sự hận thù giữa " ta " và " địch ", điều kiện hóa tính thần người bộ đội, gieo cho họ một sự cuồng tín khiến họ chỉ biết chiến đấu không ngưng nghỉ cho đến ngày tiêu diệt tên địch cuối cùng.

    Một lần nữa, cũng như trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, khi đảng tạm thời ẩn mặt, chỉ tuyên xưng tinh thần ái quốc và tình tự dân tộc, mặc dù lần ngụy trang này không kín đáo lắm, nền văn nghệ do đảng chỉ huy đã sản sinh ra những tác phẩm không quá đơn điệu và công thức, và ở một khía cạnh nào đó, đã đáp ứng được nhu cầu tuyên truyền của đảng và mang một số giá trị nghệ thuật. " Dấu chân người lính " của Nguyễn Minh Châu, " Người mẹ cầm súng " của Nguyễn Thi, " Đất Quảng " của Nguyên Ngọc, " Mẫn và Tôi " của Phan Tứ... cũng như thơ của Giang Nam, Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật..., nhạc của Hoàng Hiệp, Hoàng Vân, Phó Đức Thăng... đã được bộ đội và quần chúng tán thưởng.

    Tuy nhiên cũng chính dòng văn học " anh hùng cách mạng " mang tính cách sử thi ấy, do tính chất công thức và võ đoán của nó, lại sẽ phản tác dụng và là đầu mối cho những " phản tỉnh ", " trăn trở " về sau, khi các văn nghệ sĩ chân chính đối diện với dự thực để thấy được những sai biệt giữa tuyên truyền và thực tế kể từ năm 1975.

    Sự thực đầu tiên là sự nhận diện về " địch ", trong tập thể đông đảo của quânh nhân viên chức được gọi là " Ngụy ", dĩ nhiên có kẻ tham nhũng, hống hách, xấu xa, nhưng nhìn chung và so sánh với khối lượng bộ đội và cán bộ " cách mạng ", rõ ràng những người phục vụ chính quyền miền Nam ngay thẳng, bộc trực, phóng khoáng, và quan trọng nhất, không cố chấp và khát máu, ngược lại, về phía " ta " (Cộng Sản), từ sau ngày chiến thắng, nhu cầu hưởng thụ, tính nhỏ nhen, cầu lợi càng ngày càng lộ diện, cho dù thiên vị cách mấy cũng không thể gọi là tốt, chưa nói đến " tốt tuyệt đối " như chủ nghĩa anh hùng cách mạng và dòng văn chương sử thi đã tự hào.

    Sau khi đã " đối chứng " (Chủ đề sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975) những gì trong tuyên truyền, vốn là niềm tin sắt đá của một thời, với những gì trong thực tế của miền Nam, những người cầm bút " chiến thắng " đã có một cảm giác " hụt hẫng ", một cảm giác sau này đả được một số nhà phê bình thẳng thắn nhìn nhận là một " khủng hoảng niềm tin " (Thành Duy - tạp chí văn học tháng 4 năm 1989). Khủng hoảng là một từ cấm kỵ trong ngôn ngữ văn học xã hội chủ nghĩa, nhưng nó là từ chính xác nhất để diễn tả tâm trạng những người cầm bút còn liêm khiết khi phải đối diện với thực tế. Và điều này cũng giải thích tại sao có tình trạng gần như buông bút, tê liệt của một số nhà văn vốn rất là xông xáo năng nổ trong thời chiến, như Nguyên Ngọc đã thú nhận: " Mất liên hệ với đời sống, chúng ta bỗng bối rối mất phương hướng. Hiện nay có thể nói về cơ bản chúng ta không còn, hoặc có rất ít, những lực lượng sáng tác, nhất là những cây bút chủ lực, bám sâu trên các địa bàn xung yếu nữa... " (Đề cương đề dẫn thảo luận ở hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học, tháng 6/1979).

    Chính những " hụt hẫng ", " trăn trở ", " tê liệt " đó đã khiến các nhà văn phải nhận định lại về các tác phẩm của mình, tự đánh giá lại niềm tin và nỗi tự hào của quá khứ để từ đó đưa đến một thái độ phản tỉnh. Một cách công khai, người phản tỉnh đầu tiên đã dám đặt vấn đề trên báo chí là ông Nguyễn Minh Châu, đó là bài " Viết về chiến tranh " đăng trên báo " Văn Nghệ Quân Đội " (tháng 11 năm 1978). Nguyễn Minh Châu là một nhà văn quân đội (cấp bậc đại tá) trưởng thành trong thời gian kháng chiến chống Pháp và là một trong những tác giả được trọng vọng nhất của dòng văn chương " sử thi ". Nguyễn Khải, trong điếu văn ngày tang lễ Nguyễn Minh Châu, đã nhận định ông ta và Nguyễn Thi là hai nhà văn được mọi người kính trọng về tài năng và tư cách nhất đương thời.

    Vì là một bài viết dò đường, lối viết của Nguyễn Minh Châu rất dè dặt, mang " vỏ bọc " khá kỹ lưỡng, đề cập cách xây dựng nhân vật tiểu thuyết, ông viết: " nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh của ta, các nhân vật thường khi có khuynh hướng được mô tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực. Hình như tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực thì lại có thể tạm thời giấu mình trên trang sách. Vì ý thức cổ động kháng chiến một phần, một phần khác có phải do quan niệm sơ lược về nhân vật anh hùng? ".

    Qua đoạn văn này, Nguyễn Minh Châu muốn chỉ trích lề lối xây dựng nhân vật " siêu nhân " của văn chương sử thi, không đếm xỉa đến mặt " đa dạng " của con người bao gồm xấu tốt, anh hùng và khiếp nhược...

    Kết luận của Nguyễn Minh Châu đã phân biệt cái thực tại đang tồn tại (thực tế xã hội) và thực tại ước mơ (ở đây ngầm hiểu thực tại áp đặt duy ý chí của đảng) để nêu lên một vấn nạn: " Những người cầm bút chúng ta vô cùng cảm thông với dân tộc mình, nhưng chẳng lẽ chúng ta có thể làm yên tâm mọi người bằng cách mô tả cái hiện thực ước mơ? ".

    Những điều trên chỉ cho thấy: trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực đôi khi chúng ta phải khai chiến cả với những quan niệm tốt đẹp và lâu dài của chính mình
    " (nhấn mạnh của người viết).

    Quan niệm của Nguyễn Minh Châu quả thực là một sự phản tỉnh, cho dù đã chấp nhận lý tưởng CS như một hiện thực ước mơ (một điều trong thâm tâm của các nhà văn, kể cả nhà văn đảng viên, đã trở thành một ảo tưởng) thì chính họ phải khai chiến với lý tưởng đó vì nó không phù hợp với thực tại đang tồn tại, thực tại hàng ngày với tính đa dạng của nó.

    - Tán đồng lập trường của Nguyễn Minh Châu, trên tờ Văn Nghệ số 23 ngày 6/9/1979, Hoàng Ngọc Hiến cho đăng bài lý luận: " về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua ".

    Hoàng Ngọc Hiến thuộc lớp trí thức mới của XHCN, ông ta điược du học ở Liên Xô, về nước được cử làm hiệu trưởng trường viết văn Nguyễn Du. Ông là một nah2 phê bình cấp tiến nhất trong đội ngũ các nhà phê bình lý luận văn học mới (gồm những người như Lại Nguyên Ân, Lã Nguyên, Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Đặng Anh Đào...) không chấp nhận đóng vai chỉ điểm văn nghệ như thế hệ phê bình cũ.

    Dựa vào phân tích của Nguyễn Minh Châu về hiện thực đang tồn tại và hiện thực ước mơ (phải tồn tại) Hoàng Ngọc Hiến viết: " Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng mô tả cuốc sống cho phải đaọ, còn đứng trên bình diện cái đang tồn tại, thì mối quan tâm hàng đầu là mô tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm, chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật, có thể gọi là loại tác phẩm này là chủ nghĩa hiện thực phải đạo ".

    Qua cách đánh giá của Hoàng Ngọc Hiến, nền văn học mệnh danh là chủ nghĩa hiện thực xã hội mang nặng tính đảng thực chất chỉ là chủ nghĩa hiện thực phải đạo, tính " phải đạo " không phải chỉ phổ biến trong văn học, mà còn hiện diện trong đời sống xã hội, nó dần dần xâm chiếm cung cách suy nghĩ, nói năng và ứng xử của người dân như ông đã nhận xét " thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người phải đạo với cung cáh suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là phải đạo ".

    Nhận xét của ông Hoàng Ngọc Hiến đã vạch trần được một sự thật văn học, cũng là một sự thật của đời sống người dân trong xã hội là để có thể sống sót dưới chế độ Cộng sản (thích nghi sinh tồn), người cầm bút, cũng như mọi người dân, phải có hai bộ mặt, một bộ mặt ngoan ngoãn luôn luôn đúng lập trường đường lối cho " phải đạo " để yên thân, và một bộ mặt chân thật " yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét ". Trong những thời kỳ mà nhà nước đủ sức mạnh trấn áp, thì cả xã hội sẽ rất " phải đạo ", một thứ ổn định của khiếp hãi, cam chịu. Và cũng có những thời kỳ khác, khía cạnh chân thật sẽ thắng bộ mặt " phải đạo ", đó là những lúc bộc phát phản kháng ở văn học, và cách mạng ở mặt chính trị và xã hội.

    Tuy nhiên, theo thiển ý, sự phản tỉnh rõ nét nhất là ở bản " đề cương đề dẫn thảo luận ở hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học ": do Nguyên Ngọc trình bày vào tháng 6/1979 nhưng mãi đến gần mười năm sau nó mới xuất hiện trên tạp chí Lang Bian số 3 (Đà Lạt, tháng 4/1988), và ngay sau đó, tờ báo này bị đóng cửa nên chúng ta không biết nội dung toàn bài như thế nào. (Trên báo Lang Bian chỉ mới đăng phần đầu: Nhìn lại thời kỳ đã qua). Bản " đề cương đề dẫn " này có ảnh hưởng lớn vì hai lý do:

    - Thứ nhất, tác giả của nó là một nhà văn có uy tín hàng đầu của chế độ, Nguyên Ngọc trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sau khi hòa bình vãn hồi ông cho xuất bản tác phẩm " Đất nước đứng lên ", và lập tức tác phẩm này trở thành " cổ điển ", được dịch ra nhiều thứ tiếng (bản Pháp văn " NOUP le heros des Montagnes ", nhà xuất bản Ngoại văn Hà nội 1959), trong thồi gian " kháng chiến chống Mỹ " ông là chủ tịch Hội văn nghệ giải phóng khu V (Cao nguyên và miền Trung) trong thời gian này ông đã sáng tác những tác phẩm có giá trị như " Rẻo cao ", " Rừng Xà Nu ", " Đất Quảng "...

    (còn tiếp)

  7. Thanks Quốc Hoàng, Nhu Thuong, kegiangho, phng99 thanked for this post
  8. #6
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    - Thứ hai, Nguyên Ngọc phát biểu với tư cách bí thư đảng đoàn hội nhà văn, tức là người có quyền lực cao nhất của tập thể giới cầm bút, lập trường của ông là lập trường của một người cộng sản, do đó sự phản tỉnh của ông, ta có thể nhìn trên hai tư cách: tư cách nhà văn và tư cách đảng viên.

    Về nội dung, sau phần ca tụng chính sách đảng đối với văn nghệ qua 2 cuôc kháng chiến, điểm những mặt mạnh của nền văn học đáp ứng với hoàn cảnh chiến tranh, Nguyên Ngọc đã nhẹ nhàng phê phán: " Trong văn học, lồ lộ khá rõ là số phận chung của cả dân tộc, cả đất nước, nhưng còn số phận chung của từng người, từng thành viên của đội ngũ đó thì còn khá sơ lược, giản đơn... Tính thơ lý tưởng của cuộc chiến đấu được biểu hiện khá mạnh, còn tính sần sùi phức tạp của đời sống thì yếu hơn cho nên tính hiện thực của văn học có bị hạn chế ". Và từ đó Nguyên Ngọc đã nhận xét, về thể loại thơ, ký, truyện ngắn " mạnh " hơn tiểu thuyết, viết về chiến tranh khá hơn viết về đề tài xây dựng xã hội chủ nghĩa, tác phẩm thuộc thập niên 60 tốt hơn tác thuộc thập niên 70.

    Giải thích sự cách biệt này, Nguyên Ngọc nêu một số ý kiến cho rằng trong văn học đang có hiện tượng " tụt lùi ", " tình trạng trì trệ ", " lằng nhằng ", " khủng hoảng ", " Cũng có người bảo một số năm gần đây, ta vẫn có nhiều sách nhưng không có tác phẩm ", từ đó Nguyên Ngọc xác nhận: Quả văn học đang có vấn đề.

    Truy kích đến cùng, tác giả thú nhận: " Sách viết in ra, người ta đọc, rồi nó phào đi, không để lại được những dấu vết sâu sắc, đậm nét trong đời sống tinh thần của xã hội. Cảm giác " có nhiều sách mà không có tác phẩm " là như thế. Người đọc thờ ơ với chính những quyển sách mình vừa đọc, tuy chẳng có gì để che bai nó, có một không khí mệt mỏi, lạnh nhạt giữa người viết và người đọc ".

    Tại sao có không khí mệt mỏi, lạnh nhạt đó? Nguyên Ngọc tự trả lời " Phải chăng có những vấn đề mới đã nẩy ra, những câu hỏi mới đã nẩy sinh trong hiện thực trong khi đó văn học vẫn lập lại những vấn đề cũ, trả lời những câu hỏi cũ, có thể trả lời khá hay nhưng vẫn là trả lời những câu hỏi mà hiện thực đã vượt qua rồi ".

    Thật khá rõ ràng, ngầm ý của Nguyên Ngọc là nêu lên sự lỗi thời của lý luận văn nghệ của đảng, và nhìn rộng ra, những biện pháp nằm trong hệ thống tư tưởng Marrxist Leninist đã không còn hiệu ứng với sự đổi thay của xã hội. Mặc dù đã cố biện minh là niềm phản tỉnh của giới văn nghệ sĩ chân chính " không có gì có thể gọi là " luồng tà khí ", " phản động ", ' chống đảng "... Nguyên Ngọc đã tỏ ra rất sắc bén khi phê bình tính công thức của lý luận văn học xã hội chủ nghĩa: " ... không khí phê bình, lý luận, đánh giá đã dung tục hóa mối quan hệ giữa hiện thực và văn học. Nó tuyệt đối hóa hiện thực, và kết quả là buộc văn học phải khiếp nhược trước hiện thực, người nghệ sĩ phải khiếp nhược trước đời sống. Như vậy thực chất là nó phủ nhận khả năng cải tạo trở lại hiện thực của con người, của văn học. Nó hạ thấp văn học xuống thành một sự sao chép hiện thực, có thế thôi ".

    Về tương quan giữa chính trị và văn nghệ, một vấn đề cốt lõi của cao trào văn nghệ phản kháng 1986-1989, từ 10 năm trước, Nguyên Ngọc đã viết rất can đảm: " Quan niệm thô thiển về chức năng của văn học đã dung tục hóa mối quan hệ giữa văn học và chính trị. Nó tuyệt đối hóa chính trị, tuyệt đối hóa sự chi phối tất yếu của chính trị đối với văn học, mà quên rằng với tư cách là những hình thái ý thức xã hội, chính trị và văn học, qua những sự khúc xạ gần xa khác nhau đều là phản ánh hiện thực đấu tranh của xã hội ".

    Có lẽ đây là tiếng nói dõng dạc công khai đầu tiên của một nhà văn dưới chế độ XHCN Việt Nam dám đặt vấn đề độc lập của văn học đối với chính trị. Trong một chế độ chuyên chế toàn diện, vấn đề này thuộc lãnh vực bất khả xâm phạm, vì nền chuyên chế toàn diện có thể thỏa hiệp trên nhiều lãnh vực, nhưng sẽ đấu tranh đến kỳ cùng để bảo vệ hai công cụ chính yếu: công an và tuyên truyền. Văn nghệ được xem là chủ lực của tuyên truyền, đụng chạm vào nguyên tắc văn nghệ phục tùng chính trị chính là đụng chạm vào " tính đảng ", đó là hình thức " khai chiến ", nói như Nguyễn Minh Châu.

    Chủ điểm của bản " đề cương đề dẫn... " là sự khủng hoảng niềm tin, Nguyên Ngọc đã diễn tả nguyên nhân của khủng hoảng này như sau: " Cũng có thể nói, có sự giao động, khi một người cầm bút giao động, ấy là khi anh ta giao động về nhân vật trung tâm của mình, về con người lý tưởng của mình. Khi anh ta bắt đầu nghi ngờ con người ấy trong hiện thực, hoặc ít ra là anh ta bối rối về họ, từ đó mà giảm lòng tin yêu họ "... Cũng từ đó đưa đến tình trạng: " Phải chăng lúc này có hiện tượng không ít phổ biến là người viết, vẫn cứ viết mà không thực tin ở chính điều mình viết ra: NGƯỜI LÀ MUỐI MÀ CHÍNH NGƯỜI LẠI KHÔNG MẶN THÌ BIẾT LẤY GÌ ĐỂ MUỐI NGƯỜI. Văn học, nói theo một cách nào đấy, là lòng tin, " không có lòng tin lớn thì không bao giờ có thể có văn học lớn. " (nhấn mạnh của người viết)

    Một cách lương thiện, không một nhà văn, nhà lý luận nào trong xã hội XHCN tại VN lại dám lộng ngôn rằng họ đã hình thành một nền văn học lớn, họ chỉ có thể thú nhận họ đã hình thành một nền văn học đầy khiếm tật.

    Khủng hoảng niềm tin sẽ dẫn đến khủng hoảng lý luận, theo một số văn nghệ sĩ rời nước sau này, ở hai tụ điểm Sàigòn và Huế, những nhà văn miền Bắc, nhà văn trên bưng về thường tìm gặp những người cầm bút tự do, và trong những phút của sự thật, họ không dấu diếm những khủng hoảng niềm tin và đã thành thật bày tỏ niềm băn khoăn trăn trở đối với sứ mệnh văn học và tình hình đất nước. Chính trong họ, hàng ngũ những người cầm bút tự gọi là cách mạng, đã có một sự phân tuyến rõ rệt, một bên là những " ông bình vôi " văn hóa cố bám lấy đặc quyền đặc lợi và một mớ lý thuyết cũ mèm như Huy Cận, Chế Lan Viên, một bên là những nhà văn đã trưởng thành trong chiến tranh và những người có cơ hội du học ở Đông Âu về, đó là những người trăn trở, thao thức để phản tỉnh như Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến...thành phần sau càng ngày càng đông đảo, họ dần dần vượt qua thành trì của sợ hãi để làm hạt nhân cho cao trào văn nghệ phản kháng 1986-1989.

    IV. Tiến trình cao trào văn nghệ phản kháng.

    Mặc dù bị cấm phổ biến, bảng " Đề cương đề dẫn... " của Nguyên Ngọc cũng như hai bài báo của Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến đã tạo ảnh hưởng lớn lao trong không khí văn học trì trệ đương thời, và đã được sự tán đồng rộng rãi trong các thế hệ nhà văn trưởng thành từ hai cuộc chiến tranh, các nhà trí thức du học từ Đông Âu, các nhà văn gốc miền Nam đã " vô bưng " từng quen thuộc với các quan niệm về tự do sáng tạo và nhất là thế hệ nhà văn khởi nghiệp sau năm 1975.

    Để chận đứng tầm ảnh hưởng của những bài viết này, các lãnh đạo văn nghệ như Tố Hữu, Trần Độ, Hà Xuân Trường, Chế Lan Viên, Kiều Vân... liên tục hai năm (1980-1982) đã viết nhiều bài phản bác trên báo đảng như tạp chí Cộng Sản, báo Nhân Dân, Nghiên Cứu Nghệ Thuật, nội dung vừa phủ dụ vừa răn đe, chụp mũ " xét lại ", " bôi lọ ", " lập trường chao đảo " đối với những quan điểm phản tỉnh vừa nhen nhúm. Biện pháp phủ đầu này, trước đây đảng đã áp dụng với phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm trước khi thẳng tay đàn áp (xin đọc bài phân tích của nhà văn Nguyễn Mộng Giác ở phần II tập Giai phẩm này), tuy nhiên vì tình hình đã đổi khác, đảng đang tứ đầu thọ địch trên mặt trận chính trị, ngoại giao và quân sự cũng như đang sa lầy trên mặt trận kinh tế xã hội, nên một vụ Nhân Văn-Giai Phẩm thứ hai vẫn chưa xẩy ra.

    Dù sao, vì sự kiểm soát và uy lực của đảng vẫn còn mạnh, sự sợ hãi và thói quen chịu đựng của giới văn nghệ sĩ vẫn chưa dễ gì gột rửa, do đó, trước sự đe dọa và phủ dụ của các lãnh tụ gộc, khuynh hướng phản tỉnh của giới cầm bút tuy càng ngày càng lan rộng nhưng không công khai bộc phát, giới văn nghệ sĩ chọn một phản ứng có vẻ " an toàn " hơn mà chúng ta có thể gọi là thái độ đề kháng thụ động.

    (còn tiếp)

  9. Thanks Quốc Hoàng, Nhu Thuong, kegiangho, phng99 thanked for this post
  10. #7
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    1) Các hình thức đề kháng thụ động và dòng văn chương bí mật.

    Từ sau năm 1975, đất nước đã trải qua nhiều biến động; công cuộc cải tạo công thương nghiệp và tiêu diệt tư sản mại bản, chính sách cải tạo nông nghiệp và phong trào hợp tác hóa tại nông thôn, cuộc chiến tranh chống bá quyền phương Bắc, cuộc chiến tại Campuchia...Trong từng ấy biến động trọng đại, mặc dù giới cầm bút đã được chuẩn bị tinh thần kỹ lưỡng, được học tập chính sách đầy đủ, được đi " tham quan " thực tế tại hiện trường, được động viên để cổ động các chiến dịch đó, nhưng ta vẫn thấy một hiện tượng khá bất thường, là ngoài một Chế Lan Viên luôn luôn xông xáo, hầu hết mọi văn nghệ sĩ khác gần như hoàn toàn im lặng, làm như không hề biết đến các biến động ấy. Trong nền văn học XHCN, thước đo lòng trung thành của văn nghệ sĩ là sự nhậm lẹ, tích cực đáp ứng lời kêu gọi của đảng, sự im lặng của giới cầm bút trước những lời hô hào của đảng và nhà nước, nếu không được xem là một thái độ phản kháng, thì cũng có thể nhìn như một thái độ bất hợp tác khá can đảm, nó chứng tỏ, ở một chừng mực nào đó, có một sự bất đồng tình của giới văn nghệ sĩ với đảng.

    Một hình thức khác để biểu lộ sự đề kháng thụ đông là hiện tượng làm thơ tình, viết truyện tình, sau 1975, và nhất là từ 1978, đọc trên báo chí Cộng sản, ta thấy xuất hiện ào ạt thơ tình, truyện tình, đây cũng là hiện tượng khá bất thưồng, nhất là khi đất nước " ngổn ngang trăm mối ".

    Thật ra, không có văn bản nào cấm đoán việc làm thơ tình, viết truyện tình, nhưng trong nền văn học XHCN 40 năm qua, đề tài tình yêu và thân phận con người cụ thể gần như vắng bóng, đề tài này, theo sự đánh giá của đảng, là sản phẩm của nền văn học suy thoái đồi trụy của xã hội tư bản và mặc nhiên bị cấm đoán. Tuy nhiên vì tình yêu và thân phận con người là nguồn cảm hứng muôn thuở của giới văn nghệ sĩ, cho nên dù một nghệ ngoan ngoãn, suốt 40 năm cúc cung tận tụy với đảng như Xuân Diệu, vậy mà khi mất đi, người ta tìm ra trong hộc tủ nhà thơ hàng ngàn bài thơ tình. Điều chua xót là những bài thơ tình ấy được gọi là " thơ chui ", từ " chui " mang ý nghĩa lén lút, vụng trộm, bất hợp pháp. Nhìn chung, trong khônmg khí luôn luôn căng thẳng, " lên gân " với những khẩu hiệu đao to búa lớn, sáng tác thơ tình, truyện tình cũng là một cách thế để giới cầm bút biểu lộ thái độ đề kháng thụ động của mình.

    Và cuối cùng, một phản ứng khác của sự khủng hoảng niềm tin và phản tỉnh của giới văn nghệ sĩ là sự hình thành một dòng văn nghệ đối kháng bí mật, với một nội dung quyết liệt đấu tranh. Trong điều kiện ngặt nghèo của chế độ công an văn hóa, dòng văn học bí mật này phổ biến khá hạn chế, và thường tan loãng, hòa nhập vào dòng văn học truyền khẩu của nhân gian. Thỉnh thoảng ở hải ngoại chúng ta cũng nhận được một vài tác phầm của dòng văn học này, như " Hoa Địa Ngục " của Nguyễn Chí Thiện, " Tắm Mát Ngọn Sông Đào " của nhiều tác giả, thơ văn của nhóm Văn Nghệ Chân Đất, thơ văn của các nhóm " Tao Đàn "...

    Như vậy, kể từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất, trong sinh hoạt văn học nghệ thuật đã có những chuyển hóa khá rõ rệt, khởi đầu là sự chuyển biến về nhận thức của giới cầm bút khi đối chứng với thực tế của miền Nam và từ đó nảy sinh những " giao động ", ' hụt hẫng ' trong tâm thức họ, khiến họ phải đánh giá lại niềm tin và lý tưởng của một thời, mà kết quả sẽ đưa họ đến một thái độ phản tỉnh.

    Tùy theo mức độ và điều kiện của từng cá nhân người cầm bút, sự phản tỉnh sẽ dẫn đến: hoặc là một thái độ im lặng, ngưng sáng tác, không chịu đồng lõa với chính sách của đảng; hoặc là một sự đề kháng thụ động, tự tách mình ra ngoài chiều hướng sáng tác theo đơn đặt hàng để chỉ làm thơ tình, viết truyện tình; hoặc tích cực hơn, tập họp trong một dòng văn học đối kháng bí mật, phổ biến và được truyền tụng trong nhân gian qua những vần ca dao mới, những mẩu chuyện tiếu lâm mới.

    Dù ở trong bất cứ loại phản ứng nào, sự phản tỉnh của đa số văn nghệ sĩ sau 1975 cũng đã xác nhận một thực tế: giữa đảng và giới cầm bút đã có một mâu thuẫn. Chính mâu thuẫn này là nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất của cao trào văn nghệ phản kháng bừng nở trong những năm 1986-1989.

    2) Chính sách cởi trói và các giai đoạn phản kháng của văn nghệ sĩ.

    Mối mâu thuẫn giữa văn nghệ sĩ và đảng thực ra là phản ành một mối mâu thuẫn rộng lớn hơn đang diễn ra trong xã hội Việt Nam, đó là mối mâu thuẫn giữa đại đa số nhân dân với đảng.

    Nếu vào năm 1975, bằng bạo lực và tuyên truyền, đảng đã thực hiện được một sự thống nhất quốc gia trên mặt lãnh thổ, thì kể từ đầu thập niên 80, bằng sự thật và sự sống của con người Việt, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được một sự thống nhất quốc gia trên mặt ý thức dân tộc. Một ý thức dân tộc được thống nhất nhờ sự giao lưu văn hóa giữa hai miền, nhờ sự giác ngộ của toàn dân về thân phận bị lợi dụng qua hai cuộc chiến, mà cuối cùng những mục tiêu độc lập, tự do và phát triển trong hòa bình vẫn không đạt được. Từ sự giác ngộ đó, người dân đã bắt đầu một cuộc đề kháng bằng phương pháp bất hợp tác, sự thất bại của các chính sách hợp tác hóa nông nghiệp, xây dựng công nghiệp nặng, chính sách kinh tế mới và khai hoang phục hóa... là kết quả của sự bất hợp tác ấy, và từ đó đưa đến sự sa lầy trên khắp các lãnh vực của nhà nước chuyên chính vô sản.

    Quốc sách " đổi mới " được áp dụng từ sau đại hội VI của đảng Cộng Sản Việt Nam là nhằm giải quyết sự bế tắc nêu trên. Trong lãnh vực văn học nghệ thuật, quốc sách " đổi mới " được thể hiện bằng chính sách " cởi trói ". Từ " cởi trói " được sử dụng khá chính xác, nó xác nhận trước tiên, văn nghệ từ xưa đến nay vốn bị trói, nay cần được cởi. Thứ đến, nó ngầm nhắc nhở văn nghệ sĩ, rằng đó là một ân sủng của đảng, đảng có thể cởi trói, thì cũng có thể buộc lại, đảng có thể nới chút đỉnh nhưng vẫn cầm chắc đầu mối để sẵn sảng xiết chặt khi cần.

    Về phía văn nghệ sĩ, vốn là những người sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ, họ hiểu thấu đáo hơn ai hết những dụng ý của đảng khi ban hành chính sách này, và họ đã khôn khéo nương theo chính sách ấy để biểu lộ một cách công khai những nội dung họ hằng ấp ủ. Có thể nói, trong trận tuyến văn hóa tại nước nhà, có cuộc đọ sức giữa hai đấu thủ không cân xứng, một bên là hệ thống đảng với 60 năm kinh nghiệm dầy dạn các thủ thuật lũng đoạn, mua chuộc, vu khống và trấn áp bằng " bạo lực cách mạng "; và một bên là đội ngũ văn nghệ sĩ với vũ khí duy nhất là ngòi bút và tâm thức phản tỉnh. Trong đấu trường đó, giới cầm bút phải thật khéo léo tế nhị, bởi một sơ sẩy là một chuỗi hoạn nạn, khủng bố, tù đày, cấm cố như lớp văn nghệ sĩ đàn anh thời Nhân Văn-Giai Phẩm đã gánh chịu.

    Và từ đó, chúng ta mới hiểu tại sao, người cầm bút viết rào đón rất kỹ lưỡng, một lối thủ thế mà cụ Đào Duy Anh hồi sinh thời đã tâm sự với thân nhân ở miền Nam " Hãy đọc những quyển sách của tôi ở đoạn ruột, mà đừng để ý đến phần đầu trích dẫn ông Hồ, phần cuối trích dẫn ông Mác, đó là những lá bùa hộ mệnh để quyển sách có thể ra đời ".

    Do đó, từ " phản kháng " được dùng trong tuyển tập này không mang ý nghĩa đối đầu nhằm kêu gào lật đổ chế độ, bởi nếu quan niệm như vậy, e rằng không một tác phẩm nào xuất hiện công khai của nền văn học trong nước có thể gọi là phản kháng, nhưng nếu nhìn ở mặt tác dụng của nó, ở khả năng khơi mở, gợi ý, soi sáng và khích động để người dân giác ngộ về thân phận bị trị của mình thì dòng Văn học từ năm 1986 quả thực đã làm tròn được chức năng phản ảnh xã hội, vận động một ý thức đấu tranh và dự báo một cuộc chuyển mình của đất nước.

    Trong ý nghĩa đó, dòng văn nghệ phản kháng quốc nội kể từ năm 1986 đã trải qua những thời kỳ sau:

    - Thời kỳ dọ dẫm:

    Để chuẩn bị cho đại hội VI của đảng tháng 12 năm 1986, đảng đã nới tay cho báo chí phản ảnh dư luận trên hai lãnh vực: phê phán những mặt " tiêu cực " của xã hội như tham nhũng, móc ngoặc, cửa quyền..., và góp ý với đảng để hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước. Đây là một thông lệ mà mỗi lần " thay bậc đổi ngôi ", đảng vẫn thực hiện dưới những chiêu bài " phát huy dân chủ XHCN ", " phê bình và tự phê " mà mục đích thực sự là thanh lọc chân tay của nhóm lãnh đạo cũ và củng cố phe phái quanh lãnh tụ mới đăng quang. Nhưng khác với những chiến dịch " chống tiêu cực " của báo chí trước đây, từ năm 1989, tình hình đã đổi khác, uy tín của đảng càng ngày càng suy thoái do những thất bại liên tiếp về kinh tế xã hội, và sự sợ hãi của giới cầm bút, nếu trước đây là một bản tính thứ hai đối với văn nghệ sĩ miền Bắc, thì nay chưa thực sự ăn sâu vào não tủy của giới cầm bút gốc miền Nam và những nhà văn nhà báo khởi nghiệp sau năm 1975, cho nên cuộc tấn công của báo chí không phải chỉ giới hạn trong việc " chống tiêu cực ", vào những " hiện tượng " của xã hội như đảng cho phép mà đã lần lần đi vào " bản chất ", vào " căn nguyên " của những hiện tượng đó, nhất là từ khi Nguyên Ngọc nắm vai trò tổng biên tập báo Văn Nghệ.

    (còn tiếp)

  11. Thanks Quốc Hoàng, vinamaster, Nhu Thuong, kegiangho, phng99 thanked for this post
  12. #8
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Sự phản tỉnh của Nguyên Ngọc, như đã phân tích ở phần trên, đã xẩy ra từ 1979, do đó khi nắm tờ Văn Nghệ ông đã quyết tâm thực hiện những gì hằng thao thức. Vai trò của Nguyên Ngọc có thể so sánh với Nguyễn Hữu Đang thời Nhân Văn-Giai Phẩm, ông đã khuyến khích, vận động và nâng đỡ các nhà văn, nhất là những nhà văn trẻ, mạnh dạn sáng tác những tác phẩm tấn kích vào cớ chế của nhà nước.

    Võ khí đầu tiên được xử dụng là thể loại ký, khác với những loại tường thuật tin tức và phóng sự trên báo chí đương thời, là những bài viết phải theo sát sự việc cụ thể nên tính tổng quát và cô đọng không được sâu sắc và thường chỉ có tác dụng ở một vài địa phương hay cơ quan riêng biệt, ký là một gạch nối giữa phóng sự báo chí và tác phẩm văn học. Nó phải theo sát tình hình cụ thể nhưng đồng thời nó cho phép tác giả sắp xếp theo một bốc cục chủ quan để làm nổi bật một chủ đề mà tác giả muốn nhấn mạnh.

    Bắt đầu từ giữa năm 1987, các tác giả Hoàng Hữu Các, Lâm Thị Thanh Hà, Hà Văn Thủy, Hồ Chung Tú, Phùng Gia Lộc đã viết nhiều bài ký không những chỉ phản ánh tình trạng cường hào ác bá tại nông thôn mà còn nêu rõ những nguyên nhân sâu xa của các khuyết tật ấy: đó là sự áp đặt ý chí của đảng trong chính sách hợp tác hóa, sự đề kháng thụ động nhưng kiến hiệu của nông dân miền Bắc từ 30 năm và miền Nam từ 10 năm qua đối với chính sách nông nghiệp.

    Trên mặt các tệ đoan xã hội và những thất bại của chính sách xây dựng công nghiệp, các bài ký " Lời khai của bị can ", " Tiếng hú của con tàu ", " Vua lốp ", " Đá nổi xôn xao " đã vạch trần nguyên ủy những thất bại của đảng, đó là kế hoạch kinh tế chủ quan và cứng nhắc, chính sách lý lịch, quan điểm " công bình xã hội " không tưởng đã tạo ra sự bình đẳng trong bần cùng của người dân.

    Ưu điểm của những bài ký là đã tấn kích vào sự ngụy biện của đảng, bởi vì khi đã trình bày những hiện tượng sai sót có tính cách phổ biến từ Bắc vào nam, từ thành thị đến thôn quê thì những khuyết điểm ấy không còn mang tính chất " hiện tượng " nữa mà đã nằm trong " bản chất " của chế độ, hay ít nhất, nói như ông Hà Sĩ Phu " thực tiễn mới là thước đo tin cậy nhất của chân lý. Khâu thực hành chưa thành công thì lấy gì chứng minh lý luận không có sai lầm " (Sông Hương 39, trang 80 tháng 7-8-1989).

    Trên mặt sáng tác, những tác phẩm " Bên kia bờ ảo vọng " của Dương Thu Hương, " Thời xa vắng " của Lê Lựu, " Một giờ trước lúc rạng sáng "của Nguyễn Quang Lập là những bước dọ dẫm, tuy chưa có thể xem là những tác phẩm phản kháng thực sự nhưng rõ ràng đã đi ngoài vòng kềm tỏa của chủ nghĩa hiện thực xã hội, đã trình bày những mâu thuẫn trong nội tâm con người, những hoài nghi, bất mãn của cá nhân và những lo âu, xao xuyến trước những vấn đề của đất nước đi ngoài tinh thần " lạc quan cách mạng " đảng vẫn cổ súy.

    - Thời kỳ bộc phát:

    Trên mặt trận chính trị và xã hội, ký đã đóng trọn vai trò phản ảnh và thức tỉnh của nó mà đảng và nhà nước, dù bị ký tấn công vào những yếu huyệt của mình, vẫn không dễ trấn áp các tác giả, vì ký chỉ diễn tả sự thật và được biện minh bằng sự chính xác của sự kiện. Trên mặt văn học, sự xuất hiện của ký mang một tác dụng dây chuyền. Một số các bài ký, với nội dung càng ngày càng quyết liệt, không những chỉ xuất hiện trên tờ Văn Nghệ mà còn phổ biến ở các tạp chí ở miền Trung và miền Nam, đã tạo nên một tình trạng " xì hơi " và khuyến khích giới cầm bút nhập cuộc vào dòng văn nghệ phản kháng. Có thể nói, trừ thời kỳ tiền chiến, chưa có một giai đoạn nào mà văn nghệ bộc phát rộng rãi trên nhiều lãnh vực, phong phú trên nhiều đề tài như nền văn nghệ phản kháng của những năm 1988-1989.

    - Về các lãnh vực văn nghệ, bắt đầu từ năm 1988, đã xuất hiện những cây bút can đảm và cương trực trên lãnh vực lý luận như Lại Nguyên Ân, Nguyễn Đăng Mạnh, Phạm Xuân Nguyên, Hồ Ngọc, Lê Ngọc Trà, Lữ Phương... mà cuộc bút chiến giữa họ và các cán bộ tuyên huấn đảng về quan hệ giữa văn nghệ và chính trị đã ít nhất tạo một thành quả: đảng phải chấp nhận một sự độc lập của văn nghệ, giáo điều văn nghệ phục tùng chính trị, vốn là căn bản của chính sách văn nghệ từ 40 năm qua, không còn là một nguyên tắc bất khả xâm phạm nữa.

    - Đứng về mặt phê bình đã xuất hiện một đội ngũ phê bình gia có học và có khả năng thẩm mỹ khiến sinh hoạt văn nghệ " thoáng " hơn, phê bình không còn đóng vai trò chỉ điểm văn nghệ như trước đây, mà trái lại những bài phê bình của Hoàng Ngọc Hiến, Đặng Anh Đào, Vương Trí Nhàn, Văn Tâm... đã khuyến khích và động viên lớp văn nghệ sĩ sáng tác vượt khuôn khổ, vượt giáo điều của nền văn học XHCN, đổi mới bênh vực và đề cao ý hương nhân bản và khai phóng các tác giả đổi mới.

    - Trong lãnh vực sáng tác, từ năm 1988, đội ngũ văn nghệ sĩ chọn con đường dấn thân càng ngày càng đông đúc và chiếm được vị thế áp đảo trên hầu hết các bộ môn nghệ thuật như Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài... ở Văn; Nguyễn Duy, Trần Vàng Sao, Thanh Thảo... ở Thơ; Trần Văn Thủy, Đặng Nhật Minh, Việt Linh... ở Điện ảnh; Văn Cao, Hoàng Hiệp... ở Âm nhạc; Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bửu Chỉ... ở Hội họa; Lưu Quang Vũ, Tất Đạt... ở Kịch nghệ.

    Về phía văn nghệ sĩ, căn cứ vào tuổi tác, chúng ta có thể kể 4 thế hệ giới cầm bút đã tham dự vào phong trào văn nghệ phản kháng:

    - Thế hệ thành danh từ tiền chiến, nay đã trên 70, mặc dù không trực tiếp nhập cuộc trong phong trào, nhưng sự tham dự với hình thức sám hối như Bửu Tiến, công khai ủng hộ những vận động của thế hệ đàn em như Nguyễn Văn Bổng, phản ứng thụ động xót xa như Trương Chính... đã là những tấm gương (đôi khi là những gương thất bại) để lớp hậu sinh rút tỉa một kinh nghiệm rất đắt giá: sống dưới chế độ XHCN nếu không tạo được đoàn kết, không biểu lộ một nhân cách can trường thì rất dễ dàng bị khuất phục, và từ đó sẽ suốt đời sống trong sợ hãi như lớp đàn anh.

    - Thế hệ trưởng thành qua 2 cuộc kháng chiến, thường ở lứa tuổi 50-60. Phần lớn các văn nghệ sĩ thuộc thế hệ này là những cán bộ trung cao của đảng, một số đã biến thành các " ông quan văn nghệ ", và một số, như đã phân tích ở trên, đã phản tỉnh khi tiếp xúc với thực tế như Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Sáng, Thu Bồn, Xuân Cang, Bùi Minh Quốc... và những người này là điểm tựa vững chắc cho phong trào văn nghệ phản kháng.

    Có thể kể vào thế hệ này là những nhà văn thuộc phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm còn sống sót như Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Hữu Loan... mà sự can đảm và hoạn nạn của họ là niềm kích thích cho lớp nhà văn trẻ sau này.

    - Thành phần chủ lực của phong trào là lớp văn nghệ sĩ khởi nghiệp sau 1975 (hoặc đã viết trước đó nhưng mới bắt đầu nổi tiếng sau 1975) phần lớn họ ở lứa tuổi 30-40 như Trần Văn Thủy (sinh năm 1943), Nguyễn Duy (sinh năm 1945, Dương Thu Hương (sinh năm 1947), Lưu Quang Vũ (sinh năm 1948-đã mất), Trần Mạnh Hảo (sinh năm 1949), Nguyễn Huy Thiệp (sinh năm 1950), Việt Linh (sinh năm 1952), Nguyễn Quang Lập (sinh năm 1954), Phạm Thị Hoài (sinh năm 1960)... Một số lớn gốc bộ đội hoặc được đảng cử đi Đông Âu du học; họ là những người con của chế độ, hầu hết là đảng viên hoặc ít ra là đoàn viên, tuy nhiên họ là những người đã chứng minh lời tiên đoán của một lãnh tụ Cộng Sản Ý: " cuộc đấu tranh cuối cùng sẽ là cuộc đấu tranh giữa đảng viên Cộng Sản và con cháu họ ".

    - Thế hệ thứ 4 là thế hệ nhà văn trẻ ở lứa tuổi 20-30. Đây là thế hệ không phân biệt Bắc-Nam, Cộng sản hay Quốc gia, ta thấy họ xuất hiện trên các tạp chí Sông Hương, Tuổi Trẻ, Thanh Niên...chủ đề sáng tác của họ không vướng mắc vào quá khứ và chỉ nhìn những vấn đề muôn thuở của văn nghệ như tình yêu, thân phận con người, sự hoài nghi và lo âu về tương lai (xin đọc " tọa đàm của các tác giả trẻ " trên Sông Hương số 30, hoặc các cuộc trả lời ý kiến trên tờ Tuổi Trẻ Sài Gòn), một số tích cực hơn đã đi vào con đường văn nghệ đấu tranh như lớp trẻ ở Sài Gòn trong tờ báo Khát Vọng phát hành bí mật.

    (còn tiếp)




  13. Thanks Quốc Hoàng, vinamaster, Nhu Thuong, kegiangho, phng99 thanked for this post
  14. #9
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    3) Nội dung của cao trào văn nghệ phản kháng:

    Trong giới hạn của bài viết, chúng ta không đi sâu vào các tác giả tiêu biểu và khía cạnh chính trị trong các tác phẩm của họ, đó là nội dung của phần II và IV của tập giai phẩm này. Nhìn một cách tổng quát, có ba chủ đề lớn có tính cách chung nhất của cao trào văn nghệ phản kháng:

    - Văn nghệ tách rời khỏi sự lãnh đạo của đảng.

    - Phủ nhận thành quả quá khứ.

    - Hạ bệ thần tượng lịch sử và phủ nhận lý tưởng.

    Văn nghệ tách rời khỏi sự lãnh đạo của đảng:

    Văn nghệ phải phục tùng chính trị, đó là nguyên tắc căn bản của mọi chế độ cộng sản, vi phạm nguyên tắc này có nghĩa là tù đày, cải tạo, không chỉ ảnh hưởng đời sống người cầm bút mà còn liên hệ đến lý lịch con cháu, nhưng vì sứ mệnh của văn nghệ muôn đời vẫn là bảo vệ sự thật, bảo vệ cái đẹp cho nên với một chế độ che dấu sự thật và dung tục hóa cái đẹp như chế độ cộng sản, người làm văn nghệ đúng thiên chức mình luôn luôn mâu thuẫn với chế độ. Vì sự kiểm soát tư tưởng và chính sách công an văn hóa được đảng áp dụng rất chặt chẽ và tinh vi, cho nên để đấu tranh cho tự do sáng tác, người cầm bút phải sử dụng phương pháp gián tiếp, nói như Nguyễn Đình Thi: trong bài phỏng vấn của báo Sông Hương số 31 tháng 5-6-1988, " khi trong xã hội thiếu dân chủ thì người ta NÓI VÒNG, NÓI KHÁY. Truyền Kỳ Mạn Lục, Liêu Trai là những con đường vòng như thế ".

    Phương pháp NÓI VÒNG, NÓI KHÁY đó đã được xử dụng một cách rất " nhuần nhuyễn " trong lý luận của các tác giả đổi mới trong cuộc bút chiến về quan hệ giữa văn nghệ và chính trị. Luận cứ chính của các tác giả tiến bộ là chống chủ nghĩa Mao, chủ nghĩa Stalin.

    Đây chính là vấn đề nhức nhối nhất của đảng Cộng sản Việt Nam. Trong lịch sử cầm quyền, đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn đi dây giữa cuộc tranh chấp về lý thuyết của hai đảng cộng sản đàn anh Trung Hoa và Liên Xô. Tuy nhiên trên thực tế, vì bản chất là một đảng cộng sản Châu Á, vẫn còn ảnh hưởng rất nặng nề thói quen độc tài, chuyên đoán của một nền chính trị phong kiến, các lãnh tụ cộng sản Việt Nam rất tâm đắc với nền chuyên chính kiểu Satalin và quan điểm " quyền lực trên đầu lưỡi lê " của Mao, do đó ngoài mặt đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố đứng trung lập trong cuộc cấu xé về lý thuyết của hai đàn anh, nhưng bên trong, đảng đã nghiêng hẳn về Trung Hoa, cuộc đấu tranh chống " chủ nghĩa xét lại " và cuộc thanh trừng Hoàng Minh Chính là những dẫn chứng. Về thực chất, chính quyền Cộng sản Việt Nam là một trong những nước cộng sản hiếm hoi đã trung thành với l1y thuyết Satlin- Mao đến cùng.

    Sự lúng túng của đảng Cộng sản Việt Nam lại càng thêm sâu sắc khi vì quyền lợi và tham vọng " bá quyền " của mình, đảng đã xung đội với " bọn bá quyền phương Bắc ", và nhất là từ khi Gorbachev nắm chính quyền tại Liên Xô và theo đuổi chính sách không những chỉ kết án Stalin mà còn phủ nhận cả chủ nghĩa Lenin, rõ ràng các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam vô cùng " hụt hẫng " trước những sự kiện này, và các văn nghệ sĩ, với sự nhạy bén của trực giác đã khoét sâu vết thương đó.

    Trong truyện dài " Ngày mẹ chờ mong " của Nguyễn Khắc Phê (Sông Hương, 36 tháng 3-4-1989) tác giả đã cho biết mãi đến năm 1988, báo Văn Nghệ ở Hà Nội mới cho đăng bản dịch một bài phân tích của một tác giả Liên Xô về " Hiện tượng Stalin " và lập tức bài báo đã gây một sự " choáng váng " cho lớp cán bộ trung kiên của đảng, những người ngoài cửa miệng vẫn hô hào " đổi mới " nhưng trong " quán tính tư duy vẫn là những tín đồ của chủ nghĩa Stalin. Và tác giả đã mượn lời đứa con để phê phán " con thật không hiểu bố là người thế nào nữa. Hôm qua thì hăng hái như là lính xung kích trên mặt trận chốnng tiêu cực, hôm nay thì đích thực là... một ông bảo thủ ".

    Giải thích về " quán tính tư duy " này, tác giả viết " loại chuyên viên như chị, những người đã có trên 30 năm tuổi đảng, từng đọc những trang điều lệ ghi rõ là cùng với chủ nghĩa Mác-Lê nin, đảng ta lấy tư tưởng mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho mọi hành động, đều thấy là vị thủ trưởng họ đã không dám nhìn thẳng vào một sự thật đau lòng. Tất cả đều nín thinh, không ai dám trình bày quan điểm của mình. Ôi chao! Một thế hệ từng tỏ ra can đảm vô song trước kẻ thù mà nay đã trở nên hèn nhát thế ư? ".

    Dùng chiêu thức chống chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao là một phương cáh NÓI VÒNG, NÓI KHÁY để tấn công vào sự nghịch lý, mâu thuẫn trong chính sách của đảng, tấn kích vào chỗ nhược của sự lãnh đạo của đảng.

    Phủ nhận thành quả quá khứ:

    Cho đến nay, lý do để biện minh cho sự độc tôn, độc quyền trong việc đảng lãnh đạo đất nước, không chấp nhận đa nguyên đa đảng, là lập luận đảng đã thực hiện thành công hai cuộc kháng chiến, đã xây dựng được một xã hội tốt đẹp xóa bỏ cảnh người bóc lột người do đó được dân tín nhiệm... (diễn văn của Nguyễn Văn Linh ngày 3/2/1990).


    Đây là một lập luận đầy mỉa mai khi đối chiếu với thực tế.

    Để phản bác với thái độ kiêu căng bệnh hoạn đó, các văn nghệ sĩ lại phải dùng phương pháp NÓI KHÁY, thành quả xây dựng xã hội chủ nghĩa đã được Nguyên Ngọc đánh giá: " chủ nghĩa xã hội NHƯ CHÚNG TA LÀM, vì một lẽ nào đó, đang trở nên trì trệ. Nó không chứng minh được tính ưu việt đối với chế độ nó thay thế vá với lý tưởng chúng ta mơ ước " (Nguyên Ngọc-Sông Hương 37) hoặc trực tiếp hơn, như Dương Thu Hương đã nhận định, đó là " một chủ nghĩa xã hội kiểu trại lính ".

    Một trong những " thành quả tốt đẹp " mà đảng Việt nam đã mang đến cho nhân dân là chính sách " cải cách ruộng đất " đã được các nhà văn phản kháng mổ xẻ quyết liệt, các truyện ngắn " Ôi cam sao mà đắng ", " Câu chuyện làng Che ", " Con suối cạn nguồn " và tiểu thuyết " Thiên Đường Mù " là những bản cáo trạng đầy nghệ thuật, đầy thuyết phục mà đảng không thể nào biện bạch.

    Đối với quan điểm của đảng là có " sai " thì sẽ " sửa ", Lưu Quang Vũ đã phê phán " có những cái Sai không thể nào Sửa được... chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa. Hoặc bù lại bằng một việc đúng khác ". (Hồn Trương Ba, da hàng thịt).

    Cả quá trình cầm quyền của đảng đã chứng minh, đảng không có khả năng sửa sai, lại càng không có khả năng " làm việc đúng " để chuộc lỗi vì thế bằng phương pháp NÓI KHÁY, các văn nghệ sĩ đã nêu chủ đề " ly dị ", " Cuộc ly hôn cuối cùng " của Trần Văn Tuấn, " Ly thân " của Trần Mạnh Hảo và rất nhiều truyện ngắn đăng trên báo chí trong nước đều xoay quanh chủ đề này. Hậu ý của chủ đề ly dị là trong các cuộc hôn nhân miễn cưỡng, nếu một bên trong cuộc hôn phối áp bức, chà đạp người phối ngẫu thì giải pháp duy nhất là phải " giải phóng " cuộc hôn nhân này để đừng di hại cho con cái.

    Trong cuộc hôn nhân giữa đảng và nhân dân Việt Nam, nói như Dương Thu Hương, nếu đảng bắt dân phải biết ơn đảng thì đảng cũng phải biết ơn nhân dân, khi đảng vẫn coi dân là nô lệ thì e rằng cuộc hôn nhân miễn cưỡng này đã kéo dài hơn 40 năm cần phải được chấm dứt.

    Văn nghệ, với chức năng của nó, khác với những tờ truyền đơn, nó không nhất thiết phải kêu gọi dân đứng lên lật đổ chế độ, nhưng bằng khả năng gơi ý và dự báo của nó, những tác phẩm với chủ đề " ly dị " qua phương pháp " NÓI VÒNG, NÓI KHÁY " đã thức tỉnh người dân để họ chọn một thái độ.

    Hạ bệ thần tượng và phủ nhận lý tưởng:

    Mục tiêu của chế độ XHCN là xây dựng con người mới XHCN, để giáo dục và rèn luyện khuôn mẫu con người mới đó, đảng đã xuất bản và phổ biến rộng rãi hai truyện dịch " Ruồi Trâu " của VOYNICH và " Thép đã tôi thế ấy " của OSTROVSKY. Ruồi Trâu và Pavel Kortshagin trở thành thần tượng một thời của tuổi trẻ Việt Nam dưới lý tưởng cộng sản. Đó là những thần tượn sắt đá, chiến đấu không mệt mỏi vì lý tưởng cộng sản, phủ nhận mọi tình cảm và niềm tin bình thường của con người. Tuy nhiên dưới mắt của Phạm Thị Hoài thì hai tác phẩm trên " không phải là một tác phẩm chân thực, âu cũng là một dạng cổ tích viết tồi ".

    Ảnh hưởng của những loại thần tượng này đã được Phạm Thị Hoài phê phán " Hai quyển sách quyết định bộ mặt tinh thần của cả một thế hệ. Con đẻ của thế hệ ấy, không thành những Ruồi Trâu thì thành Pavel Kortshagin, đi đứng, nói năng, tư duy, sống và yêu đương trong bộ đồng phục tinh thần may sẵn " (Thiên Sứ, trang 26).

    " Con đẻ của thế hệ ấy " những thần tượng cộng sản đã hóa thân vào xã hội Việt Nam thành những " cậu Chính " trong " Những thiên đường mù " của Dương Thu Hương, " chính ủy Tràng Giang " trong " Ly thân " của Trần Mạnh Hảo, " Quang lùn " trong " Thiên sứ " của Phạm Thị Hoài... những mẫu người ti tiện, tàn độc, ngu muội và say mê quyền lực khiến một nhà văn phải thốt lên: " đảng viên, đấy là bằng chứng rõ ràng nhất cho tư cách của một kẻ bất lương ".

    Những thần tượng mới của chủ nghĩa, của xã hội đã bị hạ bệ, riêng đối với những thần tượng lịch sử, vấn đề lại càng tế nhị hơn vì nó đụng chạm vào cấm địa của chế độ, đó là vai trò và tư cách ông Hồ Chí Minh. Do đó ta thấy người phê bình của chế độ đã thổi phồng các chi tiết trong bộ ba truyện ngắn Kiếm sắc - Vàng lửa - Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp nhằm kết tội anh " hạ bệ thần tượng lịch sử đưa đến việc hạ bệ bác Hồ " (ghi nhận theo Thông cáo của chi hội nhà văn Bình Trị Thiên, Sông Hương số 36).

    Hồ Chí Minh, theo sự đánh giá của các sử gia Hà Nội, là người tổng hợp tất cả những tinh hoa lịch sử kể từ thời Hùng Vương, mặc dù dựa vào duy vật biện chứng trong việc giải thích sử liệu, nhóm sử gia này đã tỏ ra rất duy tâm, hay đúng hơn duy ý chí, khi thần thánh hóa vai trò ông Hồ. Từ sự võ đoán của họ, con đường Hồ Chí Minh lựa chọn đứng về phía quốc tế cộng sản được coi là một " tất yếu lịch sử ", và luận cứ này, cho đến nay vẫn là một nền tảng để biện minh cho vai trò độc tôn của đảng cộng sản trên chính trường Việt Nam, không chấp nhận mọi hình thức đa nguyên, đa đảng (diễn văn Nguyễn Văn Linh kỷ niệm 60 năm thành lập đảng 03/02/1990).

    Để đập vỡ huyền thoại " tất yếu lịch sử " đó, Nguyễn Huy Thiệp bằng bút pháp " ẩn dụ đa nghĩa " đã nêu những " hằng số lịch sử " để phi bác tính " tất yếu " đầy võ đoán và phản khoa học đó, và đánh đồng thần tượng lịch sử Quang Trung với Gia Long trong khía cạnh phàm tục nhất của con người là mối liên hệ " ngoại sử " đối với nàng Ngô Thị Vinh Hoa, để từ đó khiến người đọc dễ dàng liên tưởng đến tính chất bạo liệt thâm độc của Gia Long trong các " trò chơi đế vương " khi so sánh với Hồ Chí Minh trong thực tế.

    (còn tiếp)
    Last edited by Quốc Hoàng; 12-23-2015 at 13:52.

  15. Thanks Quốc Hoàng, vinamaster, Nhu Thuong, kegiangho, phng99 thanked for this post
  16. #10
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Lịch sử chỉ là một cái cớ, bộ ba truyện ngắn Kiếm Sắc - Vàng Lửa - Phẩm Tiết của Nguyễn Huy Thiệp chỉ nhằm giải tỏa các huyền thoại, dùng phương pháp " dĩ cố vi kim " để đảo ngược các giá trị vốn là niềm tin nền tảng của chế độ: nhằm phàm tục hóa nhân cách Hồ Chí Minh, và vạch trần sự phi lý của những " tất yếu lịch sử ". Bên cạnh đó, các truyện ngắn này là những cảnh tỉnh nghiêm khắc về sự suy vi của xã hội và sự tha hóa của con người Việt Nam ngày nay.

    Khi những thần tượng bị hạ bệ thì lý tưởng mà các thần tượng ấy theo đuổi cũng trở nên lố bịch, vô nghĩa.

    Lý tưởng tối hậu của chủ nghĩa cộng sản, là một " thiên đường ngày mai ca hát " ở giữa thế gian này, qua cách nhìn của Dương Thu Hương, đó chỉ là " những thiên đường mù "" trí khôn ngắn ngủi " của những tín đồ cộng sản không thể nào nắm bắt được. " Thiên đình thượng giới " trong vở kịch " Hồn Trương Ba, Da hàng thịt " của Lưu Quang Vũ cũng là một thiên đường khác mà các " thiên tiên " lại phàm tục, xấu xa, ti tiện không hơn gì những con người dưới thế.

    Lý tưởng của một thiên đường ngày mai ca hát mà Marrx đã hứa hẹn đã trở thành một ảo tưởng mỉa mai khi đối chiếu với những cảnh đời suy đồi, nhàu nát đớn đau, trầm luân khổ ải trong những truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập, Xuân Đài, Trần Thùy Mai, Nguyễn Đức Thọ...

    Phủ nhận lý tưởng, hạ bệ thần tượng, đối với bản thân của giới cầm bút là kết quả của những dày vò trong nội tâm. Đọc thật chậm rãi các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ta cảm nhận cái dư vị xót sa của tình huống không có cha (Tướng Về Hưu), không có vua, không có thủy thần. Trong " Thiên Sứ ", khi phủ nhận mọi khuôn mẫu tiền chế của một xã hội vong thân, Phạm Thị Hoài đã trở về với nỗi cô đơn cùng cực trong thân phận cô bé Hoài từ chối thành người lớn để khỏi hội nhập với đời sống giả dối.

    Tâm trạng này cũng dễ hiểu, những nhà văn chủ lực của cao trào văn nghệ phản kháng vốn là những người đã sinh ra, lớn lên và được nuôi dưỡng trong chế độ cộng sản, " quán tính tư duy " của họ không thể tránh vướng mắc khi phải đoạn tuyệt với quá khứ, " khai chiến với những gì tốt đẹp của mình ", nói như Nguyễn Minh Châu, nhưng đó là niềm đau cần thiết để hóa thân và hòa nhập vào dòng vận động của đại khối dân tộc trong những đổi đời sắp đến.

    *


    Cao trào văn nghệ phản kháng của giới văn nghệ sĩ trong nước qua những bước dọ dẫm từ đầu thập niên 80, đã bộc phát mạnh mẽ trong hai năm 1988-1989 và trở lại thời kỳ lắng đọng sau đại hội nhà văn lần IV vào tháng 9 năm 1989. Có hai lý do giải thích tình trạng lắng đọng này, thứ nhất đảng đã ra tay " uốn nắn những lệch lạc ", kiểm soát chặt chẽ báo chí, bóp nghẹt các diễn đàn từng là đất dụng võ của các nhà văn tiến bộ, và thứ hai, tự thân các văn nghệ sĩ cũng đang thao thức, tìm tòi những suy nghĩ, những phương pháp sáng tác mới để đáp ứng với tình hình đất nước, như Dương Thu Hương đã trả lời báo Tuổi Trẻ số 26/90, giải thích về quyết định tạm ngưng viết của chị: " tôi thấy cần dừng lại một quãng để dưỡng sức và cũng để tìm tòi những phong cách, những thể nghiệm mới " hoặc như lời thú nhận của Nguyên Ngọc: " Những năm gần đây, tôi thấy viết càng khó hơn... tôi thấy cần tìm cho mình một tiếng nói khác, một ngôn ngữ nghệ thuật khác. Quanh tôi, và trong tôi đã có biết bao thay đổi không nhỏ, không giản đơn. Phải viết khác... đó là " thay máu " như anh Nguyễn Minh Châu từng nói (Văn Nghệ số Xuân Canh Ngọ 1990) ".

    Những thể nghiệm mới, phải viết khác... đó là những ưu tư của các văn nghệ sĩ khi đi tìm một ngôn ngữ thể hiện được những khát vọng càng ngày càng sâu sắc của quảng đại quần chúng đã tin yêu và hưởng ứng những sáng tác đã nở rộ trong thời điểm 1986-1989.

    Càng được quần chúng tin yêu, trách nhiệm của văn nghệ sĩ càng khó khăn bức bách, nói như Nguyễn Tuân, đối diện trước trang giấy, họ cảm thấy mình đang ở trên đoạn đường đến một PHÁP TRƯỜNG TRẮNG (lời Nguyễn Tuân, thuật lại theo Nguyên Ngọc, Tác phẩm văn học số 4/89).

    Một cách cụ thể và trực tiếp, pháp trường trắng là mối đe dọa của chế độ công an văn hóa, sẵn sàng đưa người cầm bút vào nhà tù hay trại cải tạo.

    Một cách gián tiếp và sâu xa, pháp trường trắng thể hiện thái độ và trách nhiệm của văn nghệ sĩ trong cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ của dân tộc Việt, là sự chọn lựa của người cầm bút đứng về phía nào trong mối mâu thuẫn không thể hòa giải giữa nhà cầm quyền hiện tại và đại khối nhân dân.

    Do đó, sự lắng đọng của tình hình văn học nghệ thuật trong nước kể từ đầu năm 1990 là một sự im lặng bất thường trong khi chờ đợi bão nổi, và đây cũng là lúc " lửa thử vàng gian nan thử sức ". Bằng những tiếng nói dõng dạc đã cất lên trong thời điểm 1986-1989, chúng ta tin chắc tiếng nói đó sẽ càng lan rộng và vút cao trong những ngày sắp tới.

    Con chúng ta, những người tự nghĩ rằng mình đang quan tâm đến tình hình đất nước, chẳng lẽ chúng ta khoanh tay trông đợi và ngóng chờ, để một lúc nào đó, nghe tin từ quê nhà một vụ Nhân Văn-Giai Phẩm thứ hai đã xẩy ra, chúng ta sẽ cùng tụ tập nhau để " đọc lời hoan điếu cho một thời văn học phản kháng trên quê hương " !

    Reseda, 30/4/1990.


    Phong trào đổi mới văn học tại Việt Nam: Từ phản tỉnh đến phản kháng


    Nguyễn Hưng Quốc


    Từ trang 49 đến trang 70.


    Có thể tóm tắt toàn bộ đặc điểm của nền văn học cộng sản vào một chữ: chữ MỘT. Đó là nền văn học mà tất cả những người cầm bút đều chịu MỘT sự lãnh đạo: sự lãnh đạo của đảng; đều đứng trong MỘT tố chức: hội nhà văn Việt Nam; đều có MỘT thế giới quan: chủ nghĩa Mác-Lênin; đều sử dụng MỘT phương pháp: chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; đều có chung MỘT phong cách: dễ hiểu, giản dị, thậm chí, đơn giản; đều nhắm tới MỘT mục đích: khẳng định vai trò lãnh đạo độc tôn, tuyệt đối của đảng, ca ngợi lãnh tụ, ca ngợi chủ nghĩa xã hội; đều có MỘT tính chất: tính chất chính trị.

    Đó cũng là một nền văn học nghèo nàn và đơn điệu, chỉ quanh quẩn trong một số những giáo điều và công thức cứng nhắc, cũ kỹ, hoàn toàn giả tạo.

    Ngay thời kháng chiến chống Pháp, vào khoảng những năm 50, 51 tại Thanh Hóa, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã lên tiếng phê phán gay gắt, cho đó chỉ là một cái chuồng chật chội mà người ta mưu toan đặt ra để giam nhốt giới văn nghệ sĩ (1).

    Sau Nguyễn Mạnh Tường, đã nhiều lần, những người cầm bút chân chính dưới chế độ cộng sản vùng dậy đấu tranh đòi hỏi tự do. Cuộc đấu tranh được nhiều người biết nhất là cuộc đấu tranh của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm vào những năm 56, 57 ở miền Bắc. Cuộc đấu tranh, cuối cùng, đã bị đàn áp khốc liệt: Nguyễn Hữ Đang, Trần Thiếu Bảo và Thụy An bị kết án mười lăm năm tù giam (2); tất cả những người còn lại đều bị trục xuất ra khỏi hội nghề nghiệp của mình và bị tước đoạt quyền sáng tác suốt mấy chục năm liền.

    Những biện pháp trấn áp độc đoán và thô bạo của cộng sản khiến cho giới cầm bút kinh hãi. Nhiều người lại ngoan ngoãn cúi đầu phục tùng đảng và cam phận quanh quẩn trong cái chuồng tù túng, thiếu dưỡng khí của cái gọi là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Lâu lâu lại có người giãy giụa phản kháng. Lâu lâu lại nổ ra một vụ án văn học. Theo Từ Sơn, trên tạp chí Cộng Sản số tháng Năm 1988, từ 1960 đến năm 1988, tại Việt Nam, dưới chế độ cộng sản, đã có bảy mươi ba vụ án như vậy, ở đó, hầu hết nạn nhân đều là những kẻ thành thật, muốn nói lên tiếng nói tâm huyết của mình thay vì chỉ làm một cái ống loa rè khuyếc âm sự dối trá của đảng. Có điều, những nỗ lực vùng vẫy tháo cũi sổ lồng ấy đều có tính chất cá nhân, lẻ tẻ, rời rạc và rất dễ bị vùi dập.

    Chỉ đến những năm gần đây, cụ thể là từ năm 1986, trước luồng gió dân chủ đang thổi rạt rào trên thế giới, những người cầm bút Việt Nam mới thực sự đứng dậy, đồng loạt và dữ dội gào thét đòi hỏi dân chủ. Chưa bao giờ, tại Việt Nam, dưới chế độ cộng sản, sinh hoạt văn học lại xôn xao, sôi nổi đến như vậy. Ngỡ như các nhà văn, các nhà thơ đang xuống đường, bằng giấy, bằng bút, sôi sục lên án cái chế độ suốt bao nhiêu năm đã vùi dập mình. Họ cũng đòi đọc cả lời ai điếu cho nền văn học mà chính họ đã ra sức xây dựng trong quá khứ, cái nền văn học " minh họa " đường lối và chính sách của đảng.

    Bắt đầu là một nỗ lực " đổi mới " văn học, giới cầm bút đã nhanh chóng trở thành kẻ phản kháng. Có thấy sự chuyển biến này, người ta mới hiểu được tại sao, cuối năm 1988, nhà cầm quyền Hà Nội đột ngột thay đổi thái độ, đóng sầm cánh cửa đổi mới lại, quay qua kết tội và đàn áp những người thực hiện đến cùng quan điểm đổi mới.

    *


    Ở trong nước cũng như ở ngoài nước, người ta thường lầm lẫn khi nhận định chính đảng cộng sản là kẻ khai sinh ra phong trào đổi mới trong văn học. Đó chỉ là một sự ngộ nhận, một ngộ nhận do vô tình và do một phần nào, do cố ý nữa. Vô tình mà ngộ nhận là giới cầm bút ở hải ngoại: thiếu tài liệu, thiếu thông tin, người ta chỉ thấy được những dấu mốc lớn là các chỉ thị, các nghị quyết của trung ương đảng cộng sản mà không thấy được những nỗ lực tranh đấu âm thầm nhưng vô cùng gay gắt và dũng cảm của một số văn nghệ sĩ dù sống dưới chế độ cộng sản và dù, có khi là đảng viên cộng sản, vẫn giữ được chút " thiên lương ", nói theo chữ của Tản Đà, để biết đau đớn, tủi nhục về vái thân phận cá chậu chim lồng của mình, để biết hướng tới cái khát vọng dùng ngòi bút gửi gấm cho đời không phải những bọt bong bóng xà phòng hư ảo mà là những điều tâm huyết nhất trước những sự thật tối tăm, cùng quẫn và nhức nhối nhất... Cố ý mà ngộ nhận là giới cầm bút trong nước: khôn ngoan, người ta lùi lại phía sau, nhường cho trung ương đảng cầm lá cờ đổi mới, nép đằng sau các bản nghị quyết của bộ chính trị để tránh né những đòn tấn công phũ và ác của bọn " lính gác trên trận địa văn học ", nói như Mai Ngữ trong bài Về một thời kỳ đã qua (3), hay " những tên lính đánh thuê ", " những kẻ ngụy trá văn nghệ sĩ và trí thức, thực chất là lớp công chức thuộc địa ", nói như Dương Thu Hương trong bài Đôi điều suy nghĩ về nhân cách của người trí thức (4).

    Khó nói được đâu là tác phẩm đầu tiên đánh dấu quá trình đổi mới trong nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dư luận thường ghi công cho hai tác phẩm: Thời Xa Vắng (1986) của Lê Lựu và Bên Kia Bờ Ảo Vọng (1987) của Dương Thu Hương. Thât ra, cùng chiều hướng sáng tác với Thời Xa VắngBên Kia Bờ Ảo Vọng, đã có quyển tiểu thuyết Mùa Lá Rụng Trong Vườn của Ma Văn Kháng xuất bản năm 1985 và được hội nhà văn phát tặng thưởng loại A cùng năm. Trước Mùa Lá Rụng Trong Vườn, nhiều truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, nhiều bài thơ của Nguyễn Duy, từ đầu thập niên 80, đã có đầy đủ những tính chất gọi là đổi mới sau này.

    (còn tiếp)

  17. Thanks vinamaster, Nhu Thuong, Quốc Hoàng, kegiangho, phng99 thanked for this post
  18. #11
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Đi xa hơn nữa, có thể coi bài báo Viết Về Chiến Tranh của Nguyễn Minh Châu đăng trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số tháng Mười Một 1978 và đặc biệt, bài báo Về Một Đặc Điểm Của Văn Học Nghệ Thuật Ở Ta Trong Giai Đoạn Vừa Qua của Hoàng Ngọc Hiến đăng trên tuần báo Văn Nghệ tại Hà Nội số ra ngày 9 tháng 6 năm 1979 là những mầm mống đầu tiên của quá trình đổi mới văn học ở Việt Nam.

    Qua hai bài viết trên, cả NGuyễn Minh Châu lẫn Hoàng Ngọc Hiến đều bày tỏ một thái độ: thái độ phản kháng trước những đường lối hẹp hòi, thô thiển và thô bạo của cộng sản đối với văn học; đều bày tỏ một quan niệm: quan niệm phủ nhận những giá trị hư huyễn mà cộng sản cố sức vẽ vời lên trên nền văn học " minh hoa " và " phải đạo " của họ; đều bày tỏ một ước mơ: ước mơ được phản ánh chân thực cuộc đời, thể hiện chân thực những gì mình ấp ủ.

    Thời ấy, tất cả những cán bộ lãnh đạo đảng và lãnh đạo văn hóa, văn nghệ của đảng đều lên tiếng phê phán gay gắt quan điểm của Nguyễn Minh Châu, của Hoàng Ngọc Hiến cũng như của những người đồng tình và ủng hộ họ (5).

    Những tiếng nói chính trực có thể bị dập tắt, tuy nhiên, dư âm của nó thì cứ ngân vang mãi trong lòng giới cầm bút, trở thành những bất mãn, những suy tư, như Nguyễn Văn Bổng nhận định trong bài Nghĩ Về Cái Mới Trong Tiểu Thuyết Của Ta Hiện Nay đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 22 tháng Năm 1987, chính những bất mãn, những suy tư, những trăn trở ấy đã " thúc đẩy sự ra đời của nghị quyết của bộ chính trị về văn nghệ, nay là chỗ dựa đáng yên tâm cho họ ".

    Nghị quyết về văn nghệ mà Nguyễn Văn Bổng vừa nhắc là nghị quyết số 05 được công bố vào đầu tháng Mười Hai 1987 mang tựa đề " Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới ".

    Nội dung chính của nghị quyết 05 tập trung chủ yếu vào đoạn dưới đây:

    " Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ để phát triển tài năng... Tác phẩm văn nghệ không vi phạm pháp luật, không phản động (chống lại dân tộc, chống lại chủ nghĩa xã hội, phá hoại hòa bình) và không đồi trụy (truyền bá tội ác, sự sa đọa, phá hoại nhân phẩm) đều có quyền được lưu hành và đặt dưới sự đánh giá, phán xét của công luận và sự phê bình. Đảng và nhà nước khuyến khích thảo luận, tranh luận công khai để tìm chân lý. Cần tạo một không khí hồ hởi trong sáng tác, khêu gợi nhiều cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, trong việc phát triển các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện " (6).

    Trước khi bản nghị quyết trên ra đời, trong cuộc gặp gỡ hơn một trăm văn nghệ sĩ tại Hà Nội vào hai ngày 6 và 7 tháng Mười 1987, Nguyễn Văn Linh, Tổng bí thư đảng cộng sản Việt nam, đã tuyên bố chính sách đổi mới của đảng trong lãnh vực văn học nghệ thuật, bằng cách, một mặt, thừa nhận trong mấy chục năm qua, đảng đã vấp phải nhiều sai lầm nghiêm trọng, chủ yếu là " đánh giá thấp vai trò, vị trí của văn học nghệ thuật ", sự lãnh đạo " thiếu dân chủ, trói buộc văn nghệ sĩ, nhiều khi độc đoán, sát phạt ", đảng đã có một " cơ chế quản lý không đúng, nhiều chính sách bất công ", mặt khác, tuyên bố " cởi trói " giới văn nghệ sĩ, kêu gọi văn nghệ sĩ " phải nói lên sự thật, dù là sự thật phũ phàng ", " dù thế nào, các đồng chí cũng không nên uốn cong ngòi bút của mình " (7).

    So sánh thời điểm xuất hiện của những tác phẩm có nội dung đổi mới và các văn kiện nói về sự đổi mới như trên, chúng ta thấy ngay, giữ vai trò tiên phong trong việc đổi mới văn học nghệ thuật tại Việt Nam trong mấy năm vừa qua là các văn nghệ sĩ chứ không phải là đảng cộng sản.

    Vai trò của đảng cộng sản, ở đây, chỉ dừng lại trong việc thừa nhận sự đổi mới rồi sau đó ít lâu, vào cuối năm 1988, nhất là vào đầu năm 1989, khai tử sự đổi mới, trù dập những người nói thẳng, nói thật.

    *


    Cuộc vận động đổi mới diễn ra trên cả ba lãnh vực: sáng tác, phê bình và lý luận.

    Cuộc vận động đổi mới trong lãnh vực sáng tác khởi sự khá sớm và kéo dài khá lâu. Tuy nhiên, số cây bút tham gia và thực sự thành công tương đối ít. Cũng dễ hiểu. Đổi mới trong sáng tác có nghĩa là đổi mới cả một nếp cảm xúc trong con người. Nhiều nhà văn, nhà thơ ở Việt Nam tự ví mình như những con gà công nghiệp, sau một thời gian dài bị nhốt trong chuồng, nay được thả ra giữa sân, mắt lóa nắng, đi đứng lạng quạng, gặp cái gì cũng ngỡ ngàng, không biết bới rác và không biết về đâu và đến đâu.

    Với những mức độ khác nhau, có thể coi những tên tuổi sau đây ít nhiều đổi mới sáng tác của mình. Về văn xuôi, có Nguyễn Minh Châu, Dương Thu Hương, Lê Lựu, Xuân Cang, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Phùng Gia Lộc... Về thơ, có Nguyễn Duy, Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Trần Vàng Sao, Trần Mạnh Hảo...

    Có thể tóm gọn sự đổi mới của họ vào bốn điểm:

    Thứ nhất, họ chấp nhận có mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp vô sản và trong bản thân xã hội chủ nghĩa.

    Thứ hai, vì chấp nhận có mâu thuẫn nên họ cũng chấp nhận có bi kịch.

    Thứ ba, họ chấp nhận, trong văn học, có một khu vực khá rộng rãi dành cho cái " tôi ", cái riêng của con người, những con người bình thường, tầm thường.

    Và thứ tư, họ chấp nhận sự hiện diện của những yếu tố " vô hại " trong nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

    Bốn điểm gọi là mới trên, so với lịch sử văn học dân tộc nói chung, là những cái cũ mèm, tuy nhiên, so với lịch sử văn học cộng sản, từ năm 1945 đến nay, là những canh tân độc đáo và cự kỳ quan trọng.

    Suốt mấy chục năm, nghiệt ngã vô cùng, cộng sản chỉ cho phép ấn hành những tác phẩm trực tiếp có ích cho cuộc chiến đấu. Văn học là vũ khí. Cái câu thơ " Nay ở trong thơ nên có thép. Nhà thơ cũng phải biết xung phong " của Hồ Chí Minh được coi là cương lĩnh sáng tác của mọi người. Tất cả những gì không phải là vũ khí đều bị vất bỏ. Thơ Tố Hữu: " Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ, Hơn nghìn trang giấy luận văn chương ". Cái có ích được đề cao, đè bẹp cái đẹp, vốn là bản chất của văn học. Xuân Quỳnh: " Em đang tập làm thơ có ích ". Chính cái quan điểm này làm cho cộng sản cấm đoán và mạt sát thơ tiền chiến không tiếc lời. Hoài Thanh, người có công nhất trong việc giới thiệu thơ Mới trước đây quay lại chửi bới thơ Mới thậm tệ. Chế Lan Viên thì coi thời mình sáng tác tập Điêu Tàn là một điều đáng ân hận: Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng. Vô số những tác phẩm văn học cổ điển không được in lại chỉ vì quan điểm này. Vô số những tác phẩm văn học hiện tại bị kết án cũng chỉ vì quan điểm này.

    Từ năm 1986, người ta bắt đầu rón rén phục hồi giá trị cho nhiều cây bút tài hoa và nhân bản, trong đó có cả những người trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn và thơ Mới. Điều này có nghĩa là biên giới của cái lãnh thổ văn học mà cộng sản quản lý được nới rộng hơn: bên cạnh những yếu tố có ích, đã có sự hiện diện của những yếu tố vô hại đối với cộng sản.

    Ba sự thay đổi đầu có ý nghĩa quan trọng hơn. Trước, có một luận điệu được coi là nguyên tắc: chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ của dân, vì dân, do nhân dân làm chủ. Trong chế độ ấy không có mâu thuẫn đối kháng. Mọi người cùng chung một lý tưởng, một tư tưởng, một quyền lợi. Tất cả những gì xấu xa đều bị lùa hết sang phía... địch. Chỉ có địch mới biết tham ô, mới biết ngoại tình, mới biết ức hiếp nhân dân. Chỉ có địch mới bán nước, mới giết người, mới làm những chuyện bỉ ổi, nhố nhăng.

    Thế giới bị cắt làm đôi: một bên là cách mạng và một bên là phản cách mạng.

    Nhân vật trong thơ, trong truyện, theo đó, cũng bị chia thành hai tuyến: tuyến nhân vật tiến bộ và tuyến nhân vật phản động. Kết cấu của mọi truyện ngắn, truyện dài, mọi vở kịch, mọi bài thơ tự sự dưới chế độ cộng sản trước đây được xây dựng trên căn bản sự đối nghịch giữa hai tuyến nhân vật này.

    Những sáng tác thuộc xu hướng đổi mới đã cố gắng phá vỡ cái nhìn đơn giản, chật chội cũ để tập trung khai thác những mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp vô sản và chủ nghĩa xã hội. Giang Minh Sài, trong quyển tiểu thuyết Thời Xa Vắng của Lê Lựu, chẳng hạn, không phải chỉ đối đầu với " địch " trên chiến trường mà còn phải thường xuyên đối đầu với đồng bào, đồng chí của anh ta. Giữa những người được coi là cùng chung một lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có biết bao là khoảng cách dẫn đến những xung khắc trầm trọng. Ngay trong cuộc sống gia đình, Giang Minh sài cũng gặp cơ man những mâu thuẫn: anh ta có hai đời vợ; người vợ đầu do bố mẹ ép lấy, anh ta không yêu nhưng cũng không dám bỏ; người vợ sau anh ta rất yêu nhưng tính tình lại đỏng đảnh, hư hỏng nên cuối cùng cũng không có hạnh phúc.

    Những mâu thuẫn được khai thác triệt để trong Mảnh Đất Tình Yêu, tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu, xuất bản năm 1987, cũng là những mâu thuẫn trong lòng " cách mạng ", những mâu thuẫn giữa " cái bọn vừa dốt nát, tham lam, vừa lắm quỷ kế, lắm thủ đoạn có quyền nhân danh cách mạnh ", " vu khống, dọa dẫm khiến người ta sợ phải són đái ra, từ đó mà khuất phục, mua chuộc " với những người dân hiền lành, chất phác, suốt đời chỉ biết lui cui lao động, giống như những con dã tràng " lúc nào cũng mắt trước mắt sau, nhớn nhác, hốt hoảng chực chạy ".

    Sự mâu thuẫn gắn liền với sự tồn tại của cái xấu. Trước đây, trong văn học cộng sản, không ai dám mô tả cái xấu của những " con người mới xã hội chủ nghĩa ". Sự thoái hóa, sự lạc hậu, nếu có, chỉ tập trung vào thành phần địa chủ, tư sản, tiểu tư sản chưa chịu học tập cải tạo. Đảng viên và cán bộ, càng cao cấp bao nhiêu, càng tốt lành và sáng suốt bấy nhiêu. Họ có khả năng hóa giải được mọi mâu thuẫn, mọi khó khăn. Trả lời cuộc phỏng vấn đăng trên báo Văn Nghệ số ra ngày 3 tháng Mười Hai 1988, Nguyễn Minh Châu thú nhận: " Là những nhà văn hiền lành, vô sự, chỉ biết ca ngợi, cả đời chúng ta không làm hại ai, không làm điều ác với ai. Nhưng cái lỗi lầm lớn nhất của mỗi người chúng ta là đã khiếp hãi trước cái xấu và cái ác. Và lâu dần dường như không làm gì được thì chúng ta coi như không có nó - cuộc đời không có cái xấu và không có cái ác đang hoành hành, đang chi phối số phận con người, coi như cuộc đời không còn oan khiên, oan khuất ".

    Hiện nay, ngược lại, một số cây bút đã thẳng thắn vạch trần những cái xấu xa dơ dáy và độc ác trong xã hội. Trong quyển tiểu thuyết Ngày Thứ Bảy U Ám của Trần Văn Tuấn, người ta thấy cả những con người gọi là cách mạng nhưng bản chất rất đỗi xấu xa và hung bạo, thế mà, cuối cùng, cũng ngoi lên tới chức... thứ trưởng. Những văn nhân tài tử trong quyển tiểu thuyết Bên Kia Bờ Ảo Vọng của Dương Thu Hương chỉ là những " kẻ dối trá ti tiện " (tr.6), những kẻ " hèn mọn và thảm hại " (tr.335). Không có ai là thần thánh. " Thần thánh chỉ sống trong trí tưởng của loài người thuở sơ khai. Bây giờ, con người đã đủ khôn để hiểu rằng vĩ nhân nào cũng có ba mươi phần trăm sự siêu phàm còn bảy mươi phần trăm kia dành cho kiếp sống trần tục. Bởi lẽ đó, họ cũng giật mình khi gió dông sấm sét, sẽ đau đớn dày vò khi mất mát quyền lợi riêng, sẽ có những ngộ nhận và lầm lẫn " (tr.8). Cùng chiều hướng này, Nguyễn Huy Thiệp còn đi xa hơn Dương Thu Hương nhiều. Phần lớn nhân vật trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nói như Mai Ngữ trong bài Cái tâm và cái tài của người viết đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân số ra ngày 27 tháng Tám 1988, chỉ là " những con người trần trụi, lõa thể trong tư duy cũng như trong hình hài ", những con người hiện hữu như những đống rác trôi lềnh bềnh trên mặt nước đục ngầu là cái xã hội xã hội chủ nghĩa khốn khó. Đặc biệt, gây ồn ào trong dư luận nhất là truyện ngắn Vàng Lửa, Kiếm SắcPhẩm Tiết. Ở cả ba truyện này, Nguyễn Huy Thiệp đụng đến ba nhân vật thuộc loại lớn nhất trong lịch sử Việt Nam: Quang Trung, Nguyễn Du và Gia Long.

    (còn tiếp)

  19. Thanks Nhu Thuong, Quốc Hoàng, kegiangho, phng99 thanked for this post
  20. #12
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Quang Trung, trong truyện Phẩm Tiết chỉ là một kẻ yếu đuối về tình cảm, " nhà vua thấy Vĩnh Hoa, thốt nhiên rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm tay ", hơn nữa còn là một người cục cằn: " Thằng Khải kia... Ta cho mày ăn cứt, xem mày có chê lợm không ". Nói rồi nhà vua cầm phất trần quất ngang miệng Khải, quát tả hữu nọc ra đánh nhét cứt vào mồm, lột truồng đuổi Khải về nhà ".

    Nguyễn Du, trong truyện Vàng Lửa chỉ là người " mặt nhàu nát vì đau khổ... Ông hơn người khác ở nhân cách ấy có giá trị gì khi cuộc đời thực ông xúi xó, túng kiết? ", " lòng tốt của ông là thứ lòng tốt nhỏ, không cứu được ai ".

    Ngược hẳn với quan điểm chính thống của cộng sản, Nguyễn Huy Thiệp, trong truyện Vàng Lửa, qua lời nhân vật Phăng, khen ngợi vua Gia Long là một " khối nguyên liệu vô giá ", " ông làm cho lịch sử sinh động hẳn lên. Đấy là lòng tốt lớn của nhà chính trị. Lòng tốt lớn của nhà chính trị không chỉ làm việc thiện với một bộ phận đơn lẻ mà còn là sức đẩy của ông ta đối với cộng đồng... Không có một sức đẩy mạnh, cả cộng đồng sẽ mọc rêu, mủn nát ".

    Dĩ nhiên, chủ tâm của Nguyễn Huy Thiệp không cốt hạ bệ Nguyễn Du và Quang Trung để thần thánh hóa vua Gia Long. Chủ tâm của ông có lẽ nhắm tới hai điều: thứ nhất là phá đổ mọi thần tượng. Mọi thần tượng đều giả dối. Lời của Gia Long: " Vinh quang nào chẳng xây trên điếm nhục " (Vàng Lửa). Thứ hai là cổ súy cho một quan điểm đạo đức mới: đề cao những hành động chính trị có hiệu quả lớn đối với dân tộc. Trong Vàng Lửa, nhân vật Phăng phát biểu: " Những hoạt động kinh tế cù lần chỉ đủ sức cho một dân tộc sống khắc khoải. Vấn đề ở chỗ phải đứng lên vươn mình thành một cường quốc. Làm điều đó, phải có gan chịu đựng va xiết trong quan hệ với cộng đồng nhân loại. Thói hủ nho và thủ dâm chính trị sẽ không bao giờ tạo được những quan hệ trong sáng, lành mạnh. Sẽ đến lúc nền chính trị thế giới giống như món nộm suồng sã, khái niệm thanh khiết ở đây vô nghĩa ".

    Những người công kích Nguyễn Huy Thiệp tại Việt Nam chỉ tập trung vào luận điểm cho là Nguyễn Huy Thiệp xúc phạm đến những bậc anh hùng dân tộc. Những người bênh vực Nguyễn Huy Thiệp vịn cớ là văn khác với sử: viết sử thì phải trung thực, phải chính xác; viết văn có thể bịa đặt, có thể hư cấu.

    Cả những người chê lẫn những người khen đều né tránh một điều: khi chủ trương phá đổ mọi thần tượng, dĩ nhiên Nguyễn Huy Thiệp không hề có ý chừa lại Hồ Chí Minh, nếu không muốn nói, vì muốn phá vỡ thần tượng Hồ Chí Minh nên ông mới viết Vàng Lửa, Kiếm Sắc và Phẩm Tiết.

    So với quan niệm về một nền " đạo đức lớn " của Nguyễn Huy Thiệp thì những mớ son phấn người ta trét lên hình ảnh Hồ Chí Minh như cần, kiệm, liêm, chính, như giữa khuya thức dậy đi dém chăn màn cho từng người du kích, như mỗi bữa ăn dành lại nửa lon gạo cho... đồng bào, chỉ là những sự lố bịch. Đó chỉ là biểu hiện của " thói hủ nho và thủ dâm chính trị ".

    Hồ Chí Minh đã không đáp ứng được hai yêu cầu tiên quyết của một nhà chính trị lớn, theo ý của Nguyễn Huy Thiệp: một là trở thành một " sức đẩy " đối với cộng đồng; hai là biến đất nước " thành một cường quốc ".

    Cho dù Nguyễn Huy Thiệp không hề có ý định nhắm vào Hồ Chí Minh thì nỗ lực phá đổ thần tượng nói chung của ông cũng là một cú đấm khủng khiếp giáng vào những nguyên tắc căn bản trong việc xây dựng chế độ cộng sản, một chế độ có tham vọng trở thành một tôn giáo mà thần thánh là những lãnh tụ, những Lê Nin, những Mao Trạch Đông, những Hồ Chí Minh...

    Một Nguyễn Huy Thiệp trong lãnh vực thi ca: Nguyễn Duy.

    Nguyễn Duy làm thơ khá sớm, từ đầu thập niên 70, đã có thơ đăng trên báo chí miền Bắc, từng đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ của báo văn Nghệ tại Hà Nội năm 1972-1973, nhưng chỉ từ đầu thập niên 80 trở đi mới định hình thành một phong cách độc đáo, hừng hực, dữ dội. Nhiều bài thơ của ông đã bị cấm phổ biến (8). Bài Nhìn Từ Xa... Tổ Quốc đăng trên tạp chí Sông Hương số 37 ra tháng Tư và Năm 1989 là tột đỉnh của sự bất mãn và phản kháng của Nguyễn Duy. Mai Quốc Liên, trên báo Nhân Dân số ra ngày 11 tháng Chín năm 1989, kết tội Nguyễn Duy, qua bài thơ này, " thóa mạ Tổ quốc không tiếc lời, chửi bới hung hãn đến nỗi nói về chiến đấu chống Mỹ bằng những lời mỉa mai cay độc ".

    Thật ra, Nguyễn Duy không hề " thóa mạ Tổ quốc ". Nguyễn Duy chỉ thóa mạ những anh hùng, những lãnh tụ được đảng đánh bóng, đặt lên bàn thờ:

    Thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ
    Ợ lên thum thủm cả tim gan


    Nguyễn Duy chỉ thóa mạ những lời lẽ tự hào huênh hoang về tính chất ưu việt không có thật của chủ nghĩa xã hội.

    Thời hậu chiến ta vẫn người trong cuộc
    xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày?


    Nguyễn Duy chỉ thóa mạ những mưu toan ngụy biện đòi hỏi đổi mới cơ chế, đòi hỏi đổi mới tư duy để né tránh một sự đổi mới cần thiết và bức bách nhất; đổi mới chế độ:

    Chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại
    lạy ông - cơ - chế, lạy bà - tư - duy
    xin đừng hót những lời chim chóc mãi


    Nguyễn Duy chỉ thóa mạ cái nền văn học minh họa của bọn " công chức thuộc địa ", nói theo chữ của Dương Thu Hương, đầy rẫy ở Việt Nam, dưới chế độ cộng sản:

    Ngày càng hiếm câu thơ tuẫn tiết
    ta là gì?
    ta cần thiết cho ai?


    Thóa mạ. Rồi hoài nghi. Hai câu thơ này của Nguyễn Duy như hai lời tiên tri:

    Đổi mới thật chăng hay giả vờ đổi mới?
    máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?


    Thóa mạ. Hoài nghi và nghẹn ngào. Hình ảnh tổ quốc thông qua hình ảnh lương tâm của nhà thơ chập chờn trong suốt bài thơ, não nề biết mấy, lúc thì như cái " bóng máu bầm đen sóng soài nền nhà ", lúc thì như " vết bầm đen quều quào giơ tay ", lúc thì như " vết bầm đen còng còng dấu hỏi ". Động tác thay đổi, nhưng bản chất là một: một vết máu bầm đen.

    Thử so sánh với hình ảnh Hà Nội trong bài thơ Nhất Định Thắng của Trần Dần thời Nhân Văn-Giai Phẩm " không thấy phố, không thấy nhà; chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ " người ta càng thấy tính chất phản kháng dữ dội toát lên từ bài thơ trên của Nguyễn Duy.

    Sự tồn tại của những cái xấu, cái ác tất yếu dẫn đến sự tồn tại của những bi kịch. Văn học cộng sản trước đây hoàn toàn loại trừ tiếng khóc. Ngay trong chiến tranh khốc liệt, nước mắt cũng không thấm được vào trong trang sách, " Xa nhau không hề rơi nước mắt. Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt " (Nam Hà). Trong bài Tạ Lỗi Cánh Đồng, Trần Nam Hương, một nhà thơ trẻ, nhìn lại:

    Đã có một thời nỗi đau ta phải dấu
    Ta đánh mất ta trong nửa con người
    Bài thơ phải cắt đi phần thật nhất
    Trang báo ta cầm chỉ đọc những niềm vui


    Thơ văn chỉ viết về chiến thắng, chỉ nhằm ca ngợi chiến thắng. Huy Cận: " Vai mang súng lòng mang tiếng hát ". Chế Lan Viên: " Mỗi câu thơ đều dội tiếng ta cười ". Xuân Diệu: " Chặt cái bùi ngùi, dẫm nó dưới chân ". Cứ thế, cứ thế. Văn thơ cộng sản hoàn toàn hờ hững quay lưng lại với những đau thương chất ngất của con người.

    Chỉ với phong trào đổi mới văn học bộc phát mạnh mẽ từ năm 1986, đặc biệt từ năm 1987 trở đi, các nhà văn, các nhà thơ cộng sản mới bắt đầu thảng thốt nhận ra, ngay bên cạnh mình, hình ảnh một nàng Kiều, một mẹ Lê, một anh Pha, một thằng Chí Phèo đau khổ, đầm đìa nước mắt.

    Ngoài những bi kịch có tính chất nhân loại như những bi kịch trong tình yêu, trong chiến tranh, trong những biến động dữ dằn của thiên nhiên, giới cầm bút tại Việt Nam thời gian gần đây còn chú ý đến hai loại bi kịch đầy tính chất thời sự: bi kịch trước sự nghèo đói và bi kịch trước những bất công của xã hội.

    Bao nhiêu hình ảnh của người nghèo, người đói đột nhiên xuất hiện nhan nhản trong thơ, trong truyện Việt Nam, đặc biệt trong năm 1988. Lê Đình Cảnh viết về người " cất lời nước mắt lần đầu ăn xin ". Đỗ Trung Quân viết về người thầy giáo ngồi bán thuốc lá lẻ dọc đường, " vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt ", chối từ tất cả, chối từ những lời chào hỏi của học trò, " chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng ". Trần Vàng Sao viết về đứa bé đói quá phải lén ra nghĩa trang ăn trộm cơm cúng, " ăn cả tàn hương vào bụng ", viết về người đàn ông bốn mươi ba tuổi " thường không có một đồng trong túi ", " chân tay rã rời / đầu óc đau nhức / không muốn làm gì hết ", và những bạn bè của anh, những con người cùng cảnh ngộ như anh:

    ... đứa không có được một cái áo lành
    đứa đi kinh tế mới ba bảy tám năm trở về xách một cái bị lát
    mặt cắt không có một hột máu
    đứa đạp xe thồ ngồi vắt chân ăn củ sắn chờ khách ở bến xe
    đứa vô tích sự ở nhà không có việc chi làm
    đứa có râu tóc dài che kín mặt
    có đứa tàng không nhớ mình tên chi
    có đứa chịu không nổi dắt vợ con vào Nam ăn đường ngủ chợ
    mỗi lần gặp nhau mở to mắt cười
    hút một điếu thuốc lắc đầu
    hết chuyện nói...

    Sự xuất hiện của những cái xấu, cái ác và của những nỗi đau trong văn học Việt Nam gần đây gắn liền với sự xuất hiện của một thể loại văn học từ lâu bị khai tử dưới chế độ cộng sản: thể phóng sự.

    Những bài viết mạnh mẽ nhất, gây nhiều xôn xao nhất có lẽ là những bài phóng sự. Chính qua những bài phóng sự, các nhà văn đã vạch trần những tội ác man rợ của cộng sản đối với dân chúng, bất kể từ ai, từ nông dân đến công nhân, đến giới trí thức và văn nghệ sĩ. Mỗi bài phóng sự như một bản cáo trạng: Lời Khai Của Bị Can của Trần Huy Quang (Văn Nghệ số 37 ngày 12 tháng Chín 1987), Cái Đêm Hôm Ấy... Đêm Gì? của Phùng Gia Lộc (Văn Nghệ số 4-5-6 tháng Tám 1988), Tiếng Đất của Hoàng Hữu Các (Văn Nghệ ngày 11 tháng Sáu 1988), Sự Nghiệt Ngã Của Nghề Nghiệp của Hà Văn Thùy (văn Nghệ ngày 2 tháng Tám 1988), Chuyện Như Đùa của Mai Ngữ (Văn Nghệ ngày 21 tháng Mười Một 1987)...

    Cuộc sống của người dân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, trongf những bài phóng sự này, như một địa ngục, chỉ biết đói, khổ, bị hành hạ, bị dập vùi.

    Một số người, như Dương Thu Hương trong quyển truyện vừa Những Thiên Đường Mù (1989) và Ninh Đức Thịnh trong bút ký Ôi, Cam Mà Sao Đắng (Văn Nghệ 18 tháng Hai 1989) quay trở lại quá khứ với những cuộc đấu tố, giết người một cách man rợ trong phong trào cải cách ruộng đất vảo những thập niên 50 ở miền Bắc.

    Lịch sử đảng cộng sản Việt Nam, dưới ngòi bút họ, trở thành lịch sử của một tội ác.

    Từ việc tố cáo tội ác đến việc thể hiện những bi kịch trong cuộc sống, giới cầm bút Việt Nam dần dần tiếp cận một lãnh vực từ lâu họ bị cắt lìa: lãnh vực của cái " tôi ", cái riêng tư và bình thường của mọi người. Đối tượng của văn học không phải là những anh hùng hay những thần thánh nữa, mà là những con người với những niềm vui và những nỗi buồn rất người.

    Trước đây, trong quan niệm chính thống của cộng sản, văn học là để phản ánh cái chung. Cái " tôi ", cái riêng tư bị coi như một cái gì bất hợp pháp. Chế Lan Viên: " Khi đứng riêng tây ta thấy mình xấu hổ ". Nguyễn Đăng Mạnh: " Ở ta, phong kiến kéo dài rất ghét cái tôi " (9). Hà Minh Đức: " Thơ không nhằm mục đích tự biểu hiện thế giới riêng tư của các nhà thơ vốn được xem như nội dung chủ yếu của sáng tác thơ ca thời trước cách mạng " (10). Thơ văn chỉ lổn nhổn các sự kiện, các tên người, tên đất, tên chiến công mà hoàn toàn vắng bặt những nỗi niềm xao động của con người. Những người cầm bút rán sức dấu nhẹm cái " tôi " của mình vì " thành thật tin một cách ngây thơ là nó nhỏ bé, vô nghĩa, không đáng thể hiện " (11).

    Từ năm 1986, tình hình đổi khác. Vẫn có nhiều người tiếp tục đi theo con đường cũ, con đường cụt, tuy nhiên, bên cạnh đó, ở những người cầm bút nhiều nhiệt tâm, khao khát sáng tạo, tính chất chung chung, công thức ồn ào và khoa trương đã giảm đi nhiều. Từ giã những chiến trường, những nông trường, những công trường, người ta quay về cuộc đời thường nhật vớpi những đề tài tình yêu đầy xôn xao, đầy hạnh phúc hoặc đầy thất vọng muôn thuở của con người. Nếu trước kia, Tố Hữu đã từng nghiêm khắc phê phán tình yêu mê muôi của Mỵ Châu đối với Trọng Thủy:

    Anh kể em nghe nghe chuyện Mỵ Châu
    Trái tim lầm chỗ để trên đầu


    thì hiện nay, Vương Trọng lại " triết lý ":

    Đã yêu thì yêu như Tiên Dung
    Đẳng cấp sang hèn không tính đến
    Đã yêu thì yêu như Mỵ Châu
    Dù đầu rơi vẫn không sai hẹn
    Đã yêu thì yêu như Trương Chi
    Thân dù tan hồn lặn vào đáy chén
    (Triết Lý Khi Yêu)


    Và tình yêu cũng không phải chỉ là chút hương thầm cứ bay dịu nhẹ như trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn ngày nào. Tình yêu bây giờ, dưới ngòi bút của những tác giả đổi mới là một cái gì thật cụ thể, đôi khi trần tục. Như trong bài Tan Vỡ của Dư Thị Hoài, một nhà thơ trẻ mới được chú ý từ một hai năm nay:

    Mở ngăn kéo rồi anh bỏ ngỏ
    Bút viết xong không đây nắp bao giờ
    Ôi anh yêu lơ đễn thế là
    Con nai rừng của em

    Tất cả rồi dễ qua đi qua đi
    Chúng mình sẽ thành chồng thành vợ
    Nếu không có một lần...
    Một lần như đêm nay
    Sau phút giây
    Êm đềm trên ghế đá
    Anh không cài lại khuy áo ngực cho em...
    (Văn Nghệ 7 tháng Năm 1988)


    Theo Tô Hà, trên báo Văn Nghệ số 10 ra ngày 11 tháng Ba 1989, " Tám mươi phần trăm số thơ gửi tòa soạn báo " Người Hà Nội " gần đây mà tôi được đọc toàn là những bài anh anh em em ".

    Ở phương diện này, phương diện khai thác tính chất trữ tình cá nhân, cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có ai đạt được thành công nào lớn lao. Có lẽ, nói như ai đó, quá quen hát hùng ca, người ta dâm ra bỡ ngỡ và vụng về khi trở lại những bản tình ca êm ái. Dù vậy, đây cũng là xu hướng đúng: nó giúp người ta thoát ra khỏi những khuôn mẫu tiền chế cứng nhắc để càng lúc càng cận nhân tình hơn.

    *


    So với lãnh vực sáng tác, sự đổi mới trên lãnh vực phê bình và lý luận văn học sôi nổi hơn, gây nhiều sóng gió hơn, khiến cho giới lãnh đạo cũng như giới bảo thủ căm hận hơn và sau đó, phản công kịch liệt.

    Bùng nổ, thực sự là một sự bùng nổ của những nỗi công phẫn từ lâu dồn nén trong lòng giới văn nghệ sĩ vào năm 1989 lúc Nguyễn Văn Linh tuyên bố chính sách " cởi trói ". Chưa bao giờ, trong nền văn học cộng sản, người ta viết phê bình và viết lý luận một cách hậm hực, cay đắng và dữ dội đến như vậy. Phê bình như một sự nổi giận. Phê bình trở thành phê phán.

    Mất cả thói quen e dè thường lệ, lúc Nguyễn Văn Linh hỏi có phải nền văn học cộng sản từ sau năm 1975 nghèo nàn đi không, phần lớn những người cầm bút đều đáp: " Vâng ", Vâng, văn học rất nghèo nàn. Vâng, văn học đã nghèo, càng lúc càng nghèo nàn hơn nữa (7). Không ai còn dám phồng mang trợn mắt huyên hoang là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là đỉnh cao của nền thi thư văn hiến Việt Nam như trước. Mọi người đều đồng loạt nhìn lại cái tài sản văn học ốm o mình gầy dựng dưới sự lãnh đạo của đảng suốt gần nửa thế kỷ.

    Trên báo Văn Nghệ số ra ngày 16 tháng Bảy 1988, Lê Ngọc Trà " vui vẻ " ghi nhận:

    " Thế là rốt cuộc sau nhiều do dự, thì thầm, lần đầu tiên chúng ta đã có can đảm nói to lên, nói công khai một sự thật: văn học cách mạng của chúng ta còn nghèo nàn ".

    Nghèo. Còn đỡ. Nó còn chẳng có chút gì gọi là văn học nữa. Theo Mai Quốc Liên, trong bài Đôi Điều Bàn Lại đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 9 và 11 tháng Chín 1989, nhiều người đã gọi nền văn học hiện thức xã hội chủ nghĩa bằng nhiều tên khác nhau và tên nào cũng thể hiện một sự căm ghét, khinh bỉ sâu sắc: nào là " văn học minh họa ", " văn học thông tấn ", nào là " văn học xướng ca ", " văn học tụng ca ", nào là " văn học xi rô ", " văn học cung đình ", thậm chí gay gắt hơn, nhiều người còn gọi đó là nền " văn học tiểu ngữ ", " văn học xú ngữ ". Mai Quốc Liên không nêu tên những người phát biểu, tuy nhiên, nên nhớ: tất cả đều là những nhà văn, nhà thơ chính thống của cộng sản, những người suốt mấy chục năm qua đã trực tiếp góp phần gầy dựng nên nền văn học cộng sản.

    Người ta đua nhau đọc lời ai điếu, đòi đào huyệt chôn lấp cho vĩnh viễn khuất mắt cái thời kỳ văn học điuếm nhục ở đó họ chỉ là những con vẹt lải nhải lập lại những lời nói dối trá, ngu muội của đảng, của nhà nước.

    Nguyên nhân làm cho nền văn học hiện thức xã hội chủ nghĩa nghèo nàn, chỉ toàn " tiểu ngữ " và " xú ngữ " dĩ nhiên không phải do giới cầm bút. Dù đứng ở bất cứ quan điểm nào mà xét, không ai có thể chối cãi được những tên tuổi như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan... không phải là những tài năng lớn. Ngay từ trước năm 1945, lúc còn rất trẻ tuổi, họ đã khẳng định được tài năng một cách xuất sắc. Trong số những tên tuổi mới xuất hiện sau này, dưới chế độ cộng sản, cũng không phải chỉ là một đám cỏ lau hèn mọn. Thế mà, suốt mấy chục năm, không có ai làm được một cái gì thật đẹp, có giá trị thực sự và lâu dài. Tại sao?

    Trả lời câu hỏi này, người ta đụng đến một vấn đề căn bản và cực kỳ gai góc: sự lãnh đạo của đảng.

    Theo Nguyễn Khắc Viện, sự lãnh đạo của đảng đối với văn nghệ " nhiều lúc còn thô sơ, tỉa cành bắt sâu trong một vườn hoa quý mà lại dùng dao búa làm rừng khai hoang ". Theo Lưu Quang Vũ, đó là một sự lãnh đạo độc tài: " chỉ cần một người suy nghĩ cho mọi người, một cái đầu tối cao suy nghĩ cho mọi cái đầu ". Rồi ông nhấn mạnh: " Một tình trạng độc đoán về tư tưởng như vậy tất yếu bóp chết mọi sáng tạo, làm khô kiệt văn học nghệ thuật ". Nhà biên kịch Tất Đạt, nữ đạo diễn Phạm Thị Thành, hai nghệ sĩ Ái Vân và Xuân Thanh đều cho là : " Vấn đề tự do sáng tạo bị cản trở, thậm chí có khi bị chà đạp vì những quan niệm lãnh đạo ấu trĩ, thô bạo, sai trái " (7).

    Chua chát và đau xót nhất là lời phát biểu của nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh: " Lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ " (7).

    Ý kiến này, trước đó, Nguyễn Đăng Mạnh đã phát biểu hai lần. Một lần trong bài viết Phê bình văn học trong tình hình mới: " Người ta thích nói một cách chung chung, nền văn học của ta đã trưởng thành, văn nghệ sĩ của ta là những chiến sĩ, những anh hùng, nhưng đối với văn nghệ sĩ thì coi như con nít ". Lần khác, trong một cuộc hội thảo bàn tròn do báo Văn Nghệ tổ chức cũng được tường thuật trên số báo vừa dẫn: " Nhà văn cũng bị coi là con nít: sợ họ hư nên người ta thích bật đèn đỏ, đèn vàng, chứ ít khi bật đèn xanh cho văn nghệ phát triển ".

    Ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh được nhà văn Mai Văn Tạo đồng tình: " Chưa bao giờ văn nghệ sĩ bị rẻ rúng như bây giờ " (12).

    Nhà văn Nguyễn Minh Châu, trong bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa đăng trên báo Văn Nghệ số kép 49-50 ra ngày 5 tháng Mười Hai 1987 có lẽ cũng nghĩ tương tự, mặc dù ông không dùng chữ " khinh bỉ " hay " rẻ rúng ", khi cho là, sự lãnh đạo hẹp hòi và thô bạo của đảng đã khiến cho người cầm bút phải chấp nhận một tình trạng " rất thảm đối với nhân cách của một người văn nghệ sĩ ": " hễ cầm bút là phải nghĩ đến né tránh, che chắn, rào đón, đối phó ". Nguyễn Minh Châu viết tiếp, uất hận và nghẹn ngào: " Văn chương gì mà muốn viết một câu trung thì phải viết một câu nịnh? Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn? Cái sợ nó làm mình hèn ".

    Cảm giác đau nhục ấy khiến Nguyễn Minh Châu, một nhà văn mang quân hàm đại tá trong quân đội, đâm ra ghen tị với Nam Cao, một nhà văn bần cùng, nhếch nhác, lam lũ sống và viết chủ yếu trước năm 1945, lúc Việt Nam còn là một thuộc địa của Pháp:

    " Có lúc tôi lại đem công việc của chúng ta so sánh với công việc của các nhà văn tiền chiến cầm bút trước cách mạng, gọi là các nhà văn hiện thực phế phán, ví dụ như ông Nam Cao chẳng hạn, có lần ông ấy la lối, hô hoán ầm ĩ lên rằng thiên hạ vít hết lối của ngòi bút ông ấy, viết cây chuối hay con chó hoặc kẻ say rượu đều phạm húy, đều có kẻ đe đánh, đe đốt nhà. Bị o ép đến vậy tưởng không viết được gì, thế mà cuối cùng, cả một đời cầm bút của Nam Cao trước cách mạng số năm có là bao nhiêu đâu, vậy mà đủ để lại khá nhiều, nhất là có thể có cái quyền viết rất thực, bao nhiêu lẽ đời, sự đời, bao nhiêu khuôn mặt người thực đến thế, Chí Phèo thực đến thế. Thật là vừa được viết vừa được nói ".

    (còn tiếp)

  21. Thanks kegiangho, phng99 thanked for this post
  22. #13
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Chế độ thực dân luôn luôn bị lịch sử lên án là một tội ác. Thế nhưng, theo ý Nguyễn Minh Châu, ít nhất trong lãnh vực văn học nghệ thuật, chế độ thực dân dù sao cũng dễ thở hơn chế độ cộng sản vì ở đó, người ta " có thể có cái quyền viết rất thực ", " vừa được viết vừa được nói ", còn chế độ cộng sản thì không. Nguyễn Minh Châu tiếp:

    " Mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ có sẵn,cho chữ nghĩa những văn bản vốn đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ tuyên huấn truyền đạt đường lối, chính sách bằng hình tượng văn học sinh động ".

    Hậu quả là gì? Một là biền nhà văn, nhà thơ thành những kẻ hèn nhát và hèn hạ như đã dẫn ở trên. Hai là biến nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa dưới chế độ cộng sản trở thành " công thức và sơ lược ", " nó nhạt, và càng ngày người đọc càng thấy rõ ở những tác phẩm minh họa và ca ngợi một chiều một sự giả dối không thể nào bào chữa nổi, đắp đậy nổi, so với cuộc đời thực bên ngoài ".

    Những lời phê phán bốc lửa của các nhà văn, nhà phê bình ở trên gợi ra hai vấn đề thuộc phạm vi lý luận văn học: Thứ nhất, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa có phải là một phương pháp sáng tác có giá trị ưu việt như đảng đã nói? Thứ hai, thực chất mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị là gì?

    Ngay từ năm 1943, trong bản Đề cương văn hóa và đặc biệt từ năm 1948, trong bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam do Trường Chinh soạn và đọc tại Đại hội văn hóa lần thứ hai, đảng cộng sản đã chủ trương đề cao phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Đến những năm cuối cùng của thập niên 50, ở miền Bắc, cộng sản đi xa hơn, coi phương pháp sáng tác này như một phương pháp sáng tác độc nhất được phép sử dụng.

    Nội dung chủ yếu của phương pháp sáng tác hiện thực hiện thực xã hội chủ nghĩa có thể tóm gọn vào hai điểm: một là, văn học phải " phản ánh hiện thực ", hai là, mục đích của việc phản ánh ấy không phải nhắm tới sự phê phán như là chủ nghĩa hiện thực (phê phán) trước đây, mà cốt để ca ngợi, để biểu dương, để khẳng định vai trò của đảng cộng sản, xu thế tất yếu của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại là tiến lên chủ nghĩa xã hội.

    Theo Lê Ngọc Trà, trong bài Về vấn đề văn học phản ánh hiện thực đăng trên báo Văn Nghệ số ngày 16 tháng Bảy 1988, chính cái quan niệm nông cạn và sai lầm về chức năng của văn học được trình bày trong khái niệm hiện thực xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên nhân " dẫn đến tình trạng suy tư tưởng của khá nhiều tác phẩm văn học trong mấy chục năm vừa qua " Lê Ngọc Trà viết:

    " Lâu nay nhiệm vụ đặt ra đối với người sáng tác chủ yếu là phản ánh đời sống cho chân thực và phù hợp với quan điểm của đảng. Về sau này đối với phần lớn nhà văn đã thành quen thuộc, nên cũng không khó lắm. Còn lại chỉ là làm sao tránh được ba điều: mô tả có tính chất " tô hồng ", " bôi đen " hoặc " tự nhiên chủ nghĩa ". Nhưng cái đó với người khôn ngoan sau đôi lần vấp ngã đã trở nên " có kinh nghiệm " thì cũng dễ tránh thôi. Rốt cuộc, người sáng tác - cố ý hoặc không cố ý - phần đông đều chọn cách viết an toàn nhất, mà lại " đúng " nữa, là tập trung ghi chép, mô tả, kể cho thật nhiều về đời sống miễn sao đừng phạm vào mấy điểm kể trên, còn cái quan trọng là bản thân anh, chính anh, riêng anh nghĩ gì, đau gì thì hoặc là lờ đi, giấu biến đi, hoặc thành thật tin một cách ngây thơ là nó nhỏ bé, không đáng thể hiện. Hình như đảng nghĩ là đủ, đảng nói rồi thì nói lại. Cứ thế nhà văn thì đươc " an toàn ", còn văn học thì lại nghèo đi ".

    Lê Ngọc Trà tiếp:

    " Trên bình diện lý luận nghê thuật (khác với trên bình diện lý luận phản ánh), văn học trước hết không phải là phản ánh hiện thực mà là sự nghiền ngẫm về hiện thực. Tác phẩm nghệ thuật thể hiện cách nhìn của nhà văn về sự sống, sự kháo khát công lý xã hội; nó là lời tâm sự hay sám hối, là tiếng nói của tình yêu, cái đẹp không đạt được, là gánh nặng ưu tư với lẽ đời, lẽ còn mất của nhân sinh và vũ trụ. Văn học chủ yếu không phải là ghi chép, mô tả hiện thực mà là hành động tự nhận thức của nhà văn, nhờ đó tác phẩm nghệ thuật trở thành mảnh đất nuôi dưỡng tình cảm con người, thành khu vườn nơi tâm hồn con người đơm hoa kết trái, như hình thức tồn tại và phát triển độc đáo của đời sống tinh thần nhân loại ".

    Hoàng Ngọc Hiến còn mạnh bạo hơn Lê Ngọc Trà. Ông không thèm cãi vã về những điều đối với nhân loại - trừ cộng sản - đã thành hiển nhiên. Ông chỉ tuyên bố thẳng thừng:

    " Hiện thực xã hội chủ nghĩa... là một khái niệm giả đã gây đau khổ kéo dài cho cả nghệ sĩ, cả nhà nghiên cứu, lãnh đạo. Nó lúc ban đầu được nêu lên như một ngọn cờ và đã có tác dụng vẫy gọi. Nhưng tai hại là ở chỗ từ ngọn cờ người ta lại định biến nó thành một khái niệm học thuật để làm sang cho nó, chứng minh nó là phương pháp sáng tác, biến nó thành vạn năng. Sự luận chứng này là vô bổ " (13).

    Trong bài Hiện thực xã hội chủ nghĩa có phải là của giả không? đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 5 tháng Năm 1989, Đỗ Văn Khang có nhắc lại ý kiến của ai đó, ông không nêu tên, cho rằng: " Khái niệm hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ là sự bày đặt của một số nghệ sĩ, một số nhà lý luận ".

    Những quan điểm phủ nhận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa xuất hiện mạnh mẽ và chiếm được sự đồng tình của đông đảo giới cầm bút tại Việt Nam đến nỗi Viện Văn Học tại Hà Nội phải triệu tập một cuộc hội nghị về vấn đề này vào tháng Bảy 1988, sau đó, tường thuật trên tạp chí Văn Học số 1. 1989. Cuộc hội nghị, cuối cùng, không dẫn đến một kết luận nào chung quyết và chính thức cả.

    Dù sao vấn đề đánh giá phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng ít nguy hiểm cho cộng sản hơn là vấn đề xét lại mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị.

    Có thể nói, nền tảng của lý thuyết cũng như của mọi chính sách của cộng sản đối với văn học nghệ thuật là đồng nhất văn nghệ và chính trị, coi văn nghệ là một phương tiện truyền bá chính trị, bắt văn nghệ phải phục tùng và phục vụ chính trị. Quan điểm này là cơ sở để từ đó đảng cộng sản duy trì quyền lực lãnh đạo, quản lý văn nghệ sĩ.

    Từ năm 55, 56 ở miền Bắc, nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, khởi đầu là Trần Dần và Hoàng cầm, đã đặt lại vấn đề này và đã đòi hỏi văn nghệ phải được độc lập với chính trị. Yêu sách đúng đắn của họ đã bị cộng sản vùi dập, hơn nữa, trả thù một cách man rợ.

    Trong cuộc đổi mới văn học từ năm 1986, một lần nữa, giới văn nghệ sĩ Việt Nam lại lên tiếng đòi hỏi sự độc lập và sự tự do, trước hết là độc lập và tự do đối với chính trị. Trong cuộc họp tại Hà Nội vào tháng Mười 1987, trước mặt Nguyễn Văn Linh, nhiều người lên tiếng khẳng định: " Văn nghệ có tính độc lập với chính trị " (7).

    Nhà phê bình văn học Lã Nguyên phân biệt: " Chính trị là vị lợi trước mắt, văn nghệ lại vô tư ", " chính trị là pháp quyền, là cả một cơ chế quan phương chính thống, trong khi đó nghệ thuật lại là ý thức phi quan phương, là sự tự ý thức của nhân dân " (14). Ý thức chính trị và ý thức nghệ thuật, do đó, không thể đồng nhất, thậm chí, khó có thể song hành với nhau.

    Nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân, trên báo Văn Nghệ số 9 ra ngày 27 tháng Hai 1989 và trên tạp chí Sông Hương số 31 ra tháng Năm và Sáu 1988 cũng quan niệm tương tự. Ông viết, chế độ cộng sản " đã biến văn nghệ sĩ thành cán bộ nhà nước, thành viên chức ăn lương để làm văn nghệ - một tình trạng na ná " tao đàn " của văn nghệ quan phương ". Theo Lại Nguyên Ân, mục tiêu của văn nghệ quan phương " bao giờ cũng phục tùng, phục vụ những nền tảng, những yêu cầu của việc xây dựng và củng cố chế độ ", do đó, nó " khó mà có giá trị cao, vì nó gắn liền với cảm hứng nhà nước. Trong khi đó, nghệ thuật chân chính phải phát ngôn ý thức nhân dân, ý thức thời đại. Những nghệ sĩ trung bình có thể sống yên ổn trong ý thức quan phương, còn những nghệ sĩ lớn bao giờ cũng " bung ra " khỏi ý thức ấy ".

    Trên báo Văn Nghệ số ra ngày 29 tháng Tám 1987, nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh nhận định: suốt mấy chục năm qua, " xu hướng đồng nhất văn nghệ với chính trị là xu hướng chủ đạo, bao trùm. Chính trị cần tuyên truyền thì đẻ ra văn nghệ minh họa. Văn nghệ do làm cái việc tình cảm hóa những nội dung chính trị nên không có văn nghệ lớn ".

    Nói như vậy cũng có nghĩa là gián tiếp nói, đảng hãy trả lại quyền lãnh đạo văn nghệ cho văn nghệ sĩ, như cái điều mà Trần Dần, Hoàng Cầm, Phan Khôi, Trương Tửu... đã yêu cầu trưốc đây trênb Nhân Văn và trên Giai Phẩm.

    *


    Ở trên, tôi đã cố gắng trình bày diễn tiến cũng như nội dung quá trình đổi mới của nền văn học cộng sản tại Việt Nam 1986 đến nay, đặc biệt là trong hai năm 1987 và 1988.

    Có thể đánh giá cuộc vận động đổi mới này trên hai khía cạnh: khía cạnh văn học và khía cạnh chính trị, xã hội.

    Từ khía cạnh văn học, cuộc vận động đổi mới, thật ra, chỉ là một cuộc vận động để trở về với những cái cũ, những cái bình thường và sơ đẳng nhất của văn học. Nó chỉ mới đối với cộng sản chứ tuyệt đối không có chút gì gọi là mới so với lịch sử phát triển của nền văn học dân tộc.

    Trở về với cái cũ mà gọi là đổi mới? Sự nghịch lý ấy xuất phát từ nguyên nhân: suốt mấy chục năm qua, cộng sản đã đi quá xa vào sự lạc hậu, sự thoái hóa. Không phải chỉ ở lãnh vực văn học, tất cả những lãnh vực khác trong xã hội cộng sản cũng đều ở trong tình trạng tương tự. Quyền tư hữu, kinh tế thị trường, chế độ đa đảng và pháp trị, những mục tiêu mà nhiều quốc gia Đông Âu đang ra sức thực hiện như là một tột đỉnh của cái gọi là đổi mới, chỉ là những nguyên tắc xây dựng xã hội từ nhiều thế kỷ trước!

    Năm 1988, trong chuyến đi thăm Pháp, Lech Walessa, chủ tịch Công đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan nêu lên một nhận định rất hay: " Chủ nghĩa cộng sản là con đường dài nhất đi từ tư bản đến tư bản ".

    Dài vì phải đi vòng quanh. Một khúc quanh đẫm máu, gập ghềnh kéo dài hơn nửa thế kỷ vô ích.

    Văn học nghệ thuật, rốt cuộc, cũng chịu chung số phận đi vòng quanh bi thảm ấy. Văn học truyền bá chính trị của cộng sản thực chất chỉ là biến thái của quan niệm " văn dĩ tải đạo " đã có từ đời Hán, đời Đường bên Trung Quốc. Văn học gắn liền với chính trị, phục vụ chính trị của nhà cầm quyền là một đặc điểm của thời kỳ phong kiến, nói như Lại Nguyên Ân, là của nền văn học quan phương, văn học cung đình. Cái gọi là phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa thực chất chỉ là sự kết hợp khiên cưỡng giữa chủ nghĩa cổ điển và chủ nghĩa hiện thực ở phương Tây hồi thế kỷ 18 và 19.

    Trong bài Văn học Việt Nam trong bước ngoặt chuyển mình đăng trên báo Văn Nghệ số 45 ra ngày 5 tháng Mười Một 1988, Lã Nguyên nhận định:

    " Trong nhiều trường hợp, tư duy nghệ thuật của nhà văn Việt Nam... đành dừng lại ở tư duy của thế kỷ 19, thậm chí có cả khuynh hướng quay ngược trở về kiểu tư duy của thế kỷ 17 ".

    Do tình trạng lạc hậu như vậy cho nên có nhiều luận điểm rất cũ vẫn được giới cầm bút Việt Nam xem như là một dấu hiệu của sự đổi mới đầy táo bạo, chẳng hạn, luận điểm " văn học là sự nghiền ngẫm về hiện thực ", " là hành động tự nhận thức của nhà văn " mà Lê Ngọc Trà nêu ra, được dẫn ở trên, từng làm xôn xao dư luận trong giới nghiên cứu Việt Nam, chỉ là môt luận điểm bình thường, hầu như hiển nhiên, ngay từ xưa, cha ông ta đã từng biết: văn học chủ yếu là để nói cái " chí ", cái " tình ", cái " điều đau đớn lòng " trong " cõi người ta ". Lê Ngọc Trà cũng biết điều này khi ông dẫn lại một câu viết của Lê Quý Đôn hai trăm năm trước: " Ta thường làm cho thơ có ba điều chính: một là tình, hai là cảnh vật, ba là sự... lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra lời, thành tiếng ". Rồi Lê Ngọc Trà bình luận: quan điểm đề cao chức năng phản ánh hiện thực của cộng sản " là một bước thụt lùi so với cách nghĩ của cha ông ta xưa ".

    Trong lãnh vực sáng tác văn học, trừ Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài ít nhiều có cố gắng cách tân bằng cách tiếp nhận một số thủ pháp nghệ thuật của phương Tây, còn lại hầu hết những người khác, kể cả Dương Thu Hương, Lê Lựu, Ma Văn Kháng... đều chưa vượt được Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao hồi thập niên 30 về phương diện kỹ thuật dựng truyện, kể chuyện. Yếu tố tạo nên sự hấp dẫn trong sáng tác của họ không phải là bút pháp hay kỹ thuật hay tư tưởng mà chính là cái hiện thực ê chề rớm máu lần đầu tiên được phanh phui trong xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Ý nghĩa lớn nhất của cuộc vận động đổi mới văn học tại Việt Nam trong mấy năm qua là ở khía cạnh chính trị, xã hội.

    Nhờ ngọn gió dân chủ đang trở thành bão táp trên thế giới, đặc biệt trong các nước cộng sản Đông Âu, nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam giật mình nhìn lại mình. Người ta bắt đầu tự phản tỉnh. Thoát ra ngoài quỹ đạo tuyên truyền dối trá của nhà cầm quyền để đối diện với thực chất cuộc đời họ, sự nghiệp họ. " Hèn, hèn chứ? Nhà văn nước mình tận trong tâm can ai mà chẳng thấy mình hèn? ". Còn gì bẽ bàng hơn? Mà đâu phải chỉ một mình Nguyễn Minh Châu thú nhận điều này. Nhiều, thật nhiều, trên báo chí Việt Nam, những lời thú nhận đầy cay đắng, đầy tủi thương như vậy.

    Nếu trước kia, lúc đang say sưa ăn miếng bánh vẽ do đảng ban phát, người ta ngây ngất tự hào bao nhiêu thì sau này, khi đã phản tỉnh, tự nhìn lại mình bằng con mắt thật của mình, người ta lại thẹn thùng, nghẹn ngào bấy nhiêu.

    Những giọt nước mắt tuôn rơi lã chã của một nhà văn đàn anh nào đó, nhiều người đoán là Nguyễn Tuân, mà Nguyễn Minh Châu kể trong bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa cũng là những giọt nước mắt chung cho cả một thế hệ nhiệt tâm và tài hoa bị lừa dối.

    Sự phản tỉnh ấy tất nhiên dẫn đến sự phản kháng.

    Không nên đòi hỏi những nhà cầm bút tại Việt nam, những kẻ đang đứng trước cácnh cửa ngục tù rộng mở, đứng trước họng súng AK đen ngòm, đứng trước bao nhiêu nguy hiểm trùng trùng vây quanh, phải thắng thắn tuyên bố chống cộng như những người cầm bút tự do ở hải ngoại. Dù muốn hay không, trong hoàn cảnh thường trực bị đe dọa, người ta phải chọn những cách nói quanh co, vừa có tác dụng đập phá lại vừa có một chút kín đáo để ẩn nấp. Đó là chuyện đương nhiên.

    Điều đáng ghi nhận là, cho dẫu buộc lòng viết vài câu nịnh giữa những câu trung, theo cách nói của Nguyễn Minh Châu, những người cầm bút thuộc khuynh hướng đổi mới vẫn thể hiện được rõ rệt thái độ của mình: phản kháng bạo quyền. Chưa bao giờ, tại Việt Nam, ngay cả thời Nhân Văn-Giai Phẩm, người cầm bút lên tiếng tố cáo những cảnh bất công, thối nát, độc địa và dơ dáy trong xã hội cộng sản một cách nghiêm khắc và dữ dội đến như thế. Những tội ác ấy không giới hạn trong một vài cá nhân lẻ tẻ mà là một hiện thực phổ biến, gắn liền với chế độ, từ lúc chế độ ấy được hình thành cho đến lúc nó phát triển và hoàn bị. Những thế lực gây ra đau khổ tột cùng cho người dân được miêu tả trong Tiếng Đất, trong Cái Đêm Hôm Ấy... Đêm Gì, trong Sự Nghiệt Ngã Của Nghề Nghiệp, trong Chuyện Thật ở Thanh Hóa... là cả một hệ thống cán bộ, đảng viên nhiều cấp, nhiều bậc, trùng trùng điệp điệp trong xã hội. Chúng không phải chỉ là một đám cường hào ác bá lau nhau, lố nhố. Chúng chính là đảng.

    Không phải ngẫu nhiên mà trong truyện vừa Những Thiên Đường Mù, một quyển tiểu thuyết khá mỏng, Dương Thu Hương lại cho nhân vật hoạt động trong môi trường thời gian rất rộng, từ thời cải cách ruộng đất đến tận bây giờ. Chỉ có một lý do duy nhất cắt nghĩa sự chọn lựa này: chứng minh tội ác của cộng sản là một cái gì có tính chất truyền thống. Nó không phải chỉ là biểu hiện của một giai đoạn khủng hoảng nhất thời. Nó gắn liền với bản chất của một chế độ được xây dựng trên những tiền đề phi lý và phi nhân.

    Trong buổi nói chuyện tại Huế vào chiều ngày 15 tháng Tư 1989, được tường thuật trên tạp chí Sông Hương số 37 ra tháng Tư và Năm cùng năm, nhà văn Nguyên Ngọc, sau khi bị cách chức tổng biên tập báo Văn Nghệ của hội Nhà văn đã thẳng thắn tuyên bố: cái chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng như ở Liên Sô, đã " không chứng minh được tính ưu việt đối với chế độ nó thay thế " (trang 82).

    Trước đây mấy năm, người ta có thể cho những lời phát biểu như trên chỉ là một sự vờ vĩnh, hoặc chỉ nhắm tới lý tưởng hoàn thiện chủ nghĩa xã hội, tuy nhiên, từ năm 1989 đến nay, trước những sự sụp đổ nhanh chóng của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, sự nghi ngờ ấy rõ ràng không còn đứng vững được nữa. Kinh nghiệm tại các nước Đông Âu cho ta thấy: không có khát vọng dân chủ nào không dẫn đến thái độ đập phá toàn bộ nền móng của chủ nghĩa xã hội, của chế độ cộng sản.

    Chú Thích:

    (1) Theo Hoàng Trung Thông trong " Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học " tập I, NXB Văn Học, Hà Nội 1978, trang 187.
    (2) Báo Nhân Dân số ra ngày 21 tháng Một 1960.
    (3) Đăng trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số tháng Bảy 1988.
    (4) Từ Việt Nam, Dương Thu Hương gửi đăng trên tạp chí Đất Nước (Tây Đức) số 54 tháng Mười Một 1978.
    (5) Xem thêm bài của Nguyễn Mộng Giác trong phần II Tuyển tập này.
    (6) Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 6 tháng Mười Hai 1987.
    (7) Văn Nghệ số ra ngày 17 tháng Sáu 1987.
    (8) Theo Nguyễn Quang Sáng trong lời Bạt tập " Mẹ và Em " của Nguyễn Duy, NXB Thanh Hóa 1987, trang 95.
    (9) Văn Nghệ số ra ngày 27 tháng Hai 1988.
    (10) Hà Minh Đức " Nhà văn Việt Nam " tập I, Hà Nội... trang 175.
    (11) Văn Nghệ số ra ngày 16 tháng Bảy 1988.
    (12) Dẫn theo Nguyễn Trọng Tín, Văn Nghệ số ra ngày 30 tháng Bảy 1988.
    (13) Văn Nghệ số ra ngày 5 tháng Ba 1988.
    (14) Dẫn theo Lê Xuân Vũ trên tạp chí Cộng Sản số 11, 1988.


    Phần Hai:


    Tác Phẩm và Tác Giả


    Tâm lượng kẻ hào sĩ


    Bài viết của Nghiêm Xuân Hồng ( từ trang 75 đến trang 78)

    Ngồi bên xứ này, tôi đôi khi nhớ nghĩ tới vài người quen còn ở phía bên kia. Như Doãn Quốc Sỹ và Tuệ Sỹ.

    Tôi hay kính trọng người nghệ sỹ ở tâm hồn và tư cách nhiều hơn là tài ba... Hồi trước, khi đọc Dòng sông định mệnh của họ Doãn, thấy anh ta say mê mô tả một dòng sông thuở nhỏ, khiến tôi liên tưởng tới dòng sông Châu Giang thuở nhỏ của tôi. Thì ra mỗi người hình như đều có một dòng sông nhỏ trong tâm tư ký ức... Rồi đọc vài cuốn khác của Doãn quân. Thấy tâm hồn anh ta rào rạt lý tưởng, khiến tôi bị ấn tượng: Người có nhiều mộng tưởng, trìu mến mộng tưởng và sống với mộng tưởng ấy.

    Sau 75, anh bị đi cải tạo, rồi thả về, rồi bị bắt lại... Nhưng nghe nói tính tình vẫn vui, vẫn hay lúi tới chỗ bạn bè, chẳng e ngại gì công an phường khóm.

    Còn Tuệ Sỹ, tôi chỉ gặp được hai lần. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn mường tượng anh ta như một thứ Hư Trúc tử của Kim Dung. Một tầm hồn thơ mộng man mác, lạc lõng giữa một thời đại đầy yêu ma... Sau này, ngồi trong ngục tù, làm thơ, nhìn thấy như có thiên nữ vẫn tới rải hoa đâu la miên, và thách đố sống chết.

    Có lẽ những người này coi sống chết như Thức với Ngủ, như Tỉnh với Mộng. Vì đã hiểu được bí ẩn của Tâm và Pháp giới. Hiểu rằng pháp giới này chỉ treo trên đầu một sợi lông, trên đầu một TÂM NIỆM.

    Họ là kẻ hào sỹ của thời đại. Có tâm lượng hào sỹ. Hiểu được Tâm, và đi-giữa-đời-không-dính-mắc-không-sợi-hãi.

    *


    Gần đây, có anh bạn cho tôi mượn một tập tài liệu dầy về văn chương phản kháng trong nước.

    Tôi chỉ lựa chọn hai tài liệu: Một bài báo ngắn Hòa đồng cùng nhân loại của Nguyễn Minh Châu và vở kịch nói Quỷ ở với Người chuyển từ truyện Không có vua cũng của Nguyễn Huy Thiệp.

    (còn tiếp)

  23. Thanks kegiangho, phng99 thanked for this post
  24. #14
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    - Trong bài Hòa đồng cùng nhân loại, Nguyễn Minh Châu kể lại rằng khi chiến tranh sắp chấm dứt, ông ta công tác ở một tỉnh miền Trung. Lúc đó, tỉnh ủy đương họp bàn một vấn đề cấp thiết: Sau chiến tranh có nên cho phép dân chúng họp lại chợ búa hay không?

    Nếu họp chợ lại, dân chúng sẽ lần học những tập quán " kẻ chợ " của con buôn, không còn giữ được tinh thần ôm bom xung kích của năm xưa nữa. Đồng thời, Việt Nam không còn khép kín cửa được nữa, sẽ phải phóng tầm mắt nhìn thế giới bên ngoài cùng tất cả sự đổi thay lạ hoắc.

    Trong bài báo, Nguyễn Minh Châu cổ xúy việc mở cửa nhìn thế giới bên ngoài, để bắt kịp nhịp điệu thay đổi, cùng hòa đồng với nhân loại.

    Nguyễn Minh châu thường được coi như người mở đường cho phong trào văn chương phản kháng sau này... Bài báo, tuy ngắn chừng ba trang, nhưng văn phong có độ lượng, hàm xúc, sâu sắc, có tư tưởng... Tác giả là người có tâm lượng. Bài báo cũng được ghi là viết ở Pháp Hoa tự. Nhưng không hiểu người viết đã hiểu nổi cái bí ẩn pháp-giới treo trên đầu một tâm niệm chưa?

    Có lẽ chưa... Vì đã bận bịu mất quá nhiều thời giờ, chạy theo cái chủ thuyết Mác-Lê Nin nít vốn dĩ tượng trưng cho sự ngu si và tham vọng của con người.

    - Nguyễn Huy thiệp có lẽ là nhà văn nổi tiếng hơn cả trong văn chương phản kháng. Nghe nói là giáo sư dạy sử, sau viết văn. Thường mượn những nhân vật lịch sử, lấy cớ chửi xéo các lãnh tụ lòng dạ tiểu nhân quỷ quyệt và ham gái như ai... Như trong Vàng Lửa, viết về vua Gia Long chửi xéo họ Hồ. Đại khái viết rằng; " Nhà vua cô đơn lắm lắm. Đó là một người ghê gớm dám đem cả vận mệnh dân tộc ra làm trò chơi cho mình... " (lược dẫn vì tôi không nhớ rõ).

    Vở kịch nói Quỷ ở với người là một kịch bản khá đặc biệt. Có thể nhắc nhở tới vở kịch En attendant Godot của Beckett, thường được mệnh danh là kịch-địa-ngục... Mô tả những nhân vật hoang loạn, sau này tan nát... do sự thúc đẩy của nội tâm thì ít, nhưng do sự uốn nắn bóp méo của môi trường sinh hoạt thì nhiều. Trở thành những kẻ quỷ ám, vì bị quỷ xúi giục.

    Vở kịch trình làng một gia đình bảy người. Ông bố già là lão Kiền, làm nghề vá lốp xe đạp, và được mô tả như thứ người vượn tiền sử nay vươn thẳng tới hiện thực xã hội chủ nghĩa.

    Đứa con trai lớn tên Cấn, là cựu cán binh, tánh tình chất phác, bị bịnh lãnh tinh mà không biết, lúc này lại vừa cưới một cô vở trẻ tên Sinh. Cấn đã 39 tuổi.

    Đứa con trai thứ hai tên Đoài, là một công chức trí thức. Tánh tình cao ngạo, ma quái, cynique, thích những trò hoang loạn.

    Đứa trai thứ ba tên Khiêm, hình như là một đứa con hoang của bà Kiền nay chết rồi. Khiêm tánh tình lầm lỳ, cộc lốc ít nói, làm nghề thợ lò mổ. Y là kẻ kiếm tiền nuôi cả nhà, vì mỗi ngày, y đều lấy cắp thịt và lòng lợn mang về.

    Đứa thứ tư tên Khâm, là một sinh viên, cũng có mầm mống hoang loạn.

    Đứa thứ năm tên Tốn là một đứa nhỏ què chân, tật nguyền, ngớ ngẩn. Thường làm mọi việc trong nhà, và hay mơ tới những con dòi đương đục ống chân của mình.

    Người con dâu tên Sinh, là người thiếu nữ duy nhất sống giữa trùng vi của sáu người đàn ông.

    Xen vào đó lại có hai con quỷ, quỷ 1 và quỷ 2, luôn luôn dòm ngó sxui dục mấy người kia. Và chúng lập luận theo lối quỷ.

    Vở kịch bắt đầu bằng một bài hát, do quỷ hát:

    Cuộc đời như áng mây trôi
    Trôi về đâu?
    Trôi về đâu?
    Cuộc đời vẫn còn như áng mây trôi
    Trôi về đâu?
    Trôi về đâu?
    Trong ta rạng muôn sắc mầu
    Ánh ngày còn soi lung linh
    Chân trời còn xa mông mênh...

    Vì môi trường sinh hoạt chung với quỷ, nên mấy đứa con trai thường nảy những ý nghĩ ma quái hoang loạn rồi xúi dục lẫn nhau... Tên Đoài thường ngấm nghé chị dâu là Sinh, rồi lại xúi dục Sinh nên ngã vào vòng tay của Khiêm để moi tiền.

    Đồng thời, Đoài cũng thuyết phục Cấn nên để cho vợ sa ngã, vì đó là thượng sách để giữ được Sinh lâu dài... Còn lão Kiền thì góa vợ, nên thỉnh thoảng cũng ngó trộm Sinh đương tắm.

    Rút cục thì Sinh mang thai, nhưng không biết của ai? Gia đình lộn xộn ta nát... Lão Kiền chết vì bịnh, còn Tốn thì bị Khiêm đâm chết... Tâm thức các nhân vật đều hoang loạn tan tành trong vòng lửa xoay u ám của quỷ.

    Tóm lại, vở kịch có kỹ thuật rất vững, lời văn sắc bén, hào hoa, đểu cáng... Tác già là người tài ba và rất thông minh. Nhưng có lẽ là thứ thông minh của trí thức yêu ma hơn là trí huệ của tâm hồn. Ưa thích phân tích và mô tả những t6am niệm hoang loạn ma quái của lòng người, hơn là những tâm niệm nhân ái bao dung. Và ngòi bút có nhiều sức mê hoặc...

    *


    Những người như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp hay Dương Thu Hương... hiện đương dẫn đầu cái được gọi là Phong Trào Văn Chương Phản Kháng.

    Tuy họ lợi dụng kẽ hở " cởi mở " của Nguyễn Văn Linh, song giọng nói của họ vẫn đầy sức ẩn ức phát xuất từ nơi đáy lòng. Họ cũng đáng được coi là can đảm. Vì không ai lạ gì bọn lãnh tụ cộng sản thường hay sớm đầu tối đánh. Hôm nay thì cho phép, ngày mai lại triệt hạ.

    Vả lại, sự việc ở đời luôn luôn biến chuyển, và giòng lịch sử không dừng lại. Trào lưu duy vật vô sản lại đang trên đà thoái hóa. Nền văn chương phản kháng lúc đầu lợi dụng " kẽ hở ", nhưng sau này có thể lộng giả mà thành chân...

    Đó là mấy lời nhận định lỗ mỗ về mấy khuôn mặt văn nghệ ở Nam và Bắc.


    Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến, những người cầm bút trung thực


    Bài viết của Nguyễn Mộng Giác (từ trang 80 đến trang 115)


    Trong cuộc vận động đòi quyền tự do và dân chủ từ lâu diễn ra tại Việt Nam, ở giai đoạn âm thầm yếu ớt hay ở giai đoạn sôi nổi, hai người cầm bút mạnh dạn nhất, được giới văn nghệ trọng nể nhất, có lẽ là Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến. Nguyễn Minh Châu là một nhà văn quân đội (đã quá cố), cầm bút từ thời kháng chiến chống Pháp nhưng thuộc lớp cầm bút trẻ nổi lên sau khi có hiệp định Geneve, cùng thế hệ của Nguyễn Khải, Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Bổng, Giang Nam... Hoàng Ngọc Hiến không sáng tác thơ văn, chuyên về lý luận phê bình, và nhờ vai trò giảng dạy ở đạihọc và trường đào tạo những cây bút trẻ, nên có ảnh hưởng rất lớn trong giới viết lách.

    Sau vụ Nhân Văn, Giai Phẩm, có thể nói Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến là hai người đầu tiên đã dám thẳng thắn đòi xét lại nhiều vấn đề căn bản về chính sách văn hóa văn nghệ, về giá trị thực sự của văn học cách mạng, khởi đầu cho cả một cuộc vận động lâu dài về sau để giải phóng cho người cầm bút khỏi những trói buộc phi lý của chính sách, ước lệ, công thức.

    *


    Tháng 11-1978, Nguyễn Minh Châu đã cho đăng trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội một bài nhan đề là " Viết về chiến tranh ".

    Trong bài đó, Nguyễn Minh Châu cho rằng nền văn học miền Bắc trước 75 và cả Việt Nam sau 75 chưa có tiểu thuyết thực sự về chiến tranh. Nhựng tiểu thuyết viết về chiến tranh còn bề bộn sự kiện, nhân vật toàn là những nhân vật lý tưởng, chưa đi sâu vào tâm trạng, chưa đi sâu vào những vấn đề xã hội liên quan tới chiến tranh.

    Diễn dịch suy nghĩ của Nguyễn Minh Châu theo ngôn ngữ lý luận phê bình, Hoàng Ngọc Hiến viết:

    " Hình như, Nguyễn Minh Châu viết, trong ý niệm sâu sa nhất của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại, mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước. Đây là một vấn đề cổ điển của lý luận văn học. Aristote đã từng nói đến hai phương thức miêu tả trong nghệ thuật: miêu tả sự vật như nó vốn tồn tại và đang tồn tại, hoặc miêu tả sự vật như nó phải tồn tại. Sophocle miêu tả con người như họ phải tồn tại, còn Euripide miêu tả con người như họ đang tồn tại... Nhìn chung trong sáng tác hiện nay, sự miêu tả cái phải tồn tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại. Và chúng tôi tán thành ý kiến Nguyễn Minh Châu cho rằng sự lấn át này là một trở ngại trên con đường đi lên chủ nghĩa hiện thực, đặc biệt là trong thể loại tiểu thuyết ".

    Một ý kiến đòi xét lại toàn bộ giá trị loại văn chương tô hồng một chiều như vậy, do một nhà văn có vai vế công khai phát biểu trên một tạp chí văn nghệ có thế lực, dĩ nhiên tác động mạnh lên độc giả, nhất là lớp cầm bút bộ đội trẻ lâu nay vẫn ấm ức vì bị ép viết dối viết láo về đời sống bộ đội, về chiến tranh. Mà lớp cầm bút trẻ gốc bộ đội này là thành phần sáng tác nòng cốt trong guồng máy tuyên truyền của cộng sản Việt Nam.

    Sau khi bài này được đăng trên tạp chí quy tụ hầu hết các cây bút trẻ có tài, phản ứng của giới sáng tác nói chung đều có vẻ tán đồng, hưởng ứng. Để tránh bị xé to câu chuyện, những ý kiến phát biểu đều thu gọn trong vấn đề kỹ thuật viết về chiến tranh, nhất là viết về đời sống bộ đội và ghi lại kỷ niệm Trường Sơn (là đề tài được khuyến khích sáng tác thời đó).

    Sáu tháng qua mà không có phản ứng chính thức nào về phía lãnh đạo văn nghệ hoặc cơ quan tuyên huấn, cho đến khi Hoàng Ngọc Hiến đăng được bài Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua trên tuần báo Văn Nghệ số 23 ra ngày 9.6.79.

    Khác với tạp chí Văn Nghệ Quân Đội do quân ủy trực tiếp điều khiển, tuần báo Văn Nghệ có tính chất dân sự và văn học nhiều hơn. Tuần báo này xuất bản tại Hà Nội, là cơ quan ngôn luận chính thức của Hội Nhà Văn Việt Nam.

    Bài Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua của Hoàng Ngọc Hiến tuy ngắn, nhưng thu gọn được một số nhận định căn bản và xác đáng về giá trị của văn học nghệ thuật dưới chế độ cộng sản nói chung, và ở Việt Nam nói riêng.

    Là một người được nhà nước tin tưởng cho đi du học ở Liên Xô về lý luận phê bình văn nghệ, Hoàng Ngọc Hiến tốt nghiệp cao (nghe nói đậu tiến sĩ) về nước phụ trách giảng dạy về lý luận phê bình tại đại học tổng hợp Hà Nội. Hoàng Ngọc Hiến còn là hiệu trưởng trường đào tạo các cây bút trẻ (chương trình huấn luyện bốn năm, học viên là những người có khả năng viết văn do các cơ quan và đơn vị quân đội chọn gửi về huấn luyện tư tưởng và kỹ thuật viết).

    Mặc dù vậy, Hoàng Ngọc Hiến phải dựa vào bài Viết về chiến tranh của Nguyễn Minh Châu để mạnh dạt đặt lại vấn đề. Sau khi tóm lược ý kiến của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến Viết:

    " Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống cho phải đạo, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại, thì mối quan tâm hàng đầu là mô tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm, chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là chủ nghĩa hiện thực phải đạo ".

    Đối với một số bạn đọc, lối dùng chữ trường ốc dưới chế độ cộng sản có thể khó hiểu, nhưng khi đã quen với lối nói lập lở hàng hai của hạng trí thức cần giữ mình dưới chế độ chuyên chế, chúng ta dễ dàng hiểu được điều Hoàng Ngọc Hiến muốn nói. Sự thực đơn giản thôi: đó là sự mâu thuẫn nội tâm từng dày vò tất cả những nhà văn cỏn chút liêm khiết tr1i thức dưới chế độ cộng sản. Chế độ chuyên chế bắt buộc họ phải viết cho đúng chủ trương chính sách của nhà nước, viết cho " phải đạo ", trong khi lương tâm cầm bút của họ lại muốn họ viết những điều chân thật. Khốn thay, điều chân thật lại trái ngược với điều phải đạo. Vì vậy, Hoàng Ngọc Hiến không muốn dùng những chữ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như cách nói của lãnh đạo văn nghệ, mà lại chính danh ra thành chủ nghĩa hiện thực phải đạo.

    Mấy chữ này đã mau chóng trở thành thời thượng trong các cuộc luận đàm của giới văn nghệ sau năm 1979 ở Việt Nam, và đã khiến cho giới lãnh đạo tuyên huấn giận dữ.

    Nhưng, thế nào là chủ nghĩa hiện thực phải đạo?

    Hoàng Ngọc Hiến giải thích tiếp:

    " Thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người phải đạo với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là phải đạo.

    Chủ nghĩa hiện thực chân chính đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết phân biệt đâu là những hình thức phải đạo và đâu là những nội dung chân lý phù hợp với quy luật phát triển cách mạng của bản thân cuộc sống ".

    Như vậy đã khá rõ ràng. Lại gạt bỏ bớt cái áo triết học Hoàng Ngọc Hiến dùng để che thân, chúng ta thấy ý của Hoàng Ngọc Hiến muốn nói là dười chế độ cộng sản, vì nhà nước kiểm soát chặt chẽ đời sống vật chất lẫn tinh thần của mọi người, nên muốn sống sót (Hoàng Ngọc Hiến dùng chữ thích nghi sinh tồn) mọi người ai ai cũng phải sống hai mặt: nghĩ khác nói khác, nói khác làm khác, nói ở chỗ công khai để biểu diễn lập trường khác với những lời tâm sự với bạn bè vợ con; từ đó phát sinh ra cái mẫu con người xã hội chung chung là con người phải đạo, lúc nào cũng phải giả vờ lạc quan, tin tưởng tuyệt đối vào Đảng và Nhà nước.

    Mọi người bình thường làm như vậy được, riêng đối với người nghệ sĩ chân chính, làm như vậy thật không ổn. Vì hiện thực phải đạo, thực ra chỉ là cái áo hình thức theo đúng nhu cầu tuyên truyền, trong khi nội dung chân lý (là mục tiêu sáng tạo của nghệ thuật) lại hoàn toàn khác.

    Nếu nghệ sĩ chân chính nói láo dễ dàng như một cán bộ tuyên truyền hay một anh quảng cáo thuốc dán Sơn Đông, thì đã không còn vấn đề gì để nói nữa. Khổ nỗi, nghệ sĩ chân chính dưới chế độ cộng sản không thể bình yên khi phải nói dối cho " phải đạo ". Phiền phức, rắc rối ở chỗ đó.

    Nhưng Hoàng Ngọc Hiến chưa chịu dừng lại ở ghi nhận sắc bén về mẫu người xã hội hai mặt này. Ông quy nạp lên một tầng nữa, đặt nó vào hệ thống lý luận biện chứng của thẩm mỹ học, ông viết:

    " Với ý nghĩa này, có thể nói rằng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở ta trong giai đoạn vừa qua mang khá đậm dấu ấn của cái cao cả.

    * Trong lãnh vực mỹ học, dấu ấn của cao cả tương ứng với sự lấn át của bình diện cái phải tồn tại đối với bình diện cái đang tồn tại.

    * Trong phương thức miêu tả nghê thuật là sự lấn át của cấp lý tính đối với cấp cảm tính trong sự nhận thức của chủ thể mỹ học.

    * Sự lấn át của lý trí đối với xúc cảm trong hình ảnh con người mới.

    * Sự lấn áp của bản chất đối với hiện tượng trong hình ảnh cuốc sống được phản ánh vào tác phẩm ".

    Để đối đầu lại với giới lãnh đạo văn nghệ sính biện chứng pháp và quen suy nghĩ theo hệ thống, Hoàng Ngọc Hiến cũng đưa ra những cặp phạm trù như: cái phải tồn tại và cái đang tồn tại, lý tính và cảm tính, nội dung và hình thức, lý trí và xúc cảm, bản chất và hiện tượng, nhưng vì hạng phạm trù thuộc loại phải đạo lấn áp hạng phạm trù thuộc loại chân thật, nên kết quả là cả một nền văn học nghệ thuật suy hóa thành cái xác khô không liên hệ gì đến con người và cuộc đời trước mặt. Chưa nói đến điều thậm tệ hơn là không liên hệ gì đến chân lý.

    Từ lối đặt vấn đề tổng quát chắc nịch như vậy, Hoàng Ngọc Hiến đưa ra hai hệ luận:

    Hệ luận thứ nhất là sự kệch cỡm giả tạo của thể loại tiếu thuyết dưới chế độ cộng sản:

    Chúng tôi lấy miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết làm ví dụ. Nhân vật trong tiểu thuyết sinh động, nhất thiết phải là cá nhân con người. Mỗi cá nhân, như chúng ta biết, bao giờ cũng gắn với nhiều tập hợp, những tập hợp quen thuộc trong sốp này thường vẫn được nêu lên trong lý lịch văn học dưới các mục thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp, đoàn, đảng. Nhân vật đưộc nghiên cứu và xây dựng từ cấp độ cố định những tập họp nói trên cách này cách nọ được gán ghép cho những thuộc tính bản chất của tập hợp đó.

    Nhưng như chúng ta đã biết, số cộng những thuộc tính đó không tạo được cá nhân con người, không thuyết minh được cá tính riêng, bản lĩnh độc đáo và bộ mặt đặc sắc của nó. Nhân vật bị mờ nhạt vì nhân vật không được nhìn nhận và xây dựng như nó là một cá nhân, và sở dĩ như vậy là do cách nhìn cao cả của chủ thể mỹ học như đã nói ở trên
    .

    Nguy hiểm hơn là hệ luận thứ hai. Lối sống phải đạo tạo ra một thứ ngụy tín làm thui chột hết sáng kiến và khả năng biện biệt tốt xấu của từng người, như Hoàng Ngọc Hiến đã vạch rõ:

    " Trong đời sống thực tại cũng có tình trạng tương tự, thế giới hiện tượng ngoài cuộc đời quá ư phức tạp, rối ren. Nhiều người đứng trước những hiện tượng không lý giải nổi, chúng ta bèn khẳng định bản chất bằng những câu nói quen thuộc: căn bản lá tốt, ưu điểm là căn bản, bản chất là tốt đẹp... v.v...v.v... Ở hình ảnh con người mới được phản ảnh trong những tác phẩm nghệ thuật của ta, đặc trưng cao cả biểu hiện ở sự lấn át của lý trí đối với cảm xúc. Tác giả thì quá dè xèn, nhân vật thì quá dè dặt trong sự biểu hiện cảm xúc. Ngoài đới sống cũng thường thấy cách ứng xử như vậy "
    .

    Tóm lại, ngay những bài viết trên Nhân Văn, Giai Phẩm và Đất Mới hồi 1956 chưa có bài nào có căn bản lý luận sắc bén như bài này. Bài viết của Hoàng Ngọc Hiến soi rọi tận gốc rễ tất cả sự giả tạo của nền văn học nghệ thuật gọi là cách mạng dưới chế độ cộng sản Việt Nam bao nhiêu năm qua, đảo ngược mọi thành kiến và nọa lực để bắt người nghệ sĩ chân chính phải xét lại mình, xét lại tác phẩm mình. Ảnh hưởng của bài báo sâu rộng là vì vậy.

    Bài của Hoàng Ngọc Hiến vừa xuất hiện trên tuần báo Văn Nghệ số 23 ngày 9.6.79, liền gây sôi nổi và tạo nhiều cuộc tranh luận hào hứng trong giới sáng tác. Gần như ai ai cũng tán đồng nhận định của Hoàng Ngọc Hiến về giá trị thực của nền văn nghệ gọi là cách mạng.

    Chính Kiều Vân trên tạp chí Nghiên Cứu Nghệ Thuật số 30 ( tháng 1. 1980) cũng phải công nhận rằng bài báo của Hoàng Ngọc Hiến " tuy không gây được chú ý của đông đảo công chúng, nhưng cũng đã làm cho nhiều anh chị em làm công tác nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật suy nghĩ ".

    Đoạn trích nằm trong phần mở đầu của bài " Trao đổi về một nhận định sai lầm đối với đặc điểm văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua " do Kiều Vân viết cho tạp chí nghiên cứu chính thức của Bộ Văn Hóa và Thông Tin .

    (còn tiếp)

  25. Thanks kegiangho, phng99 thanked for this post
  26. #15
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default


    (tiếp theo)

    Kiều Vân muốn giới hạn tầm ảnh hưởng bài báo của Hoàng Ngọc Hiến trong một số nhỏ những người làm công tác nghiên cứu phê bình văn nghệ mà thôi, ý muốn nói tư tưởng của Hoang Ngọc Hiến không có tầm tác hại lớn đến đám đông quan trọng hơn, là những người sáng tác và những người thưởng ngoạn nghệ thuật. Vì thế, Kiều Vân mới đặt nhan đề bài báo là Trao đổi về một nhận định... nghĩa là sự bất đồng này chỉ là chuyện trong nhà, chưa ra ngoài ngõ.

    Sự thực không phải như vậy. Bài báo của Hoàng Ngọc Hiến tác động mạnh mẽ lên giới văn nghệ và quần chúng, nhất là giới quen theo dõi sinh hoạt văn nghệ.

    Mà chính Kiều Vân, ở phần sau của bài báo, cũng xác nhận ảnh hưởng bài viết của Hoàng Ngọc Hiến. Kiều Vân viết:

    " Đối với một bộ phận anh chị em văn nghệ sĩ và có thể một bộ phận bạn đọc bài báo của Hoàng Ngọc Hiến, nếu không quan tâm đầy đủ đến lãnh vực lý luận văn học nghệ thuật, và một chừng mực nào đó chưa thỏa mãn với một số tác phẩm văn học nghệ thuật nào đó của chúng ta, thì cũng dễ cho rằng anh Hoàng Ngọc Hiến đã nói lên được một sự thực chúng tôi cũng đã được nghe một bộ phận như vậy " (Nghiên cứu nghệ thuật trang 15).

    Những bạn đọc không có mặt tại Việt Nam trong giai đoạn từ 1979 trở về sau có thể nhận ra dấu hiệu sự hưởng ứng của đa số văn nghệ sĩ và quần chúng đối với bài báo của Hoàng Ngọc Hiến nhờ các hiện tượng đặc biệt sau đây:

    * Một bài viết đảo ngược quan điểm truyền thống và dám phủ nhận căn bản giá trị của cả một nền văn nghệ như vậy, nếu ở vào thời Nhân Văn-Giai Phẩm, tất nhiên sẽ bị nhiều cây viết bất tài và thiếu liêm khiết nhào ra đánh hôi, để lập công với Đảng. Nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm từng là nạn nhân của bọn đánh hôi này, trước khi chịu biện pháp đàn áp của bọn cầm quyền, trong lúc Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ mới nêu lên một số bất mãn, một số hành vi thoái hóa của cán bộ, nghĩa là mới chỉ đi vành ngoài. Đằng này Hoàng Ngọc Hiến đánh vào ngay bản chất của một nền văn nghệ, thế mà từ lúc bài báo được đăng lên, suốt nửa năm qua mà những lời công kích Hoàng Ngọc Hiến thật hiếm hoi lẻ tẻ.

    Có thể đếm được trên đầu ngón tay những bài báo chỉ trích Hoàng Ngọc Hiến. Tô Hoài có một bài viết rất sơ lược đăng trên tuần báo Văn Nghệ số 42 ra ngày 20 tháng 10/79. Chế Lan Viên, vào tận Sài Gòn viết bài chỉ trích bóng gió dưới hình thức một lá thư gửi cho người bạn gái ở Hà Nội. Lèo tèo có bấy nhiêu và một số ý kiến phát biểu gượng gạo không ai chú ý.

    * Trong lúc đó thì đa số nhóm cầm bút trẻ trong quân đội lại công khai ủng hộ Hoàng Ngọc Hiến.

    Ngay trên tờ báo Quân Đội Nhân Dân số ra ngày 6.7.1980, chẳng những không có bài đả kích Hoàng Ngọc Hiến mà lại còn cho đăng bài Thử nhìn lại mức độ chân thực của các tác phẩm viết về chiến tranh và quân đội, nội dung bài này hoàn toàn tán đồng ý kiến của Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến.

    Hà Xuân Trường tóm tắt bài báo này như sau:

    Chia văn học ra hai tư cách: Tư cách vũ khí sắc bén và tư cách tấm gương phản ánh hiện thực. Những điều cơ bản nhất trong kết cấu bố cục hầu hết tiểu thuyết, các tác giả còn nghiêng về phía người may mắn. Phần nửa cái bánh mì là bánh mì, nhưng phần nửa sự thật là sự giả dối. Những tác phẩm chỉ có một phần nửa sự thật hnư vậy không thể nói gây ấn tượng giả dối, nhưng cũng khó khẳng định đó là sự thật (Nghiên Cứu Nghệ Thuật số 36, 1/81).

    Chúng ta không cần dài dòng phân tích trọn bài báo đăng trên Quân Đội Nhân Dân. Chỉ cần nhận xét về ba điểm chính yếu Hà Xuân Trường trích lại cũng đủ thấy rõ thái độ chung của các cây bút gốc quân đội. Cả ba điểm này đều giống y lập luận của Hoàng Ngọc Hiến, chỉ khác một bên đặt vào lý luận triết học, một bên đặt vào kỹ thuật viết tiểu thuyết:

    - Hoàng Ngọc Hiến đặt cái chân thật đối nghịch với cái phải đạo, ở đây đặt tiểu thuyết như một vũ khí sắc bén (tức là tiểu thuyết tuyên truyền tô vẽ cho Đảng và Nhà nước) đối nghịch với tiểu thuyết như một tấm gương phản ánh hiện thực (tức loại tiểu thuyết dám nói sự thật).

    - Đi xa hơn nữa, tác giả bài báo trên Quân Đội Nhân Dân còn diễn dịch một cách cụ thể trần truồng những điều mà Hoàng Ngọc Hiến còn nói quanh co bằng thuật ngữ triết lý. Thật vậy, Hoàng Ngọc Hiến bảo:

    Có thể nói rằng chủ nghĩa hiện thực chủ nghĩa ở ta trong giai đoạn vừa qua mang đậm dấu ấn của cái cao cả còn bài báo trên Quân Đội Nhân Dân thì thẳng thừng bảo rằng người viết truyện theo đúng chính sách nhà nước chỉ nói đến một nửa sự thật. Ác hơn nữa, là ngay sau đó, bài báo ví von: Phần nửa cái bánh mì là bánh mì. Nhưng phần nửa sự thật đã là sự giả dối.

    Không còn chờ đợi gì ở bọn đàn em đánh hôi nữa, giới lãnh đạo văn nghệ Hà Nội đành phải đích thân ra tay giải độc.

    Giới lãnh đạo văn nghệ Hà Nội phản ứng bằng hai lối:

    * Về mặt lý thuyết, Trần Độ, Hà Xuân Trường, Kiều Vân viết một loạt nhiều bài đăng trên báo Đảng, báo lý luận văn học nghệ thuật, báo văn nghệ sáng tác để đả kích lại những bài báo sai chính sách đang làm cho dư luận xôn xao. Chúng tôi sưu tập được 5 bài:

    - Bài Văn Nghệ, vũ khí của cách mạng của Trần Độ, in lại trong cuốn Văn Nghệ vũ khí của cách mạng, nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982.

    - Bài Sự nghiệp của Đảng sự nghiệp của văn nghệ, đăng trên Tạp chí Cộng Sản số tháng Ba, 1980 và Nghiên Cứu Nghệ Thuật số 32 tháng 3, 1980.

    - Bài Một số vấn đề văn nghệ đang đặt ra đăng trên Nghiên Cứu Nghệ Thuật số 36, tháng 1, 1981.

    - Bài Quan hệ văn nghệ và chính trị đăng trên Nghiên Cứu Nghệ Thuật số 43, tháng 2, 1982.

    - Quan trọng nhất là bài Trao đổi về một nhận định sai lầm đối với đặc điểm văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua của Kiều Vân đăng trên Nghiên Cứu Nghệ Thuật số 30 tháng 1, 1980.

    * Về mặt tổ chức, để nắm chắc sự hậu thuẫn của giới sáng tác văn nghệ có chân trong Đảng, bọn lãnh đạo văn nghệ triệu tập ngay đại hội các nhà văn đảng viên tổ chức tại Hà Nội vào khoảng thời gian 13.6.79 để thống nhất lập trường trước khi tung ra chiến dịch giải độc.

    Về lý thuyết, trong năm bài vừa nêu trên chỉ có bài viết của Kiều Vân là quan trọng hơn cả. Những bài của Trần Độ và Hà Xuân Trường chỉ gồm những lý luận một chiều, những khẩu hiệu quen thuộc, nói chung là có cái giọng huấn từ của giới lãnh đạo đầu óc đã mọc rêu, không bao giờ chấp nhận có đối thoại nghiêm chỉnh.

    Vì thế ở đây, chúng tôi chỉ khảo sát bài viết của Kiều Vân.

    Đọc bài viết của Hoàng Ngọc Hiến đã là một sự vất vả, vì có quá nhiều thuật ngữ triết học và lối tránh né lập lờ quen thuộc của giới cầm bút dưới chế độ cộng sản.

    Nhưng đọc bài Trao đổi về một nhận định sai lầm đối với đặc điểm văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua của Kiều Vân lại càng vất vả hơn nữa. Vất vả vì bài viết dài hơn 14 trang cỡ tạp chí chữ nhỏ, ý này tiếp nối ý kia, không xuống hàng ngắt đoạn nhiều.

    Vất vả vì người viết muốn biểu diễn cái thế thượng phong để trấn áp nên đem hết kiến thức triết học ra để bày hàng.

    Sau khi lược trích các điểm chính yếu trong bài của Hoàng Ngọc Hiến, Kiều Vân phủ đầu bằng cách cho rằng phương pháp lý luận của Hoàng Ngọc Hiến sơ lược, tùy tiện. Nguyên văn lời Kiều Vân như sau:

    Nếu không có cái nhìn biện chứng như vậy, thì rất dễ dàng gán ghép, liên hệ một cách tùy tiện giữa những hiện tượng nọ và hiện tượng kia, giữa những khái niệm nọ và khái niệm kia, và đồng thời cũng có thể bỏ qua, khu biệt hoặc gỡ rối tất cả những sự kiện, những điều kiện, những thuộc tính cần thiết rồi dễ dàng bóp méo tất cả những sự vật những hiện tượng ấy một cách tùy ý (Nghiên Cứu Nghệ Thuật trang 15).

    Theo lời kết án của Kiều Vân, bài của Hoàng Ngọc Hiến sơ lược tùy tiện.

    * Vì đã quy nạp vội:

    " Mà ngay cả những hiện tượng đời sống Hoàng Ngọc Hiến cũng không chịu nhìn trong sự nhận thức hoàn chỉnh, trong mối liên hệ biện chứng và thống nhất các mặt khác nhau của nó (thực tế xã hội lịch sử, chính trị...) anh gần như biến nó thành phổ biến và đồng nhất luôn hiện thực nghệ thuật và hiện thực đời sống để nghiên cứu " (Nghiên Cứu Nghệ Thuật trang 6).

    * Vì Hoàng Ngọc Hiến đã đem một mô thức văn nghệ cổ đại ở Âu Châu ra làm nền tảng đo lường định giá một hiện thực văn nghệ hiện đại tại Việt Nam.

    " Khi mới trình bày một cách sơ lược đến hai phương pháp miêu tả sự vật như nó phải tồn tại và sự vật như nó đang tồn tại mà Aristote đã đề cập, bỏ qua đi tất cả những thuộc tính liên quan đến sự vận động xã hội và lịch sử (của ngay thời Hy Lạp cổ đại), anh gắn ngay với khái niệm về chủ nghĩa hiện thực ở ta hiện nay " (Nghiên Cứu Nghệ Thuật trang 16).

    Từ đó, Kiều Vân quy tội Hoàng Ngọc Hiến như sau:

    " Vì vậy, chúng tôi muốn lưu ý là khi nhìn sự vật không thông qua mối liên hệ biện chứng giữa các mặt khác nhau của nó (trong đó có cả những mâu thuẫn của bước trưởng thành) rồi thổi phồng một hay vài sự kiện cá biệt để biến nó thành bản chất, bỏ qua những thuộc tính thuộc về vận động lịch sử và xã hội cụ thể, thì về phương pháp nghiên cứu và tư tưởng chủ đạo, Hoàng Ngọc Hiến đã vô tình đi vào lối suy diễn và quy nạp của logic hình thức.

    Khi đồng nhất những hiện tượng văn học với những hiện tượng xã hội, đem khái niệm mỹ học gán cho những quan niệm còn chủ quan của mình về tình trạng đời sống xã hội..., theo chúng tôi là không khoa học, và điều này đã có những tác hại của nó.

    Trong thời đại của chúng ta, trong ý thức hệ của chúng ta mà chỉ nhấn mạnh đến chủ nghĩa hiện thực (chứ chưa nói đến kiểu chủ nghĩa hiện thực phải đạo của Hoàng Ngọc Hiến) mà bỏ đi bản chất của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là không đúng.

    Vì rằng, nếu chỉ mãi truy tìm cái gọi là tính chân thật nghệ thuật một cách hình thức không thôi, mà bò qua đi những thuộc tính mang tính chất nguyên tắc về đấu tranh chính trị, thì những người làm công tác nghiên cứu văn học nghệ thuật cho đến nay vẫn còn suy nghĩ đến hiện tượng Lucas và những người theo chủ nghĩa xét lại trong văn học nghệ thuật đã làm như vậy. Cho là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ sinh ra những hình tượng văn học nghệ thuật sô lược công thức, cho là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ sinh ra " chủ nghĩa minh họa ", những người theo chủ nghĩa xét lại đã nâng cao lên tận mây xanh cái mô hình của chủ nghĩa hiện thực (nhất là chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỷ 19) nghĩa là đã đồng nhất giữa ngoại diên (extention) và nội hàm (comprehension) của đối tượng văn học nghệ thuật, đồng nhất giữa khách thể và chủ thể sáng tạo một cách vô lối vào cái gọi là sự thật khách quan, bỏ qua đi tính có khuynh hướng như Lucas, hoặc đòi hỏi một kiểu tự do vô lối trong sáng tác, một đề cao chủ thể sáng tạo của người nghệ sĩ một cách không giới hạn như Garaudy.

    Từ những quan niệm sáng tạo nghệ thuật như vậy. G. Lucas, R. Garaudy và những người đi theo chủ nghĩa xét lại đòi tự do tuyệt đối một cách vô lối trong sáng tạo văn học nghệ thuật, và cũng từ những điều vu khống xuyên tạc của họ đối với xã hội chủ nghĩa, họ tấn công một cách kiên trì vào nền văn học mang tính đảng và tính có khuynh hướng của chủ nghĩa hiện thực xã hội (Nghiên Cứu Nghệ Thuật trang 16).

    Xin lỗi quý bạn đọc nếu chúng tôi không còn cách nào khác hơn là phải trích lại một đoạn văn quá dài, quá nặng đầu như thế này, không có cách nào khác, vì trong bài báo dài thậm thượt của Kiều Vân, đây là đoạn quan trọng nhất.

    Khôn khéo hơn những bài viết nặng tính chất đàn áp thô bạo, cả vú lấp miệng em của giới lãnh đạo văn nghệ đối với phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm trước 1960, bài viết của Kiều Vân cố làm ra vẻ " khoa học khách quan ", chỉ " trao đổi " với Hoàng Ngọc Hiến về một vấn đề hết sức chuyên môn, là phương pháp mà thôi.

    Kiều Vân chê Hoàng Ngọc Hiến hai điểm:

    1. Vì không nắm vững căn bản của chủ nghĩa Marx nên sa vào thứ chủ nghĩa sơ lược, tách rời cái cá biệt ra khỏi toàn thể, và ngay cái cá biệt được nêu lên cũng không nằm trong khuynh hướng tất yếu của toàn bộ tiến trình lịch sử.

    2. Vì dựa vào luận lý hình thức (logique formelle) nên lập luận lỏng lẻo, gán ghép tùy tiện.

    Mới đọc qua thì hai điểm này có vẻ nhỏ, có vẻ như một thứ khuyết điểm thuộc phương pháp nghiên cứu hơn là một thứ tội lỗi về quan điểm tư tưởng. Nhưng không phải vậy! Ngay sau đó, Kiều Vân xếp Hoàng Ngọc Hiến vào " thành phần xét lại " nguy hiểm như G. Lucas và R. Garaudy ở Âu Châu. Không kết tội thẳng Hoàng Ngọc Hiến, nhưng Kiều Vân nói về Lucas và Garaudy với cái giọng hằn học như: " Nâng cao lên tận mây xanh cái mô hình của chủ nghĩa hiện thực, nhất là chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỷ 19 ", " đồng nhất giữa khách thể và chủ thể sáng tạo một cách vô lối ", " đòi hỏi một kiểu tự do vô lối trong sáng tác ", " vu khống xuyên tạc đối với xã hội xã hội chủ nghĩa ", " tấn công một cách kiên trì vào nền văn học mang tính đảng và tính có khuynh hướng... ".

    Hoàng Ngọc Hiến, G. Lucas, R. Garaudy và hầu hết những người trí thức văn nghệ sĩ còn chút lương tâm dưới chế độ cộng sản bị kết án nặng nề như vậy, chỉ vì thấy rõ một sự thực quá thực và quá đơn giản là: văn nghệ phải đạo (đúng chính sách của Đảng và Nhà nước) chỉ sinh ra được những hình tượng văn học nghệ thuật sơ lược, công ghức, gượng ép, thiếu sống động. Điều này không chờ quần chúng thưởng ngoạn nói ra, mà hiện nay, chính những người trực tiếp đẻ ra những hình tượng gượng ép đó là giới sáng tác tự nói ra, tự phê bình. Cho dù lây thứ lý luận dao to búa lớn nào để biện minh, Kiều Vân cũng không thể phủ nhận được thực trạng giả dối của nền văn dưới chế độ cộng sản.

    Tuy vậy, ngay phương pháp luận mà Kiều Vân dùng để chỉ trích phương pháp luận của Hoàng Ngọc Hiến cũng đầy cả sai lầm, mâu thuẫn.

    Không tiện đi sâu vào lý luận triết học để khỏi đau đầu bạn đọc, chúng tôi chỉ nêu lên một số điểm chính:

    1. Kiều Vân dựa vào một thứ mô thức tổng hợp gượng ép giữa luận lý học hình thức (logicque formelle) và chủ nghĩa Marx để chê Hoàng Ngọc Hiến chỉ ghi nhận một số hiện tượng cụ thể, và sắp xếp tạm theo hệ thống để giải thích, chứ chưa hề áp dụng luận lý hình thức.

    2. Kiều Vân bảo Hoàng Ngọc Hiến đã dùng một thứ thẩm mỹ học khoa học (esthetique scientifique), dựa vào lý luận toán học để chứng minh sự lấn áp giữa các cặp phạm trù. Hoàng Ngọc Hiến không làm việc đó.

    3. Kiều Vân bảo Hoàng Ngọc Hiến trở lại triết học Kant về các ý niệm phạm trù và nhận thức tiên thiên. Sự thực Hoàng Ngọc Hiến chỉ nhắc đến một trong những chân lý của Lant mà ai cũng công nhận, đó là tổng cộng của những chi tiết không thể thành cái toàn thể.

    Tóm lại, dù có đem bày hàng tất cả kiến thức triết học có được và giả bộ khiêm nhường khách quan để chụp cho Hoàng Ngọc Hiến những cái mũ " xét lại, xuyên tạc, bôi lọ " nền văn học phục vụ cho Đảng và Nhà nước, Kiều Vân vẫn không đủ sức thuyết phục được những người cần thuyết phục là giới văn nghê sĩ.

    Cho nên sau bài viết của Kiều Vân, giới cầm quyền phải đích thân nhập cuộc.

    Trước những bài báo nêu lên tính chất giả trá của văn nghệ dưới chế độ cộng sản đăng trên Văn Nghệ Quân Đội, Quân Đội Nhân Dân và Văn Nghệ cùng sự xuất hiện của những bài viết " có vấn đề " của Nguyễn Khắc Viện và vở kịch " Nguyễn Trãi ở Đông Quan " của Nguyễn Đình Thi, giới lãnh đạo văn nghệ Hà Nội nhận thấy phải tìm cách chấm dứt ngay khuynh hướng đòi tự do sáng tác và tư tưởng của trí thức văn nghệ sĩ.

    Một số biện pháp đã được đưa ra, nhưng khác với vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, lần này các biện pháp ít tính chất đàn áp lộ liễu hơn.

    Về mặt tổ chức, giới lãnh đạo văn nghệ Hà Nội cần tìm hậu thuẫn chắc chắn của các văn nghệ sĩ đảng viên trước khi đưa ra một phong trào gì.

    Tháng 6 năm 1979 giới lãnh đạo văn nghệ cho triệu tập hội nghị các nhà văn đảng viên tại Hà Nội để mong hội nghị này sẽ đưa ra một thứ " nghị quyết văn nghệ " đúng chính sách chủ trương của Đảng. Theo dư luận bên ngoài, thì đại hội này đã hoàn toàn thất bại.

    Bí thư đảng đoàn hội nhà văn là Nguyên Ngọc thay vì đọc một bản " báo cáo " cực lực lên án lập luận của Hoàng Ngọc Hiến hay ý kiến của Nguyễn Minh Châu, lại xác nhận " nền văn học cách mạng " chưa có giá trị đáng kể.

    Hai loại ý kiến thường nghe thấy trong đại hội là:

    a. Sự bất mãn của lớp văn nghệ sĩ trẻ có tài không có thế lực chính trị đối với lớp văn nghệ sĩ già nhưng cứ cố bám vào những ghế lãnh đạo.

    b. Giá trị khiêm nhường của nền văn nghệ " cách mạng ".

    Hai loại ý kiến này dường như được mọi đảng viên tham dự đại hội chia sẻ, nên Tố Hữu đã phải đến đọc một bài " huấn thị " với lời lẽ vuốt ve xoa dịu hơn là công kích đàn áp.

    Bài nói chuyện này về sau nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội có cho in lại trong cuốn Văn Nghệ, Vũ Khí của Cách Mạng (Hà Nội 1982) cùng với bài viết của Trần Độ và Hà Xuân Trường, coi như tập sách chính thức của đảng để đối phó với phong trào phản kháng của giới văn nghệ sĩ.

    (còn tiếp)



  27. Thanks Quốc Hoàng, twelve, kegiangho, phng99 thanked for this post
  28. #16
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Bài nói chuyện của Tố Hữu có nhan đề là: " Văn học là cuộc đời ". Một vấn đề hiển nhiên tưởng không còn gì phải bàn cãi nữa! Văn học nghệ thuật nói chungpha3n ảnh cuộc đời. Nhưng bạn đọc chớ vội nghĩ cuộc đời mà văn học phản ảnh theo lối nhìn của lãnh đạo văn nghệ cộng sản là cuộc đời có thực trước mắt chúng ta. Không cuộc đời theo lối nhìn của Tố Hữu khác hẳn. Hãy nghe Tố Hữu nhắc đi nhắc lại đến bốn lần một ý tưởng: Thế nào là sự thực cuộc đời:

    " Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa mà chúng ta chấp nhận yêu cầu miêu tả hiện thực một cách chân thật, đúng với bản chất và xu thế phát triển tất yếu của sự vật. Bởi vậy, đối với văn học, điều quan trọng trước hết là nhận thức cho đúng hiện thực ". (1).

    Một lúc sau, Tố Hữu lại nói:

    Văn học phải phát xuất từ cuộc sống. Tất nhiên đó là cuộc sống thật của nhân dân ta, của thời đại. Và tôi muốn nhấn mạnh: cuốc sống có ý thức, cuộc sống xã hội chủ nghĩa (2).

    Ngay sau đó, Tố Hữu lặp lại:

    Không, chúng ta không phải là những người nhắm mắt trước sự thật. Nhưng vấn đề là phải biết nhìn sự thật như thế nào? Phải biết phân biệt đâu là trắng đen, trong đục, phải biết nắm bắt lấy bản chất và xu thế của sự vật, của xã hội, để mà ghi chép nó, miêu tả nó với sự nhận biết minh mẫn, với sự xúc động chân thành, bằng ngôn ngữ phong phú của nghệ thuật. Và đó là công việc của người nghệ sĩ chân chính (3).

    Cuối cùng, ngay sau khi nói như vậy, Tố Hữu cố ý lặp lại lần chót:

    Văn nghệ là tiếng nói của tình cảm. Nhưng tình cảm của chúng ta là tình cảm có lý trí soi sáng. Không có lý trí thời không có tình cảm đẹp. Có lý và có tình, đó là nét đặc trưng của con người chân chính. Văn học nghệ thuật cách mạng phải là nền văn học nghệ thuật ấy, có lý, có tình (4).

    Cả bốn lời khẳng định của Tố Hữu đều chỉ lặp lại một điều nôm na đơn giản: Văn nghệ sĩ có quyền sáng tạo bằng sự thật cuộc đời và tình cảm cá nhân, nhưng cách nhìn sự thật và diễn tả tình cảm thế nào, thì phải theo lời dạy của Đảng.

    Biết chắc chắn lập luận một chiều đó không thể thuyết phục được giới văn nghệ sĩ có mặt trong hội nghị (dù họ đều là đảng viên), nên Tố Hữu dành phần chót bài nói chuyện để vỗ về.

    Về giá trị khiêm nhượng của văn học cách mạng, Tố Hữu ví von:

    " Giá như không có hoa hồng, tôi bằng lòng một hoa sim vì nó là hoa. Ai bảo hoa sim không có vẻ đẹp của nó? Nếu phải đi qua một ngọn đồi, nắng nực, không có bóng mát, anh sẽ thấy thương hoa sim biết bao! Và nếu anh nghĩ rằng nó có thể cho anh quả ngọt, dẫu là một quả sim. Ca dao nói vậy đó " Đói lòng ăn một quả sim " chứ có phải một quả cam đâu? Đứng về ý nghĩ đó, thì một quả simd9a1ng để cho ta thương hơn mười quả cam trong một hoàn cảnh khác. Tôi chúc mừng một quả sim đó, quả sim của con nhà nghèo ". (5)

    Về mối mâu thuẫn gay gắt giữa giới trẻ và giới già trong văn nghệ, Tố Hữu cũng nói hàng hai:

    Tôi hoàn toàn tin tưởng ở các thế hệ chúng ta. Tre già thì măng mọc. Nhưng chúng ta hôm nay lại được may mắn có nhiều thế hệ cùng một thời, có thể đem lại cho nhau, bồi bổ cho nhau rất nhiều sức sống và kinh nghiệm. Chủ nghĩa cộng sản đúng là mùa xuân (1) của loài người. Người cộng sản không biết tuổi già. (6)

    Tóm lại, bài nói chuyện của Tố Hữu không giải quyết được gì cả, chỉ vỗ về bên này một ít, bên kia một ít, cho vui vẻ cả làng và cho giới văn nghệ nhớ vai trò tuyệt đối của đảng mà nên biết điều, ngoan ngoãn trở lại.

    Phản ứng có vẻ chính thức và đúng bài bản nhất, có lẽ là các bài viết của Hà Xuân Trường, thứ trưởng bộ Văn Hóa-Thông Tin.

    Hiện chúng tôi sưu tập được tất cả ba bài của Hà Xuân Trường:

    Bài Sự nghiệp của đảng sự nghiệp của văn nghệ đăng trên Tạp chí Cộng Sản số 3/1980.

    Bài Một số vấn đề văn nghệ và chính trị đăng trên Nghiên Cứu Nghệ Thuật số 36, tháng 1/1981.

    Và bài Quan hệ văn nghệ và chính trị đăng trên Nghiên Cứu Nghệ Thuật số 43, tháng 2/1982.

    Cả ba bài báo đều có một lối lập luận hết sức " công thức và sơ lược ", quanh đi quẩn lại chỉ có bấy nhiêu ý tưởng, như:

    - Văn nghệ phải luôn luôn có tính dân tộc, tính đảng và tính nhân dân.

    - Đường lối lãnh đạo văn nghệ từ trước tới nay luôn luôn sáng suốt, đúng đắn.

    - Văn nghệ cách mạng đa dạng, phong phú hơn bất cứ nền văn nghệ nào!

    - Những khiếm khuyết hay bất mãn trong văn nghệ chỉ là tạm bợ và không quan trọng, chỉ là hiện tượng nhất thời.

    - Những gì một số người nêu ra để nghi ngờ giá trị văn nghệ cách mạng đều là sai lầm, do chưa có lập trường vững vàng, ...

    Nói chung, những bài của Hà Xuân Trường chỉ rặt giọng tuyên truyền một chiều, không dựa trên một hệ thống lập luận khách quan nào để thuyết phục hoặc hóa giải khó khăn.

    Thời điểm ba bài viết của Hà Xuân Trường (tháng 3/1980, tháng 1/1981, tháng 2/1982) chứng tỏ rằng cho mãi đến năm 1982, vụ xét lại giá trị văn nghệ dưới chế độ cộng sản Việt Nam vẫn chưa ngã ngũ, nghĩa là cái nút do Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến đặt ra, giới lãnh đạo văn nghệ vẫn chưa gỡ xong.

    *


    Những cái nút ấy không thể gỡ nổi chừng nào chế độ chuyên chính cộng sản còn phủ nhận bản chất phức tạp của con người, còn muốn dùng bạo lực ép buộc cuộc đời rập theo một khuôn khổ không tưởng và phi lý. Ngay từ thời chiến tranh những năm 60, lúc chuẩn bị viết cuốn " Dấu chân người lính ", Nguyễn Minh Châu đã thấy có cái gì không ổn trong nề nếp sinh hoạt văn nghệ. Ông từng ghi vào nhật ký: " Trong cuộc chiến đấu dành lại đất nước với kẻ thù bên ngoài hai mươi năm nay, ta rèn cho dân tộc ta bao nhiêu đức tính tốt đẹp như lòng dũng cảm, sự xả thân vì sự nghiệp của Tổ Quốc. Nhưng bên cạnh đó, hai mươi năm nay ta không có thì giờ để nhìn ta một cách thật kỹ lưỡng. Phải chăng bên cạnh những đức tính tốt đẹp thì tính cơ hội, nịnh nọt, tham lam, ích kỷ, phản trắc, vụ lợi, còn được ẩn kín và đã có lúc ngấm ngầm phát triển đến mức gần như lộ liễu? Bây giờ ta phải chiến đấu cho quyền sống của từng con người, làm sao cho con người ngày một tốt đẹp. Chính cuộc chiến đấu ấy mới lâu dài ". (7)

    Một nỗi lo âu ray rứt thường xuyên ám ảnh ông, nỗi lo quyền sống đơn giản mà thiêng liêng của từng con người bị guồng máy xã hội chà đạp tàn nhẫn. Nỗi lo của người cầm bút trung thực thấy những đồng nghiệp quanh mình vì sợ hãi đã bẻ cong ngòi bút, dùng tài năng phụng sự cho giả dối, man trá.

    Sau khi những cuộc tranh luận về tự do sáng tác (do Nguyễn Minh Châu khởi xướng rồi Hoàng Ngọc Hiến quảng diễn, phát động) tạm lắng, Nguyễn Minh Châu đã phải trải qua mấy năm khủng hoảng tinh thần, không còn hứng thú viết lách gì nữa. Trong một cuộc phỏng vấn gần cuối đời (đăng trên tuần báo Văn Nghệ), ông tâm sự:

    " Vào quãng năm 1980 trở đi, hoặc nói rộng ra, từ sau 1975, chưa có hồi nào các nhà văn Việt Nam chúng ta trăn trở nhiều đến như thế (...) Đó là những năm các nhà văn nghĩ rất nhiều và băn khoăn ray rứt rất nhiều về mối quan hệ giữa văn học và đời sống thực tại đang một ngày một xa. Nhà văn lớn tuổi và có lương tâm cầm bút rất khó khăn. Tôi là người viết trong bộ đội, những năm chống Mỹ ác liệt, có lúc ở chiến trường sống bên cạnh cái chết nhưng khi ngồi viết thì thanh thản, còn về sau này nhất là vào những năm 1983, 1984, có đôi khi mình cầm bút mà cảm giác y như đứng giữa trận tiền, viết ra một cái gì đưa để in, trở về nhà ngồi nghĩ lại, lại đâm sợ cái vừa được làm ra... ".

    Chính tâm cảnh ưu uất đó đã thúc dục Nguyễn Minh Châu phải lên tiếng một lần cho thật dứt khoát, cho thật sòng phẳng với lương tâm người cầm bút.

    Tháng 10-1987, ông viết và cho đăng bài " Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa ". Đây là tiếng kèn trầm thống nhưng bình tĩnh của một người trung thực.

    Nguyễn Minh Châu viết " Ai điếu... " với một giọng tâm sự buồn bã và khiêm nhường, ông không dao to búa lớn. Ông chỉ thành thật nhìn lại, suy nghĩ về cuôrc đời cầm bút của chính mình. Ông thú nhận nỗi sợ hãi đã làm cho chính ông, và bạn bè cầm bút của ông, trở thành những kẻ hèn nhát " y như kẻ gian phi ", lúc nào cũng dáo dác nhìn trước nhìn sau y như đang " lén lút thu giấu cái gì trong cạp quần hay dưới áo ".

    Ông kể chuyện một nhà văn đàn anh (có lẽ là Nguyễn Tuân) một lần nâng chén rượu lên môi với các bạn văn nhỏ tuổi hơn: " Tao còn sống đến bây giờ là nhờ biết sợ ". Nói rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt tuôn lã chã, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng ".

    Ông lại kể chuyện một nhà thơ lớn như Xuân Diệu muốn viết hai tập " Các nhà văn cổ điển Việt Nam "" phải rào đón, dựng lên bao nhiêu là lớp phên che " rồi mới dám viết.

    Từ những mẩu chuyện xót xa đó, Nguyễn Minh Châu nghĩ rộng ra những điều phổ quát hơn. Ông cho rằng sự độc đoán và áp chế của lãnh đạo văn nghệ mà người nghệ sĩ chân chính luôn luôn bị mặc cảm phạm tội, hậu quả là: " cũng trong một con người cầm bút, có khi cái phần bất tài nhảy lên bục tao đàn để múa may, còn cái phần tài năng thì trùm chăn nằm chờ ngày xuống mồ ".

    Nguyễn Minh Châu cho rằng: " Tài năng, nhất là những thiên tài, bao giờ cũng như là của bắt được, của trời cho, ai mà biết được bao giờ thì họ đến ", " nhiệm vụ của chúng ta là chuẩn bị bầu không khí cho họ thở, cho họ sống, đừng giết chết họ, đừng ghen tị với họ, đừng làm họ thui chột trí tuệ lẫn tình cảm, đừng khiến họ cuối cùng trở thành chúng ta! ".

    Đừng khiến họ cuối cùng trở thành chúng ta! Thật là lời tự thú xót xa của một người cầm bút thấy cả đời mình trở thành vô ích, dù đã đổ ra biết bao nhiêu tài năng và tâm huyết.

    Bằng một sự dũng cảm mà Vương Trí Nhàn gọi là " sự dũng cảm rất điềm đạm ", Nguyễn Minh Châu đã dùng những lời tâm sự chân thành cuối đời ông khuyến khích các tài năng trẻ như Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Duy...

    Ông trở thành biểu tượng của một nhà văn đàn anh có lương tâm cầm bút, khác hẳn hình ảnh khép nép vâng dạ của nhiều người cầm bút khác.

    Cùng với Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Minh Châu được giới văn nghệ trẻ tuổi hiện nay ở Việt Nam kính trọng, vì cả hai đều đã dám cất lên tiếng nói của lương tâm.

    Chú Thích

    (1) Văn Nghệ vũ khí cách mạng, Sự Thật, Hà Nội 1982 trang 5.

    (2) Văn Nghệ vũ khí cách mạng, Sự Thật, Hà Nội 1982 trang 8.

    (3) Văn Nghệ vũ khí cách mạng, Sự Thật, Hà Nội 1982 trang 10.

    (4) Văn Nghệ vũ khí cách mạng, Sự Thật, Hà Nội 1982 trang 11.

    (6) Văn Nghệ vũ khí cách mạng, Sự Thật, Hà Nội 1982 trang 12.

    (7) Vương Trí Nhàn , Sự dũng cảm rất điềm đạm, Tạp chí Sông Hương, tháng 12-1989.

    Hòa Đồng Cùng Nhân Loại

    Tác giả: Nguyễn Minh Châu
    Từ trang 96 đến trang 98.

    Tôi nhớ hồi ấy ở miền Bắc, chiến tranh phá hoại của Mỹ vừa chấm dứt, tôi đang đi thực tế ở một tỉnh miền Trung bị ném bom nặng nề, theo dự định đáng lẽ tôi đã có thể trở ra Hà Nội nhưng tôi cứ phải nấn ná ở lại - vì một sự tò mò: ở đấy tỉnh ủy sắp họp để bàn sau khi chiến tranh chấm dứt có nên cho phép các xã mở lại chợ hay không - nếu không nghĩa là sẽ vĩnh viễn sống tiếp tục như những năm chiến tranh, không bao giờ còn có chợ búa!

    Ngày hôm nay nhắc lại những chuyện này nghe nó vô lý và buồn cười nhưng xin đừng quên chỉ cách đây một số năm không xa, chúng ta vẫn thường nghĩ và quan niệm cuộc sống như một anh binh nhì mà chúng ta hoàn toàn có thể nắm chắc và điều khiển bằng những nghị quyết và mệnh lệnh quân sự - như anh đã biết thừa ra đấy - ngày ấy một đồng chí tuyên huấn là thường vụ tỉnh ủy đã nói với tôi - Tỉnh này của chúng tôi trong bao nhiêu năm là tuyến lửa, mảnh đất vang dội tiếng tăm anh hùng trong khắp cả nước, mỗi người dân chúng tôi đã từng đội hàng chục tấn bom đạn, đã từng phá nhà để lót đường cho xe, pháo đi. Cái nếp sống ấy, đến đứa con nít của chúng tôi cũng đã quen sống như vậy, thế mà nay, nếu cho mở chợ tức là vô tình giáo dục cho người ta cái lối nghĩ, cái nếp sống của người " kẻ chợ ", cai tư tưởng " con buôn " ở chợ búa, nó phức tạp lắm, nó bụi bặm lắm! Rồi thì những người dân anh hùng của chúng tôi ở đây sẽ hỏng hết!

    Biết bao giờ mới xây dựng lại được những con người như trong những năm bom đạn!

    Hồi bấy giờ, tỉnh ủy phải thức thâu đêm họp đi họp lại nhiều phiên về việc có nên cho mở lại chợ hay không, trong khi đó thì cuộc sống hòa bình vừa mở ra không hề chờ đợi nghị quyết tỉnh ủy, dân trên vùng thượng du lũ lượt, kĩu kịt gánh sắn xuống biển đổi lấy cá, lấy muối. Dân làm ruộng bắt đầu tìm nơi rèn thêm lưỡi cày, dao, liềm... Đồng tiền sau nhiều năm mất biến đi nay lại xuất hiện, và những cái chợ cứ sống lại. Khắp các làng xã chợ búa cứ sống lại, cứ đông đúc mãi lên... như một lời tuyên ngôn của đời sống.

    Ngày nay đã trên mười năm sau chiến tranh, đi khắp kẻ chợ đến làng quê trên nửa đất nước miền Bắc, chợ búa, thị trấn đã nhóm họp lại tất cả, thậm chí lại có cả chợ đen chợ đỏ, chợ giời, thậm chí người ta còn phàn nàn rằng: cả nước này đi buôn, người người biến thành con buôn!

    Ngày nay, dân tôc Việt Nam như một con người sau hàng chục năm sống tách biệt với đồng loại đang chỉ vào ngực mình và tự hỏi: " Ta là ai? ", và đứng trên ngưỡng cửa quen thuộc nhà mình với hai cánh cửa lúc khép chặt lúc mở he hé, ta nhìn ra thế giới, nhìn nhân loại (cái nhân loại đa dạng, đa diện, đầy phức tạp, đầy bụi bặm), rồi lại quay lại nhìn mình...

    Chúng ta đang sống trong một cái thời những người anh hùng và các đức thánh đang phấn đấu để trở thành người bình thường giữa cõi đời.

    Thuật lại câu chuyện " chợ búa " ở trên, tôi chỉ muốn lấy đó làm cớ để nói rằng đã có một số năm tháng khá dài trong quá khứ chưa lâu, trong những nhân vật lãnh đạo và cả trong những con người bình thường đông đảo đã tồn tại không ít những " đầu óc lớn " mong muốn dân tộc này phải bao gồm những con người rắn như sắt, gang, cao cả như thần thánh, là một cái gì đứng ngoài nhân loại, trên nhân loại có một phần nào với một tinh thần kiêu ngạo và chúng ta đã từng ngờ vực, dè bỉu, chế riễu và phê phán một cách thương hại tất cả những ai trên thế giới sống khác chúng ta, khác với lối nghĩ, lối sống của Việt Nam anh hùng, từ đó có xu hướng không chấp nhận, chối bỏ bất cứ cái gì khác chúng ta.

    Trong khi Việt Nam lấy mình làm thước đo cả thế giới như vậy thì nhờ tốc độ tiến bộ kỳ diệu của khoa học kỹ thuật cuối thế kỷ 20, nhân loại đã đi những bước khổng lồ. Không nói đâu xa, ngay các nước châu Á ở ngay kề sát ta, mới cách đây ba bốn chục năm, còn ở trình độ như ta hoặc lạc hậu hơn ta, đã bỏ chúng ta rất xa về mặt phát triển và mức sống. Chúng ta đã bị bỏ lại sau, đến cái mức chúng ta đánh mất khả năng đối thoại với nhân loại và lạc lõng trước văn minh nhân loại.

    Vì thế, theo tôi nghĩ, ý nghĩ xu thế đổi mới tư duy hiện nay có phần nhằm mục đích làm sao Việt Nam có chung " ngôn ngữ " với toàn thể loài người đang sống trong thế giới hiện đại. Chúng ta không thể như một lão thầy mo đóng kín cửa để " canh tân đất nước ".

    Thực sự đây là một cuộc " trở mình " lịch sử của đất nước, hay nói khác, một lần " cắt kén " để con ngài hóa thành con bướm, để Việt Nam bay lên hòa mình cùng nhân loại, nói tiếng chung của nhân loại.

    Cuộc " thoát xác " đầy đau đớn đầy cực nhọc này liệu chúng ta có thể làm được hay chỉ làm hình thức, làm cho có vẻ, và mãi mãi Việt Nam vẫn chỉ là một con ngài nằm khoanh tròn trong chiếc kén, đầy bưng bín, để gậm nhấm đồng thời cả tinh thần tự ty và sự kiêu ngạo.

    Có vẻ dường như chúng ta vẫn chưa thoát ra cái gông cùm của hệ thống tư tưởng cũ, hệ thống quan niệm cũ đầy bảo thủ, đầy kiên định và vẫn còn đầy quyền hành, luôn luôn được nuôi dưỡng trong đất, hàng chục năm đã cắm rễ trong đất? Chẳng lẽ rồi ra mọi tư tưởng mới mẻ trên mọi lãnh vực chỉ là " trò chơi " đổi mới, không sao thực hiện chiếm lĩnh được chỗ đứng chính thống.

    Hãy biết rằng cho đến ngày hôm nay, số đông mọi tầng lớp người Việt Nam đã từng trải, đã bắt đầu nhận thức lại mình và thế giới, những đổi mới sâu rộng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa mang bên trong ý nghĩa sám hối đang đập vào mọi khối óc và trái tim người Việt Nam. Người ta chợt nhận thấy: một khi đã dám nói thực, sao mà con người trong nhân loại giống nhau thế? Những vấn đề đã xẩy ra ở các nước xã hội chủ nghĩa của các lục địa giống nhau thế?

    Ngày hôm nay, người Việt Nam đã thấy ra rằng: Đất nước yêu dấu này, cái đất nước mà mọi con người Việt Nam yêu nước phải dùng máu và nước mắt suốt ba mươi năm để gìn giữ, bảo vệ, ngày hôm nay không thể cứ tiếp tục sống tách biệt với thế giới, không thể khép mình lại. Chúng ta tin với sự lãnh đạo của Đảng đang đổi mới và nhất là với dân trí như hiện nay, khúc lịch sử dân tộc ấy nhất định không thể lập lại vào những năm cuối thế kỷ 20. Dù phải chấp nhận cả cái giá nhất định của sự mở cửa, chúng ta cũng không tìm cách sống hòa hợp, hòa đồng, cởi mở cùng nhân loại, bắt kịp nhịp đi của thời đại, để tìm con đường cơm no áo lành cho sáu chục triệu con người.

    (Trích tạp chí Văn số 2, thành phố HCM, số cuối năm 1988).


    (còn tiếp)

  29. Thanks twelve, kegiangho, phng99 thanked for this post
  30. #17
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Viết về chiến tranh
    Nguyễn Minh Châu

    Từ trang 99 đến trang 105

    Viết về hai cuộc chiến tranh, viết về chiến tranh, nhiều đồng chí cầm bút viết văn trong bộ đội đã đứng tuổi nhiều lần nói tới công việc đó như một trách nhiệm, một món nợ chưa trả được. Một món nợ chưa trả và không thể nào quên. Viết về chiến tranh... Mấy tiếng ấy không chỉ đơn thuần là chuyện một đề tài văn chương, mà còn có gì đây? Có máu thịt của mình. Kẻ còn sống và người đã chết. Có kỷ niệm, đồng đội, đồng chí mình. Có cuộc đời mình và cuộc đời dân tộc.

    Những năm tháng kháng chiến, những lo toan, những chuyến đi với một khẩu súng và một chiếc ba lô tưởng như sẽ đi mãi mãi, những con người và sự kiện vẫn còn nằm yên ngủ trong hàng trăm, ngàn trang sổ tay nhòe nước mưa và bụi đất, ta dặn ta rằng phải viết ra, phải viết ra, nhưng viết ra như thế nào đây? Hai cuộc kháng chiến dài như một đời người. Ta sống với nó trong giai đoạn mở đầu khi còn là một chàng trai vừa nhớn lên nhìn đời bằng đôi mắt mơ mộng, và trong giai đoạn kết thúc chiến tranh, ta đã trở thành một người đàn ông bốn mươi8 năm tuổi đã từng trải, đôi lúc ta tưởng như ta đã đo được hết chiều cao của tầm vóc con người và chiều sâu hun hút của lòng người, đôi lúc tưởng như cuộc sống từ nay chỉ là sự lặp lại những điều mà chúng ta đã quan sát thấy, đã chiêm nghiệm được.

    Những cái đã viết ra, ít hoặc nhiều, thể loại này thể loại khác, là những trang đã viết giữa hai trận đánh trước hết với ý thức nóng bỏng được góp phần cùng toàn dân tham gia đánh giặc. Những tác phẩm viết trong lứa tuổi 20, 30 đó, có lúc nào ngoái nhìn lại, chúng ta vừa bằng lòng với nó, vừa không bằng lòng với nó.

    Tại sao bằng lòng? Vì nó được viết ra vào lúc đó chứ không phải bây giờ. Nó có cái bồng bột, đằm thắm, nóng hổi và hăng say của bấy giờ mà một người đứng tuổi và dày dạn cuộc sống đã đánh mất. Tại sao không bằng lòng? Có nhiều duyên cớ nhưng cớ chính là từng con người chúng ta - con người cầm bút cũng như con người cuộc đời - đã già dặn hơn, đã nhìn đời bằng con mắt tinh tường hơn. Bây giờ cùng một lúc chúng ta đã đi gần đến với cả cuộc đời và văn học hơn, bởi vì cuộc đời và văn học đều có chung một tiêu điểm là con người. Hơn nữa, bây giờ chiến tranh đã kết thúc, chúng ta cùng các nhân vật của mình đã đi trọn vẹn một thời kỳ ba mươi năm ở đấy tất cả những quy luật của chiến tranh đã phát triển trọn vẹn, những số phận và tính cách nhân vật cũng đã phơi bày trọn vẹn. Nhờ đó mà người cầm bút có một cái nhìn đầy đủ hơn, không phải chỉ một năm mà trên tất cả các mặt của cuộc sống kháng chiến vô cùng quyết liệt và đa dạng như nó vốn có.

    *


    Gần đây trong một lần ngồi nói chuyện vui, các đồng chí biên tập nhà xuất bản Quân đội Nhân dân đã nêu ra với các đồng chí sáng tác một băn khoăn của mình: Rồi đây chúng ta sẽ in ra hàng chục cuốn hồi ký của các đồng chí tướng lĩnh, trong đó có rất nhiều sự kiện, nhiều bối cảnh lịch sử được kể lại một cách hết sức cụ thể. Vậy thì tiểu thuyết sẽ làm cái gì đây? Tiểu thuyết viết về chiến tranh sẽ tìm trong lãnh vực nào để cho mình có một chỗ đứng không trùng lặp với chỗ đứng của hồi ký chiến tranh?

    Điều băn khoăn hay câu hỏi trên đây cũng chỉ là một câu hỏi đặt ra trong một hoàn cảnh cụ thể của một câu hỏi chung, nhằm hỏi tình hình văn học viết về chiến tranh lâu nay: Con người hay sự kiện?

    Câu trả lời dường như không phải lựa chọn nữa: Phải viết về con người, tất nhiên con người không tách rời sự kiện chiến tranh, không phải riêng với tiểu thuyết, mà là câu trả lời chung cho các thể loại văn học. Từ bao lâu ta vẫn sáng tác theo tinh thần nguyên tắc ấy, thế nhưng dường như người đọc vẫn chưa thỏa mãn với những cái chúng ta đã viết, dường như ở trong các tác phẩm viết về chiến tranh trước đây, kể cả tiểu thuyết, nhân vật chỉ đóng vai trò làm đường dây để xâu các sự kiện lại với nhau. Nhân vật đều có hành động, suy nghĩ có khi làm mẫu mực cho mọi người noi theo, lại cón có số phận ngoắt ngoéo éo le rất thực nữa, thế nhưng tại sao nhân vật vẫn mờ nhạt, người đọc vẫn thấy các nhân vật đã bị sự kiện lấn át, như các nhà phê bình thường nói?


    Tình hình trên tất nhiên không phải do người viết chịu ảnh hưởng một khuynh hướng văn học nào đó của phương Tây nhằm bỏ vai trò con người, vai trò nhân vật, mà là do những nguyên nhân rất gần gũi: Cuộc sống chiến tranh bao giờ cũng chồng chất biến động và sự kiện mà con người bình thường không phải bao giờ cũng làm chủ được, thấy trước được. Thử nhìn vào đời từng người chúng ta, hình như được tạo nên bời vô vàn biến động và sự kiện không thể đếm xuể? Những điều mà bây giờ các nhà viết sử đang ghi chép đều có một quá trình diễn biến, từng nhân vật của chúng ta đều tham dự, đều suy nghĩ và hành động trong cái quá trình ấy, đều chịu sự tác động của nó và tích cực tác động lên nó, hết sự kiện này đến sự kiện khác.

    Các nhà văn chuyên viết về chiến tranh cầm bút trong một hoàn cảnh thật khác xa với những cái mà đôi khi chúng ta đã bắt gặp thấy trong những hoàn cảnh xã hội hàng trăm năm con người chỉ trải qua những biến đổi nhỏ nhặt. Chúng ta đã thường nói với nhau dù một trí tưởng tượng phong phú và bất ngờ đến đâu cũng không thể nghĩ ra được những gì đã xẩy đến trong chiến tranh, hoặc chỉ xét riêng một sự kiện thì cái yếu tố bất định và quyết liệt của nó đối với con người cũng rất to lớn. Chúng ta lại bước ra khỏi chiến tranh chưa được bao lâu, vì thế trước mắt, những biến động và sự kiện hiện ra như những trái núi phủ trùm lên trí tưởng tượng và óc sáng tạo của những người sáng tác. Văn học viết về chiến tranh hình như nhất định phải trải qua một giai đoạn ngắn như thế: diễn tả cái đang diễn ra sôi sục bên ngoài, rồi trước sau con người cũng leo lên trên các sự kiện để đòi " quyền sống ". Tình hình thực tế cũng đang diễn ra như vậy.

    Đến đây chúng ta có thể thấy được nguyên nhân ra đời và nguyên nhân thành công của những khuynh hướng sáng tác mô phỏng thực tế, một khuynh hướng ra đời trong kháng chiến cùng phong trào viết người thực việc thực, công việc viết truyện các anh hùng...v.v... khuynh hướng ấy đã đóng góp những tác phẩm tốt vào phong trào văn học.

    Trong vô vàn nhu cầu của đông đảo người đọc, có một nhu cầu muốn tìm hiểu các sự kiện, muốn biết rõ thêm về các sự kiện trong chiến tranh: Con người ta bao giờ cũng chỉ là một mảnh trong cái toàn thể, không phải một người đã tham gia chiến tranh thì đã hiểu được tận cái guồng máy của nó. Chúng ta đoán những hồi ký của các cán bộ cao cấp, các vị chỉ huy sẽ giúp chúng ta hiểu rõ thêm những con người và sự kiện đã từng quyết định vận mệnh đất nước. Nhân đây chúng tôi chỉ muốn phát biểu một ý kiến: Chiến tranh bao giờ cũng có hai phía nhằm tiêu diệt nhau và giành chiến thắng về phía mình. Vì thế những vị chỉ huy cao hoặc những nhà lãnh đạo chiến tranh rất tài giỏi của chúng ta trước khi đi đến một quyết định chắc chắn bao giờ cũng phải trải qua một quá trình dò tìm, có thể lúc thì thấy vấn đề thế này, lúc thế khác, quá trình dò tìm vừa của trí tuệ từng cá nhân siêu việt, vừa của cả tập thể có khi có nhận định không phù hợp với thực tế hoặc sai lầm, rồi lại trải qua những quá trình nhận định lại và điều chỉnh lại, để, trong trăm phương nghìn kế, rút ra một quyết định đúng đắn nhất. Trong hành vi của những người chỉ huy có một công việc: hạ quyết tâm. Hình như các hồi ký chiến tranh của các vị chỉ huy của ta chưa mô tả kỹ những chặng đường khúc khuỷu để đi đến hạ quyết tâm. Vì thế mà cái phần trí tuệ trong các tác phẩm ấy chưa thật rõ nét chăng?

    Con người vừa chịu sự chi phối của hoàn cảnh, vừa tìm mọi cách tác động lên nó. Quá trình vật lộn giữa con người và hoàn cảnh cũng là quá trình con người làm xuất hiện những quy luật mới của đời sống. Mỗi tác phẩm của nhà văn là một cuộc săn tìm những quy luật mới không phải bao giờ cũng xuất hiện luôn luôn, có khi lại là những quy luật rất cũ kỹ từ khi có con người và cuộc sống loài người, nhưng thêm một lần nữa được nhắc lại dưới một biểu hiện cụ thể, và mang mầu sắc hiện tại, vì thế có những nét riêng mới, cộng thêm với tài năng phô diễn độc đáo, nhà văn có thể dùng nó để tạo nên những tác phẩm đúc kết được cả một giai đoạn của đất nước và dân tộc mình. Vì lẽ đó cho nên xưa nay những tác phẩm như vậy bao giờ cũng vừa có tính riêng vừa có tính chung, nói đến chuyện dân tộc này mà khiến cho dân tộc khác phải lấy làm bài học, nói đến một người mà bao quát được số phận chung của nhiều người.

    Xưa nay những tác phẩm mang chủ đề tính quy luật của cuộc sống như vậy thường mang đến cho nhân loại một lời cảnh tỉnh, một bài học sâu sắc, do đó thúc đẩy không ngừng sự tiến bột. Không ít cuốn sách loại như vậy đã được thể hiện, trong bối cảnh cách mạng và chiến tranh, bởi vì như nhiều người đều thấy, cách mạng và chiến tranh là một thử thách khắc nghiệt nhất đối với con người. Nó có một sức lay động rất sâu xa. Cách mạng và chiến tranh là một cuộc xét duyệt trên tất cả các mặt xã hội, tâm lý, đạo đức... Trong bão tố của cách mạng và chiến tranh, con người phải phơi bày cái bản chất của mình ra nhanh chóng hơn lúc bình thường. Trong cách mạng và chiến tranh không có sự ve vuốt để yên tâm, thói lịch sự để che đậy, mội con người đều là chính mình nhất.

    Nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh của ta, các nhân vật thường khi có khuynh hướng được mô tả một chiều, thường lá quá tốt, chưa thực. Hình như tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực thì lại có thể tạm thời dấu mình trên trang sách. Vì ý thức cổ động kháng chiến một phần, một phần khác có phải do quan niệm sơ lược về nhân vật anh hùng? Cho đến ngày nay những người viết chúng ta đã tiếp thu được những kinh nghiệm về các nền văn học của các nước xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn ấu trĩ, không đến nỗi những người cầm bút vẫn còn nhìn nhận nhân vật anh hùng cách mạng như một siêu nhân, nhưng tại sao các nhân vật của họ rồi vẫn như thế?

    Chúng tôi suy nghĩ và thấy có một nguyên nhân vì: trong cả hai cuộc kháng chiến, bao giờ chúng ta cũng có một kẻ yếu phải đánh nhau với những kẻ thù mạnh, mà bắt buộc chúng bta phải thắng bằng bất cứ giá nào, vì sự sống còn của đất nước. Phải chăng những đặc điểm đó bắt buộc chúng ta tạm gác lại những sự thực đau lòng, những thất thiệt, những mặt tính cách nào của từng con người không trực tiếp tạo nên chiến thắng. Không những trong tác phẩm văn học mà trong quan hệ bình thường của cuộc sống cũng vậy, mỗi người chúng ta không những cần phải gan dạ, dũng cảm, mà còn có nhiệm vụ động viên người khác gan dạ, dũng cảm, trách nhiệm ấy không cho phép mỗi người nói đến sự sợ hãi, nỗi lo âu và tính toán cá nhân. Đó chẳng phải là một thói quen trong những năm kháng chiến? Như thế là, một khuynh hướng sơ lược về văn học đã được đẻ ra từ một thói quen của đời sống.

    Không có gì đáng lên án cái khuynh hướng văn chương ấy trong hoàn cảnh một đất nước phải huy động toàn dân, toàn diện kháng chiến. Nhưng trước nhiệm vụ xây dựng của một nền văn học làm sao có những tác phẩm xứng đáng với dân tộc và đất nước, chúng ta phải dám nhìn thẳng vào những quan niệm, những khuynh hướng văn học đẻ ra từ một đất nước hàng mấy chục năm phải nỗ lực lấy thắng lợi chính trị và quân sự làm gốc. Những quan niệm, những khuynh hướng ấy có khi đã nằm trong các sáng tác đã ra đời, có khi vẫn còn nằm trong những thị hiếu muôn màu muôn vẻ của các giới người đọc đông đảo.

    Đừng bao giờ nên coi nhẹ tầm quan trọng của thị hiếu người đọc, vì chính đó là cái nôi để cho tác phẩm thế này hoặc thế khác ra đời và sống được. Bằng những cái đã viết, những người cầm bút chúng ta đang góp phần nâng cao hay hạ thấp thị hiếu độc giả. Những người viết vừa giáo dục nó, vừa phải khuất phục nó. Thường thường những mối " nguy hiểm " gây ra cho người cầm bút cũng do từ đây, nhất là đối với các tác phẩm viết về chiến tranh.

    Mỗi tác phẩm ra đời được là kết quả của một sự " thỏa hiệp " giữa tư tưởng người viết và thị hiếu người đọc. Chúng ta thử làm một mục lục các chủ đề của những cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh đã được in và nhìn kỹ đặc điểm của các nhân vật được mô tả thì thấy những tác phẩm đã ra đời được mang dáng dấp gần với thể loại anh hùng ca. Hình như người đọc của ta bây giờ đang chấp nhận như thế? Trong dáng dấp một anh hùng ca, chúng ta đã có những tác phẩm tốt, nhưng liệu người đọc có chấp nhận và đòi hỏi những quyển tiểu thuyết về chiến tranh đặt ra những vấn đề xã hội và tâm lý? Và thái độ người viết? Bao giờ chúng ta mới thực sự có những cuốn tiểu thuyết về đề tài chiến tranh? Hãy khoan nói những chủ đề lớn vừa độc đáo vừa có tính quy luật đời sống, mà hãy nói trong điểu kiện có thể làm được: Bao giờ những cây bút đã từng lăn lộn trong chiến tranh sẽ đem lên trang giấy những điều sở đắc nhất, những bài học đường đời chỉ riêng anh mới khám phá thấy trong hoàn cảnh chiến tranh và có thể làm bài học cho nhiều hoàn cảnh khác? " Tôi nghĩ rằng những người không từng trải chiến tranh sẽ chịu khó đọc những cuốn sách viết về chiến tranh khi nào trong những cuốn sách này có những vấn đề đạo đức, tâm lý, nhân sinh không chỉ có liên quan đến chiến tranh mà chẳng qua là bộc lộ trong thời gian chiến tranh với một sức mạnh đặc biệt... Những vấn đề này không những làm sao xuyến cả thế hệ đã trải qua chiến tranh mà còn làm sao xuyến cả thế hệ chưa hề sống với chiến tranh " (Xi mô nốp).

    Chúng ta đang có một xu hướng: đã nói đến tiểu thuyết chiến tranh là không thể ngắn được, không thể một vài trăm trang được. Nhìn vào tình hình tiểu thuyết dài của ta, thú thực chúng tôi hơi phân vân hai chữ " sử thi " chỉ e ngại chồng chất đầy bối cảnh, sự kiện, nhân vật... cùng với " vốn sống thực tế " ngổn ngang chung quanh những chủ đề bình thường mà các tác phẩm ra đời trước đã đề cập đến. Có xu hướng thiên về tầm cỡ, viết dài hiện nay một phần cũng do thị hiếu người đọc. Một số nhà xuất bản nói rằng nhiều người đọc bây giờ chỉ ưa tiểu thuyết, và loại dăm trăm trang trở lên mới bõ đọc!

    Đời sống chiến tranh bao giờ cũng động, có nhiều yếu tố tác động lẫn nhau rất sâu xa trên một bối cảnh lớn, có lẽ vì vậy mà các tiểu thuyết chiến tranh cần bao quát nhiều khu vực không gian và có nhiều nhân vật, nhưng chắc chắn điều đó không phải là sự khái quát đời sống, mà ngược lại, nếu các bối cảnh và nhân vật không được quy tụ trong những chủ đề đã được quy định thì chính đó lại là sự tản mạn và kéo dài vô lối. Có tình trạng truyện pha lẫn ký sự cũng là vậy. Tiểu thuyết cũng như kịch, tuy mức độ không khe khắt bằng nhưng cũng cần yếu tố chặt chẽ và chừng mực của nó.

    *


    Không biết từ ngàn năm xưa hay bao giờ, người Việt Nam mình mang một quan niệm đã phàm cái gì đem chép vào sách vở thì không thể dung tục như đời sống bình thường hàng ngày được mà phải là những điều tốt đẹp, tinh khiết. Đồng bào mình bây giờ thấy anh nhà văn nhà báo tả mình như thực thì không ưng. Lên ti vi, lên phim, dù đang lao động cũng phải ăn mặc đẹp, mặt mũi cũng phải sạch sẽ, sáng sủa, tươi cười. Lại còn quan niệm: Đánh giặc giữ nước là một công việc cao cả. Chuyện những người anh hùng xả thân vì nước xưa nay được coi như chuyện các vị thần thánh với biết bao câu nói hay, việc làm tiêu biểu mà sử sách còn chép lại.

    Có biết bao điều thầm kín trong những suy nghĩ, mơ ước, từ lâu đời. Cũng như người chụp ảnh. Ai mà chẳng có cái mặt thực của mình, vậy mà mỗi lần chụp ảnh người ta đều chờ đợi, mong được thấy cái khuôn mặt được sao chép lên giấy đẹp hơn, trẻ hơn!

    Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại, mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước. Có lẽ nhân loại ít có một dân tộc nào mà lúc nào cũng canh cánh ước mơ như chúng ta. Những người cầm bút chúng ta vô cùng cảm thông với dân tộc mình, nhưng chẳng lẽ chúng ta có thể làm yên tâm mọi người bằng cách mô tả cái hiện thực ước mơ?

    Những điều trên chỉ cho thấy: trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực đôi khi chúng ta phải khai chiến cả với những quan niệm tốt đẹp và lâu dài của chính mình.

    Từ ngày hòa bình, những nhà văn thường viết về chiến tranh đều mong muốn và tìm cách nâng cao ngòi bút của mình. Xu hướng chung là ý muốn nâng cao chất lượng sáng tác và tạo ra một nội dung gần với đời sống hơn. Đấy cũng chính là một đòi hỏi của người đọc, nhất là những người đã lăn lộn trong chiến tranh. Trước nhiệm vụ phấn đấu để có những tiểu thuyết về chiến tranh, chúng ta phải nhìn đến một số thói quen của đời sống đã in dấu trong thị hiếu người đọc. Có lẽ còn phải một thời gian lâu nữa chúng ta mới chiến thắng được những thói quen ấy, không phải chỉ trong người đọc, mà cả trong chính ta, những người cầm bút nữa.

    Chúng ta có thể căn cứ vào đấy, một phần để làm sự dự đoán tình hình sáng tác đề tài chiến tranh trong những năm sau này được không? Và cũng căn cứ vào đấy để thấy được cần nỗ lực theo phương nhướng nào để tạo điều kiện ra đời những cuốn sách về chiến tranh có giá trị lột tả được những vấn đề bản chất nhất của đời sống dân tộc ta, soi rọi cho con đường đi của dân tộc và từng con người trong tương lai, góp phần vào việc chiến đấu bảo vệ tồ quốc và thúc đẩy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.


    (Trích tạp chí Văn Nghệ Quân Đội - Hà Nội tháng 11 năm 1978).


    (còn tiếp)

  31. Thanks twelve, kegiangho, phng99 thanked for this post
  32. #18
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Nhớ anh Châu

    Tác giả: Phạm Tiến Duật


    Cách đây hơn hai mươi năm, hình như lá vào mùa hè của năm 1967, tôi và Đỗ Chu có hẹn với anh Nguyễn Minh Châu sẽ đến tiễn anh trong một chuyến anh vào khu Bốn. Ngoài việc tiễn nhau, tôi còn gởi anh một người bạn quá giang về thành phố Vinh. Cho đến lúc xe chạy, Đỗ Chu đã không đến được. Mặc dầu nổi tiếng sớm hơn cả Nguyễn Minh Châu nhưng tới lúc đó Đỗ Chu vẫn lêu têu một anh lính của các trận địa cao xạ. Nguyễn Minh Châu cười to, bảo cô bạn Lê Hoàng Liên của tôi: Đấy, o thấy không việc đời có khi nào định trước được đâu. Cái ông Nguyễn Du nói chả câu nào bỏ đi " kể chi những chuyện dọc đường ". Vâng quả đúng là thế, việc đời làm sao mà biết trước! Giờ này, cô bạn thuở nào của tôi không biết giờ ở đâu có biết anh Châu đã ra đi, đã ra đi mãi mãi! Tôi nhớ mãi đôi mắt Nguyễn Minh Châu khi đó, đôi mắt lúc bình thường thì hiền hậu đến mức dù đờ nhưng luôn ẩn dấu một nụ cười, một ánh sáng khám phá sắc sảo. Lúc ấy ánh sáng ở mắt anh bừng sáng khác thường. Anh phát hiện ra một điều gì đấy mà tự anh diễn đạt bằng miệng ngay không được.

    Nguyễn Minh Châu là người hướng nội. Anh không phải là người sinh ra để ứng đáp, để đối thoại. Một người nào đó trêu tức anh thì phải đến ngày hôm sau, khi hết giận anh mới nghĩ ra câu cần phải trả lời. Cũng bởi thế, đang đêm tự dưng thấy Nguyễn Minh Châu cười khà khà thật to, mọi người biết rằng anh vừa nghĩ ra được điều gì đó có thể đã nung nấu từ mấy ngày trước. Và cũng bới thế, những câu nói hàng ngày của anh thường có nhiều mầu sắc lập ngôn dễ nhớ. Cũng như nhiều nhà văn khác, đã từ lâu rồi chứ không phải là bây giờ đã đặt những yêu cầu rất cao đối với văn học. Nguyễn Minh Châu đã chế riễu sự áp đặt, chế riễu sự sơ lược. Ngay từ những năm khói lửa mịt mù ấy, anh đã nói: " Lũ nhà văn chúng ta không khéo thì thành một lũ rôbinê. Một lũ vòi nước, cái to cái bé, cái thông cái tắc thi nhau chảy, nhưng kỳ thực chỉ là một thứ nước. Trong cái satôđô kia có cái gì thì ta chảy ra thứ đó ".

    Anh cũng chống lại sự giả đối trong văn học bằng lối nói vui như thế: " Anh em ơi, văn chương ta như đánh thành Quảng Trị. Đoạn một ta chiếm thành, đoạn hai địch chiếm lại. Viết xong đoạn một ta lờ đoạn hai đi! ". Từ những chi tiết nhỏ nhặt anh luôn nung đốt thành những khái quát. Đi với nhau một đoạn đường chiến tranh ở Quảng Bình, nhìn qua cửa xe Commăngca, anh cười bảo: " Các cậu ạ, tớ để ý nhiều nơi rồi, nước mình đúng là nước của nhà binh. Kìa, cái coóc-xê của phụ nữ cũng may bằng vải quân phục ". Có lẽ những cái truyện ngắn, những cái tiểu thuyết của anh cũng đã dần dà hình thành như thế, từ cái tích tứ sắc sảo đầy trăn trở.

    Giờ này, trong lúc nhớ thương anh còn đang trào lên trong lòng tôi, trong lòng anh, trong lòng bạn đọc cả nước, khó có thể nói câu gì thật chính xác, thật trọn vẹn về người mới ra đi. Sẽ còn rất nhiều năm tháng để bàn bạc, đánh giá. Đời này nói chưa phải thì con cái sau này nói lại. Nguyễn Minh Châu không phải là một " hiện tượng một lúc " như các vị " anh hùng tương ngộ " bốc đồng. Nguyễn Minh Châu là một nhà văn có vị trí trong văn học sử. Nhưng có thể là thế này chăng: Nguyễn Minh Châu, ngoài vị trí là một nhà văn quân đội anh là nhà văn của những nhà nghèo ở chặng đường nông thôn trong cuộc biến cải lần thứ hai. Lần thứ nhất, nông thôn Việt Nam bị những cơn sóng thành thị xô đẩy dữ dội là những năm 20 - 30. Nhà thơ Nguyễn Bính là người điển hình nhất cho việc bộc lộ loại tâm trạng này. Ở chặng đường thứ hai, sau những năm chiến tranh dữ dội cùng với việc thành thị hóa trong tâm lý, một mảng nông thôn Việt Nam chạy ra phố xá và đập mạnh vào Nguyễn Minh Châu. " Khi nông thôn bị phá vỡ để biến thành thành thị, từng bầy người chạy ra thành phố và tương đồng với thời kỳ này là một thời kỳ xã hội bị lưu manh hóa " câu nói ấy là của Các Mác tôi trích theo trí nhớ, cố nhiên là câu nói về xã hội tư bản thế kỷ 19. Về một phía nào đó, sự lưu manh hóa nào đó trong một khu vực nào đó trong xã hội đã làm Nguyễn Minh Châu trăn trở không yên. Anh nói trong một cuộc họp: " Bây giờ người ta hay nói đến những cái tính, tính này, tính khác, nhưng con người và văn học còn cần một cái tính nữa là tính biết xấu hổ ". Đó là toàn bộ truyện ngắn và mấy cái tiểu thuyết anh viết sau năm 1975 đã tập trung lý giải điều trăn trở ấy.

    Trên giường bệnh anh vẫn viết, vẫn nói cho người ta chép. Có câu phải, câu chưa phải. Trong các bài lý thuyết của anh trước đó cũng vậy, có câu phải có câu chưa phải. Nhưng anh nói câu nào cũng tâm huyết, câu nào cũng xuất phát từ mong muốn của cả cuộc đời anh: làm sao cho con người sống tốt đẹp hơn.

    28 - 1 - 1989

    Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió

    Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến

    Trong lĩnh vực văn nghệ, dầu đổi mới thế nào, đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không thể ra ngoài " quy luật cái đẹp ", ra ngoài " sự thật " và " nhân bản " là những luật cơ bản, vĩnh cửu của văn học nghệ thuật. Chân, my, thiện đã trở thành những giá trị truyền thống. Trong văn học, " thiện " trước hết là nhân bản. Từ ngàn xưa dòng sông văn học tuôn chảy giữa hai bờ " chân ", " mỹ ", bao giờ cũng đổ ra biển cả nhân bản. Không thể khác được. Bằng không nước sẽ quẩn quanh, đọng thành những vũng ao tù. Đành rằng ao tù cũng có thi ca và thi sĩ của nó:

    Ta về ta tắm ao ta...

    Dẫu là kể chuyện cổ tích, Nguyễn Huy Thiệp trước sau viết về cuộc sống ngày hôm nay. Và tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật của đời sống hiện tại. Tác giả đã không ngần ngại nêu lên những sự bê tha, nhếch nhác trong cuộc sống, kể cả những sự thật rùng rợn, khủng khiếp. Có những sự việc rùng rợn vì quái đản. Chẳng hạn, trong truyện Chảy đi, sông ơi, trùm Thịnh đốt quán rượu và " khi lửa bốc cao thì ở trong quán có một con chuột to bằng bắp chân người phóng thẳng ra ngoài cứ cười hềnh hệch... ". Trong tập truyện của Nguyễn Huy Thiệp, rùng rợn hơn cả vẫn là những sự việc hết sức bình thường nhưng bộc lộ sự đốn mạt, sự hèn kém của con người, giữa mọi sự nhố nhăng, sắn xít lòi ra cái tâm lý vụ lợi, vụ lợi một cách khinh bạc, trắng trợn một cách muối mặt, tán tận lương tâm, tâm lý này đang trở thành một nếp ăn sâu trong não trạng, tâm thuật của con người hiện đại, có cơ sở trở thành một nét chủ đạo trong nhân cách của nó. Đó là tâm lý của ông Bổng lo đám tang cho chị vẫn lạnh lùng tính toán: " Mất mẹ bộ sa lông. Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ! Bao giờ bốc mộ, cho chú bộ ván " (Tướng về hưu). Đó là tâm lý của Đoài và Khảm, hai nhân vật anh và em trong truyện Không có vua. Sau đây là một đoạn đối thoại hai anh em mặc cả với nhau xung quanh một dịch vụ mối lái.

    "... Khảm bảo: " Hai anh em mình mang tiếng có học mà Tết nhất đến một bộ quần áo hẳn hoi không có ". Đoài bảo: " Chỉ có con đường lấy vợ giầu thôi. Tối nay mày đưa tao đến con ông Ánh sáng ban ngày đấy nhé ". Khảm bảo: " Được thôi. Nếu anh tán được, thưởng em cái gì? ". Đoài bảo: " Thưởng cái đồng hồ ". Khảm bảo: " Được rồi. Anh ghi cho em mấy chữ làm bằng ". Đoài hỏi: " Không tin tao à? ". Khảm bảo: " Không ". Đoài ghi vào giấy " Ngủ được với Mỹ Trinh, thưởng một đồng hồ trị giá ba nghìn đồng. Lấy Mỹ Trinh thưởng năm phần trăm của hồi môn. Ngày... tháng... năm... Nguyễn Sĩ Đoài ". Khảm cất tờ giấy vào túi rồi nói: " Cám ơn ".

    Tâm lý vụ lợi thế tất dẫn đến quan hệ " tiền trao cháo múc " mà Mác đã từng nêu lên trong Tuyên ngôn Cộng sản.

    Trong truyện Huyền thoại phố phường, cảnh Hạnh mò cống tìm nhẫn thật là thảm. Để tranh thủ sự tin cậy của gia đình người đánh rơi chiếc nhẫn mà Hạnh toan lợi dụng, y " xắn tay áo rồi đưa tay mò dọc theo cái rãnh đầy bùn, lõng bõng nước bẩn, thậm chí còn có cả cục phân người ". Ở nhân vật này, trục lợi đã trở thành một cương lĩnh sống.

    Muốn cải tổ xã hội phải cải tổ tâm lý con người. Nguyễn Huy Thiệp đã đề cập đến một vấn đề quan trọng của tâm lý con người thời kỳ quá độ. Thời kỳ lịch sử trước đây là thời thịnh trị của chế độ bao cấp, và nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh con người có thể sống hoàn toàn bằng tình nghĩa, không cần so đo tính toán. Chúng ta đang chuyển sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của sự hạch toán. Chỉ tình nghĩa không chưa đủ , con người ngày nhôm nay đòi hỏi sự sòng phẳng, sự tính toán phân minh. Đương nhiên, hạch toán là năng suất, là văn minh, là tiến bộ. Tuy nhiên, có nguy cơ tư duy hạch toán trong kinh tế sẽ len lỏi vào ngự trị trong mọi lĩnh vực đời sống tinh thần con người. Cuộc sống thực là khủng khiếp nếu như trong quan hệ giữa người và người chỉ còn lại quan hệ " tiền trao cháo múc " và tính toán vụ lợi. Nếu như tinh thần thực dụng rất cần cho chế độ hạch toán lại biến chất thành chủ nghĩa thực dụng nhận chìm trong sự tính toán lạnh lùng mọi tình cảm vô tư và chân thật của con người. Về mặt này, tập truyện của Nguyễn Huy Thiệp có ý nghĩa cảnh tỉnh sâu xa.

    Có một thời văn học của ta nặng về ca ngợi, biểu dương những phẩm chất tốt đẹp những con người thuộc về khối cộng đồng vẫn được gọi là nhân dân ta, dân tộc ta, xã hội ta... Đã thuộc về khối cộng đồng này thì chỉ có thể có những điểm hay điều tốt, những nét xấu và dở nếu có chăng chỉ là ngẫu nhiên và nhất thời. Đối lập với cộng đồng " ta " này là thế giới của địch. Đây là thế giới của ác quỷ, trong bản chất là ác quỷ, không thể có chút gì là tốt lành. Đó là thế giới của đế quốc, việt gian, của phong kiến, tư sản... và tất cả những ai bị xem là chống đối với " ta " đều bị sắp vào thế giới này. Điều oái oăm là có khi chỉ cần đưa ra ý kiến khác với lãnh đạo hoặc lỡ lời cãi lại " lãnh đạo ", thế cũng đủ bị quy là " chống đối ". Cả những người có phẩm giá thực sự quan tâm đến đất nước và thời cuộc - hễ trong cuộc tìm tòi chân lý của họ bị nghi là có hơi hướng của " chủ nghĩa xét lại " thì lập tức bị xem như là ác quỷ. Cách nhìn cuộc sống xã hội bửa đôi thành hai thế giới đối lập với nhau một cách siêu hình như vậy - đó là cách nhìn " sử thi ". Thời kỳ văn học trước đây, ở những nhà văn có tài, - mà sự độc đáo tài năng của họ lại ở chính ngay trong sự chất phác, sự ấu trĩ của cách nhìn " sử thi " - thì cảm hứng ca ngơi " nhân dân ta, đất nước ta " đã tạo những áng văn, những trang sách hay. Cách nhìn " sử thi " xét đến cùng không phải là một sự biến lệch (perversion) trong cách nhìn. Đây là nét độc đáo trong cách cảm nghĩ phổ biến một thời. Và đến khi trước mắt mọi người hiện thực cuộc sống của nhân dân bày ra với tất cả những mâu thuẫn cực kỳ phức tạp, có ánh sáng, có cả bóng tối và trong bóng tối có đủ thứ tà ngụy, ma quái, khi ấy trong những nhà văn nói trên - những người không viết được nữa hoặc viết gượng gạo là những người quá quen với cách nhìn " sử thi ", với giọng điệu một mực ca ngợi, không sao chuyển đổi được. Nguyễn Huy Thiệp thuộc thế hệ không mảy may bị vướng mắc cách nhìn " sử thi ". Trong tập truyện của anh, những nhân vật nhếch nhác, đốn mạt hầu hết cũng là nhân vật lao động ta thôi. Họ là ngu dân, là công nhân, là giáo viên, là cán bộ nhà nước, là thợ thủ công... rõ ràng họ không phải là " địch ", mà cũng chẳng liên quan gì với " địch ". Nhà văn có thể biểu thị thái độ của mình đối với nhân dân bằng cách lên tiếng bảo vệ nhân dân, ca ngợi và cổ vũ nhân dân. Nguyễn Huy Thiệp thẳng thắn nêu lên những sự bê tha, hèn kém ở những con người thuộc về những tầng lớp nhân dân khác nhau, nêu lên để quốc dân thấy rõ hơn thực trạng của phong hóa xã hội, hiểu rõ hơn nhân tình và thế thái hiện nay. Và đó cũng là một cách biểu hiện thái độ nghiêm chỉnh đối với nhân dân. Tác giả bàn thẳng về nhân dân chứ không thông qua mối quan hệ giữa " lãnh đạo " và nhân dân. Ngòi bút của tác giả đặc biệt sắc xảo - có khi đến mức tàn nhẫn - trong việc bộc lộ sự đốn mạt, sự thấp kém của nhân vật qua hành vi, cảm nghĩ và ngôn ngữ của nó. Có một thứ văn chương suy đồi chuyên phơi bày những sự xấu xa của con người. Suy đồi không phải vì nói những điều xấu xa, nó ở thái độ dửng dưng, buông xuôi của nhà văn trước những điều ấy, phơi bày cái xấu, cái ác đồng thời bộc lộ sự bất lực trước cái xấu, cái ác.

    Nói về những sự đốn mạt, hèn kém của con người, câu văn của Nguyễn Huy Thiệp thường man mác cảm giác tê tái. Đằng sau cảm giác này là nỗi đau nhân tính. Một nỗi đau âm thầm, lặng lẽ nhưng sâu sắc. Đau thương là quyền lớn nhất của nhà văn để viết về những sự việc tiêu cực. Thực sự đau lòng, nhà văn có quyền viết về mọi sự thật trong xã hội ta, kể cả những sự thật khủng khiếp nhất. Phơi bày sự thật để làm gì? Trả lời câu hỏi này có khi còn quan trọng hơn bản thân việc phơi bày sự thật. Những người không biết đau sẽ rất lúng túng phải trả lời câu hỏi này. Nhà văn mang nỗi đau trong lòng khỏi phải trả lời. Nguyễn Du đã có sẵn một câu thơ về vấn đề này: " Những điều trông thấy mà đau đớn lòng ".

    Chủ nghĩa hiện thực không chỉ là phản ảnh trung thực " những điều trông thấy ", chủ nghĩa hiện thực còn là sự " đau đớn lòng " trước " những điều trông thấy " đau lòng. Ở những nhà văn hiện thực lớn, mọi sự việc " tiêu cực " trên đời đều trở thành những sự thật " đau lòng ".

    Ngòi bút trào phúng của Nguyễn Huy Thiệp vừa tàn nhẫn, vừa xót xa. Tàn nhẫn có nghĩa là " không được thương con người ". Đấy là mệnh lệnh của lương tâm và tác giả đã đi đến cùng, phơi bày sự đốn mạt của con người. Nhưng cuối cùng thì vẫn cứ xót xa, " không thể không thương con người ". Ngay ở những nhân vật đốn mạt, Nguyễn Huy Thiệp không tuyệt vọng ở họ. Ông Bổng trong Tướng về hưu, con người lỗ mãng, táo tợn, làm đủ mọi điều phi nhân bất nghĩa, tác giả vẫn dành cho ông lời thông cảm: " ... Lão ấy tốt nhưng nghèo ", vẫn nhìn nhận cho ông tình cảm hồn nhiên rung động trước cảnh thiên nhiên đẹp (đoạn XIV), và con người tưởng như vô liêm sỉ này hóa ra cũng có lúc biết nhục. Khi người chị hấp hối bị lẫn không gọi được tên ông, chỉ nói được ông " là người " thì ông òa khóc lên: " Thế là chị thương em nhất. Cả làng cả họ gọi em là đồ chó. Vợ em gọi em là đồ đểu. ***** Tuân gọi em là đồ khốn nạn, chỉ có chị gọi em là người ". Đây là một trong những đoạn văn cảm động nhất của tập truyện.

    Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của những con người bị sỉ nhục. Trong đám này, có kẻ trở nên lì lợm, trắng trợn, hung hãn (như Hạnh trong Huyền thoại phố phường) và có những con người dẫu sao còn biết nhục - đây là phần nhân tính còn lại mà sự trân trọng của tác giả là biểu hiện của lòng nhân ái, của một tinh thần tiết kiệm nhân tính cao.

    Trừ nhân vật thiếu tướng họ Nguyễn, nhân vật xưng " tôi " và vài ba nhân vật khác, những người đàn ông trong tập truyện của Nguyễn Huy Thiệp hầu hết là đốn mạt, chí ít là những kẻ bất đắc chí, vô tích sự, nói chung là không ra gì. Ngược lại, trong các nhân vật nữ, có những con người ưu tú, nhiều người đáng gọi là liệt nữ. Nó là sự hiện thân của nguyên tắc tư tưởng tạo ra cảm hứng chủ đạo của tác giả, có thể gọi đó là nguyên tắc tính nữ hoặc thiên tính nữ. Đó là nàng Bua, nàng Sinh, là chị Thắm và con gái thủy thần, là Xuân Hương và bé Thu, là chị Sinh và người thiếu phụ chèo đò về bến Tầm Xuân... Thiên tính nữ trước hết là tinh thần của cái đẹp và tất cả những nhân vật nữ này đều đẹp, mỗi người một vẻ. Nàng Bua là một " thiếu phụ duyên dáng ", " lúc nào cũng tươi cười, tràn trề thứ ánh sáng cuốn hút lòng người ". Con gái thủy thần đẹp một cách kinh dị. Bé Thu có " đôi tai hồng, đôi mắt đen nhánh ". Người thiếu phụ chèo đò về bến Tầm Xuân đẹp với những cử chỉ " nữ tính giản dị ". Chị Sinh trang điểm vào trông như hoàng hậu, một số phận như chị Thắm khó mà có nhan sắc và tác giả đã lấy tấm khăn bịt mặt chị, chỉ còn thấy " đôi mắt to và đen "... Đẹp là một phẩm giá tinh thần cao quý của phụ nữ. Đó là tấm lòng " bao dung và hào phóng với tất cả mọi người " (Nàng Bua). Đó là thiên tính làm mẹ, tình cảm hồn nhiên muốn che chở, đùm bọc, cứu giúp (Tâm hồn mẹ). Đó là sự đau khổ với những giọt nước mắt trong lành và mầu nhiệm (Nàng Sinh). Đó là tấm lòng bao la sẵn sàng thông cảm với mọi người, kể cả những con người ác độc. Trong truyện Chảy đi, sông ơi, khi cậu bé trách " bọn đánh cá đêm ác ", nghe thấy em kêu cứu mà cứ lờ đi, chị Thắm nói với em: " Đừng trách họ thế... Có ai thương yêu họ đâu... Họ đói và ngu muội lắm... ". Chị Thắm không biết nói bóng bẩy sâu xa như trong Kinh Thánh nhưng cùng một lòng nhân ái Thục Trinh hồn hậu.

    Thiên tính nữ còn là tinh thần vị tha và đức tính hy sinh. Những người phụ nữ đẹp trong tập truyện của Nguyễn Huy Thiệp dường như sinh ra để cho và cứu giúp những người xung quanh. Nàng Bua " nồng nàn " với tất cả những người đàn ông đến với nàng và sau ai cũng được nàng tặng quà. " Trong những hoàn cảnh khắc nghiệt " bao giờ bé Thu cũng " tìm ra được một cái gì ". Cho người bạn mình đùm bọc. Lúc có người bị nạn, con gái thủy thần thường hiện lên cứu giúp. Chị Thắm đã cứu không biết bao người bị chết đuối. Bé Thu chịu tai nạn thảm khốc để cứu bạn mình, hành động của em hầu như bản năng, tuyệt nhiên không có sự tính toán.

    Thiên tính nữ cũng phong phú và bao la như tâm hồn phụ nữ. Ở nhân vật chị Sinh, thiên tính nữ còn là hiện thân của sức sống thần phục, sức sống này còn lớn hơn nhân loại, lễ giáo của bao thời đại đã bị sức sống này đánh bạt trong bữa tiệc mừng chị Sinh đẻ con gái, trước sắc đẹp lộng lẫy của chị Sinh, trước niềm vui đứa trẻ ra đời, ai nghĩ đến tội lỗi mà làm gì. Ở nhân vật Xuân Hương thiên tính nữ là hiện thân của những gì quá cao quá lớn, tác giả không sao diễn đạt được bèn gọi là CON NGƯỜI (con người viết hoa).

    Thiên tính nữ tỏa một ánh sáng dịu dàng, huyền diệu trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp. Tâm hồn người đọc không khỏi trĩu nặng trước bao sự tàn bạo, thô bỉ, quái ác, hèn kém phơi bày ra trong tác phẩm được tắm trong ánh sáng này sẽ trở nên nhẹ nhõm, thanh cao. Trong truyện Không có vua, ánh sáng tỏa ra từ nhân vật chị Sinh, sự hiện thân hết sức trần gian của thiên tính nữ. Đọc truyện này ai mà chẳng ngán ngẩm trước những vụ bê tha, nhếch nhác trong gia đình ông Kiền, nhưng đến cuối truyện, nghe Sinh nói cảm tưởng về cảnh ngộ gia đình này: " Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua xót. " Nhưng thương lắm ", ta tin ngay cuộc đời này có thể cải tổ được, sự tình này, dẫu có tồi tệ hơn nữa, vẫn có thể cứu vãn được. Khổ. Nhục. Đau. Xót. Đó là những ấn tượng trực tiếp về cuộc đời thực tại. " Nhưng thương lắm ". Đó là sự siêu thăng trong tâm linh con người. " Nhưng thương lắm ". Với tình cảm này, mọi người đều cảm thấy mình có tội với cuộc đời này. Và mọi người đều thấy có thể hợp quần với nhau để làm lại cuộc đời. Điều đáng lo ngại cho " trạng thái nhân thế " hiện nay ở đâu cũng kêu khổ, những người cảm thấy " nhục " ít hơn, những người biết " đau xót càng ít hơn nữa và những người biết kêu lên như Sinh: " nhưng thương lắm " thì quá ít ỏi. Văn chương chưa đạt tới sự siêu thăng thì còn tẻ nhạt. Vả chăng văn chương phải tác động tới sự siêu thăng của tinh thần con người. Sinh đã hóa thân tahn2h một Đức Mẹ hiện đại ngay trong địa ngục nhà chồng, ai " bảo văn chương " không làm được những phép mầu.

    Ai đó đã từng hy vọng: " Cái đẹp sẽ cứu vãn thế giới ". Đọc Nguyễn Huy Thiệp thì tin rằng thiên tính nữ sẽ cứu vãn thế giới.

    Thiên tính nữ lớn hơn nhân loại, có khi còn cổ xưa hơn nhân loại. Chí ít đây là niềm tin của tác giả. Tác giả đã miêu tả hết sức sinh động một con khỉ cái " tận tụy, thủy chung ", " cuồng nhiệt hy sinh ", hoàn toàn tin ở điều mình viết (xem Muối của rừng). Tư duy thơ của Nguyễn Huy Thiệp - có khi còn mạnh hơn óc tưởng tượng triết học của Phơ-rớt (Freud) đã biến thiên tính nữ thành một sức mạnh diệu kỳ: Với sức mạnh này, đá cũng phải tan thành nước (Nàng Sinh) và bé Thu chấp chới bay lượn như không.

    Để viết chân thật về cuộc đời thực tại với toàn bộ những mâu thuẫn phức tạp của nó Nguyễn Huy Thiệp đi tìm điểm tựa tinh thần. Thiên tính nữ là một điểm tựa quan trọng của tác giả. Thiếu một điểm tựa như vậy, văn chương viết về những sự xấu xa của con người sẽ trở thành một thứ văn chương vô lại mà mục tiêu cao nhất là lột truồng con người ra phơi bày toàn bộ những sự đớn hèn của nó. Xã hội ngày nay ngày càng nhiều những kẻ vô lại nói rất giỏi, rất hay về những sự thấp kém, xấu xa của con người trong khi chính mình chẳng có một điểm tựa tinh thần nào.

    Văn của Nguyễn Huy Thiệp có chiều sâu. Ở truyện thứ ba Chút thoáng Xuân Hương, một chàng trẻ tuổi làm một cử chỉ sàm sỡ với một thiếu phụ và trước sự phản ứng của chị, anh ta " đỏ mặt " và xin lỗi. Đến lúc người thiếu phụ nói với anh: " Thôi đi... Đàn ông các anh ai mà chẳng thế! Anh giúp tôi mấy bao ngô rồi đòi trả ơn... Đàn ông các anh là thế hết ". Thì anh ta " thấy cổ mình đắng ngắt ", một nỗi tê tái lan truyền ở toàn cơ thể.

    Thường ngày, có những hành vi ngẫm lại ta chỉ " đỏ mặt ", đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp thì cảm thấy " đắng ngắt ", " tê tái ". Văn của Nguyễn Huy Thiệp cũng như lời nói của người thiếu phụ nhẹ nhàng nhưng chưa thấm thía.

    Nguyễn Huy Thiệp là một tác giả trẻ. Một nhà văn trẻ lên đường. Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió. Mong bạn được thử thách trong dông tố của công luận. Qua thử thách, bạn sẽ trưởng thành, sẽ tin hơn ở bản thân mình và con đường mình đi, sẽ tin bạn bè và đồng chí hơn, càng tin tưởng hơn ở tương lai của văn học dân tộc. Bạn có thể không tin những nhà phê bình, bạn hãy tin ở công chúng độc giả bao giờ cũng độ lượng và công bằng. Đất nước ta đang thức tỉnh và chuyển mình. Công chúng, văn học đương chờ đợi ở bạn và các nhà văn trẻ những tác phẩm chân thật và nhân bản, những tác phẩm sang trọng cả về tư tưởng và nghệ thuật.
    (Trích Nguyễn Huy Thiệp, Tác Phẩm và Dư Luận, nhà xuất bản Trẻ, tp HCM).


    (còn tiếp)

  33. Thanks twelve, kegiangho, phng99 thanked for this post
  34. #19
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Phê bình cần có văn

    Phỏng vấn Hoàng Ngọc Hiến

    (Từ trang 115 đến trang 116)

    Nhân hội thảo quốc gia về Stendhal tổ chức tại Huế, kỷ niệm 200 năm cách mạng Pháp (1789-1989), phóng viên Tạp ch1i Sông Hương có dịp gặp anh Hoàng Ngọc Hiến phỏng vấn " chớp nhoáng " trước thềm Đại Hội Nhà văn những điều Sông Hương muốn biết cũng là điều anh Hiến đã bày tỏ với một tạp chí bạn. Nay giới thiệu cùng bạn đọc Sông Hương.

    PV: Ý kiến của anh về tình hình văn nghệ hiện nay?

    - Hiện nay có nhiều người tỏ ý lo ngại về những sự lệch lạc trong văn nghệ. Có đồng chí đưa ra như một định đề: " Lệch thì sẽ lạc ". Định đề này chỉ đúng một nửa. Trong văn nghệ cũng như trong lĩnh vực khác của đời sống tinh thần, có khi " lệch mà không lạc " . Chẳng hạn, " Thơ không vần ", " Cửa mở "... là " Lệch mà không lạc ". Trong văn học xã hội chủ nghĩa ở nước ta và những nước khác có vô số hiện tượng như vậy. Không có những sự " lệch mà không lạc " thì không thể có sự phát triển, sự tiến bộ. Sở dĩ có sự trì trệ là vì quá sợ " lệch lạc ", không dám đi tìm lối thoát ở những sự " lệch mà không lạc ". Người viết không được lạc nhưng có quyền lệch. Không có quyền này không có sáng tạo.

    PV: Trong Đại hội tới, anh muốn nêu lên những vấn đề gì về lý luận phê bình?

    - Điều bấy lâu nay tôi băn khoăn là Ban lý luận phê bình của hội. Hội nhà văn, theo ý tôi, chỉ nên có Ban phê bình. Phê bình xứng đáng là văn học phải có văn cũng như người viết phê bình xứng đáng là nhà văn trước hết viết phải có văn. Với cơ cấu " lý luận phê bình " thì có những người giỏi lý luận, có trình độ nghiên cứu nhưng không có văn vẫn trở thành hội viên. Trong 36 nhà văn lý luận phê bình, không biết bao nhiêu người có văn? Tôi đề nghị thành lập Hội lý luận phê bình và chỉ những người nào thực sự có văn mới ở trong Hội nhà văn. Bộ phận không có văn cũng giống như những người không biết hát đứng trong dàn đồng ca. Rất tiếc là trong dàn đồng ca hội ta, số người không biết hát hơi nhiều, đây là một sự đau khổ mà chắc chắn Đại hội này không thể giải quyết được.

    Viết phê bình rất khó. Bản thân tôi viết lý luận hoặc văn học sử tương đối thoải mái nhưng thò bút viết phê bình bao giờ cũng cảm thấy đuối sức. Trong giới phê bình của ta có nhiều người giỏi, nhưng phần lớn - theo tôi - học vấn chỉ đủ để viết luận văn, luận án hoặc làm giáo sư I, giáo sư II. Phê bình đòi hỏi năng khiếu và vốn kiến văn đặc biệt. Chúng tôi đề nghị Hội quan tâm đến việc bồi dưỡng, đào tạo những người viết phê bình, có thể giao công việc này cho Trường viết văn Nguyễn Du.

    Trước đây, trong một thời gian dài, có những người - viết gì cũng vậy - quan tâm quá nhiều đến sự thông báo, sự bày tỏ lòng trung thành của mình với hệ tư tưởng của nhà cầm quyền, thành ra mất hết cảm hứng tìm tòi chân lý, phát hiện cái đẹp. Điều này có khi lại được xem là " tính đảng ". Hoàn toàn không phải như vậy. Tính đảng là khách quan, là khoa học, bao giờ cũng sáng tạo không hề biết đến những dụng ý vớ vẩn, nhỏ mọn.

    (còn tiếp)




  35. Thanks twelve, kegiangho, phng99 thanked for this post
  36. #20
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Nhà văn Nguyên Ngọc những suy nghĩ và hành động trong cao trào phản kháng


    Bài viết của nhà văn Nhật Tiến từ trang 118 đến trang 126

    Nhà văn Nguyên Ngọc (tên thật là Nguyễn văn Báu), sinh năm 1932 tại Quảng Nam. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông gia nhập quân đội năm 1950. Tốt nghiệp trường Lục quân Khu 5, tham gia chiến trường một thời gian rồi trở thành phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân khu 5. Tác phẩm đầu tay " Đất nước đứng lên " xuất bản năm 1956 viết về cuộc chiến đấu của một thanh niên thuộc bộ lạc Bahnarn tên là Núp và dân làng Kông Hoa, được trao giải nhất về tiểu thuyết thuộc giải Văn Học 1954-1955 của Hội Văn Nghệ Việt Nam (miền Bắc). Sau đó in tiếp những tác phẩm như Mạch Nước Ngầm, Rẻo Cao, Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất Quảng. Năm 1962, là chủ tịch Chi Hội Văn Nghệ Giải Phóng miền Nam Trung Bộ và phụ trách tờ báo Văn Nghệ Giải Phóng khu 5, sáng tác với những bút hiệu khác như Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Kim.

    Sau 1975, ông ra Hà Nội, công tác ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, rồi phụ trách Ban Thường Vụ Hội Nhà Văn VN trong cương vị Bí thư Đảng Đoàn. Nhìn lại quá trình sáng tác của Nguyên Ngọc từ 1956 đến 1975, Nguyễn văn Long trong Tự Điển Văn Học VN đã nêu nhận định " Sự quan tâm hàng đầu đến những vấn đề có ý nghĩa trọng đại lịch sử của dân tộc và cách mạng cùng với niềm say mê những tính cách anh hùng khiến cho tác phẩm của Nguyên Ngọc mang tính chất hùng tráng lại đậm nét trữ tình và chất lý tưởng ".

    Sau năm 1975, trong sự tan rã của chế độ VNCH miền Nam, và trước những vấn đề nẩy sinh trong cuộc thống nhất đất nước do sự hòa nhập ồ ạt của dân chúng hai miền Nam Bắc sau hơn một phần tư thế kỷ cách biệt vì chia cắt, người cầm bút nói chung đã phải đối diện với những thực tế ngày càng gay gắt. Vấn đề khả năng quản lý và lãnh đạo của các cán bộ miền Bắc trong sinh hoạt xã hội miền Nam. Vấn đề cải tạo Công Thương Nghiệp Tư Bản tư doanh. Vấn đề tù nhân Cải tạo với sự dính líu liên hệ gia đình của nhân dân cả hai miền. Vấn đề thất bại thảm thương của chiến dịch vận động đi Kinh tế mới (lý thuyết thì rất hay ho nhưng thực tế là cả một sự đầy đọa quần chúng trong tinh thần vô trách nhiệm). Vấn đề thuyền nhân ồ ạt ra đi. Vấn đề hủ hóa của những con người đã từng đóng góp tích cực cho cách mạng. Và đời sống xã hội ngày càng đi xuống về cả mặt vật chất lẫn tinh thần. Đó là những lý do mà sau 1975, giới cầm bút đã không đưa ra được những tác phẩm có giá trị tiêu biểu, tương xứng với " thành quả vĩ đại " mà chế độ miền Bắc đã đạt được sau cuộc chiến thắng mùa xuân 1975.

    Rõ ràng đã có một sự trăn trở trong tâm thức người cầm bút khi họ nhìn ra xã hội chung quanh, với đầy rẫy gai nhọn của đời sống thực tế hàng ngày. Và hẳn đó cũng là lý do mà Đảng Đoàn Hội Nhà Văn Việt Nam đã phải tổ chức hội nghị môt số đảng viên trong Hội để bàn về " Sáng tác văn học " vào tháng 6-1979 để bước đầu trao đổi ý kiến trước khi đem ra thảo luận rộng rãi trước toàn thể hội viên.

    Nhân danh Bí thư Đảng đoàn, nhà văn Nguyên Ngọc đã đọc một bản " Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội Nghị Đảng Viên bàn về sáng tác văn học ".

    Nếu trước đây, lao mình vào cuộc chiến với " Sự quan tâm hàng đầu những vấn đề có ý nghĩa lịch sử dân tộc và cách mạng " và với niềm " say mê những tính cách anh hùng ", Nguyên Ngọc đã viết như một sự đóng góp hăng hái cho cuộc chiến đấu thần thánh, viết như một tuyên dương cho những cá nhân xả thân vì lý tưởng anh hùng cách mạng, thì nay trong bản Đề dẫn kể trên, nhà văn đã có dịp thẩm định lại quá trình sinh hoạt văn học của giới cầm bút với cái nhìn thâm trầm hơn, sâu xa hơn và thoát ly được cái tình cảm bồng bột, say mê vì lý tưởng hơn. Ông nhận định rằng:

    " Trong văn học, lồ lộ khá rõ là số phận chung của cả dân tộc, cả đất nước, nhưng còn số phận riêng của từng người, từng thành viên trong đội ngũ lớn đó thì còn quá sơ lược, giản đơn. Mặt yêu nước nổi bật lên và đây là chỗ mạnh của văn học ta thời kỳ này như đã nói ở trên nhưng mặt đấu tranh xã hội thì không rõ bằng. Tính thơ lý tưởng của cuộc chiến đấu được biểu hiện khá mạnh nhưng còn tính sần sùi, phức tạp của đời sống thì yếu hơn ".

    Tính sần sùi, phức tạp của đời sống ấy là gì, nếu không là tính cách trở lại với con người đích thực cùng với những nỗi khốn cùng mà con người phải chịu đựng trong chiến tranh.

    Thân phận con người như thế, trong một thời gian dài bị khỏa lấp đi vì những nhu cầu của chiến tranh, nhưng khi hòa bình trở lại, nó đã trở thành mối day dứt của những người cầm bút có lương tri khi một mặt phải trực diện với những thân phận đó hiện diện đầy rẫy trong xã hội trước mắt, và một mặt khác viết lách vẫn phải nằm trong sự chi phối của tính Đảng, tính cách mạng, để chỉ có thể in ấn được những gì có tính cách " phải đạo ".

    Đó là lý do mà Nguyên Ngọc đã phải nêu lên trong bản đề dẫn:

    " Chính trong thời điểm này, các lực lượng văn học của ta trước nay đã hình thành được một thế bám sâu khá đẹp trên các địa bàn, ở các mũi nhọn của cuộc sống, nay hầu hết đến bị bật ra khỏi các vị trí của mình. Mất liên hệ đến đời sống, chúng ta bỗng bối rối mất phương hướng ", và rằng: " Phải chăng lúc này có hiện tượng không ít phổ biến là người viết vẫn cứ viết mà không thật tin ở chính điều mình viết ra ". " Người là muối mà chính người lại không mặn thì biết lấy gì để muối người ". Văn học nói theo một cách nào đấy là lòng tin. Không có lòng tin lớn thì không bao giờ có thể có văn học lớn ". (Bản đề dẫn, tháng 6-1979).

    Bước sang lãnh vực lý luận, phê bình văn học, một hình thức công an văn hóa nhằm ngăn chận và triệt tiêu ảnh hưởng của những tác phẩm đi ra ngoài lề lối văn chương " phải đạo ", cũng trong bản đề dẫn nói trên, nhà văn Nguyên Ngọc nhận định:

    " Có lẽ điều đáng lo hơn cả trong tình hình công tác lý luận, phê bình văn học thô thiển kéo dài, là ở chỗ nó đã tạo nên có thể nói là những định kiến xã hội đơn giản, dung tục đối với văn học, xói mòn năng lực thẩm mỹ của người đọc, mặt khác thấm cả vào chính người cầm bút, xói mòn ý chí sáng tạo, dũng khí sáng tạo nghệ thuật và ý thức trách nhiệm xã hội đứng đắn của nhà văn, tạo nên sự cản trở vừa ở ngoài họ, quanh họ và ở chính họ ".

    Ở trên cương vị một bí thư Đảng đoàn, và với sự mẫn cảm về tình trạng sinh hoạt văn học tồi tệ của một người cầm bút có lương tri, vào thời điểm đó (tháng 6-1979), Nguyên Ngọc tuy mong muốn đi tìm một lối thoát cho sự sáng tạo của người cầm bút, nhưng vì ông vẫn còn tin tưởng ở đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nên phương hướng giải quyết vấn đề của ông vẫn không ngoài sự trông cậy vào sự chỉ đạo của giai cấp lãnh đạo. Ông nhận định:

    " Một nguyên nhân khác nữa đã hạn chế những thành tựu của văn học ta vừa qua là ở sự chỉ đạo cụ thể đối với sáng tác. Nói chung vừa qua, trong chỉ đạo sáng tác chúng ta còn dừng lại ở chỉ đạo đề tài, chưa đi sâu vào chỉ đạo chủ đề hoặc có thì cũng còn khá chung chung. Chỉ đạo đề tài là rất quan trọng. Buông lỏng chỉ đạo đề tài sẽ để dẫn đến phủ nhận chức năng xã hội của văn học. Đánh đồng tất cả đề tài tức là phủ nhận sự cần thiết văn học phải luôn luôn hướng vào những mũi nhọn nhất của đời sống và như vậy cũng không thể nhận ra tính đúng đắn sâu sắc của những chủ đề lớn, những nội dung lớn của đời sống. Nhất là khi trong hiện thực diễn ra những biến động sâu, mạnh, phức tạp, thì việc chỉ đạo chủ đề càng có ý nghĩa quyết định ". (Đề dẫn, tháng 6-1979).

    Đúng là lề lối suy nghĩ của bí thư Đảng đoàn của một hội nhà văn trong sinh hoạt của một xã hội đã gần một phần tư thế kỷ luôn luôn chịu đựng sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền, phủ nhận khả năng suy nghĩ và cảm hứng tự do sáng tạo của người cầm bút.

    Tuy nhiên ngần ấy năm trời trôi qua, từ 1979 đến 1987, hẳn thời gian đã đủ chín mùi để nhà văn Nguyên Ngọc ngày càng cảm thấy khả năng của giới lãnh đạo văn nghệ không phải là vô hạn, và nhất là sự rung cảm nghệ thuật của họ lài càng không phải là sự rung cảm nghệ thuật của người cầm bút chân chính.

    Do đó, con người văn nghệ của Nguyên Ngọc hẳn đã đấu tranh kịch liệt với con người Bí Thư Đảng Đoàn, và kết quả là nhà văn Nguyên Ngọc đã nhẩy vô nhập cuộc với phong trào văn nghệ phản kháng tuy trễ tràng hơn một năm sau so với những báo khác, nhưng lại là sự đóng góp tích cực nhất, tiêu biểu nhất, dọn đường để cho nhiều nhà văn phản kháng có cơ hội đưa ra ánh sáng những tác phẩm của mình.


    Nhận công tác Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ, cơ quan ngôn luận chính thức của Hội Nhà Văn VN từ tháng 6, 1987, nhà văn Nguyên Ngọc phải lèo lái tờ báo ngay đúng thời điểm phong trào văn nghệ đổi mới đang lên cao với những đồng nghiệp nhập cuộc sớm sủa khác như tờ Tiền Phong, Lao Động, Phụ Nữ, Tuần Tin Tức ở miền Bắc, hay những tờ Đại Đoàn Kết, Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ, Sông Hương, Lang Bian... ở miền Nam. Tuy trễ hơn các đồng nghiệp khác hơn một năm sau, nhưng với sự lèo lái của người Tổng Biên Tập Nguyên Ngọc, tờ Văn Nghệ đã mau chóng trở thành ngọn cờ đầu đăng tải những truyện ngắn, những bài ký có nội dung phản kháng sâu xa và mạnh mẽ, gây được sự hưởng ứng hết sức sâu rộng và có tiếng vang rộng rãi cả trong nước lẫn ngoài nước. Sau đây là phần nhận định của nhà văn Mai Văn Tạo trong việc đánh giá sự đóng góp của tờ Văn Nghệ trong phong trào văn chương đổi mới:

    " Tờ Văn Nghệ xông thẳng vào những vấn đề vô cùng bức xúc của con người và xã hội, phanh phui, phê phán và lên án những hành vi xấu xa tội lỗi xúc phạm đến đời sống và con người. Khoảng cách giữa đời sống và thơ văn trên trang báo dần dần thu ngắn lại. Những bất công xã hội, bọn cường hào mới, kẻ lợi dụng chức quyền vơ vét của công, ức hiếp nhân dân được nhiều ngòi bút có lòng, còn dũng khí vạch mặt và tố giác gắt gao, nghiêm khắc. Cái đêm hôm ấy đêm gì, Vua lốp, Tiếng hú con tầu, Tướng về hưu, Công lý chẳng quên ai... tưởng chừng không bao giờ được ra mắt người đời, thì nhiều tháng qua đã phơi bày trên những trang Văn Nghệ. Chưa bao giờ báo Văn Nghệ hội tụ được đông đảo người sáng tác trên khắp mọi miền đất nước như thời gian qua. Và chính vì thế mà độc giả từ Bắc chí Nam đã đón nhận Văn Nghệ như người bạn trung thực, đồng cảm cảnh ngộ oan khuất của mình. Chưa bao giờ Văn Nghệ được coi là tờ báo của mọi người những tháng gần đây ".

    (Các nhà văn nói về vụ báo Văn Nghệ - Đất Việt, Canada, tháng 2-1989).

    Tuy không đưa ra những tác phẩm trực tiếp đóng góp vào phong trào văn nghệ đổi mới, nhưng ở cương vị Tổng Biên Tập của tờ Văn Nghệ, nhà văn Nguyên Ngọc quả đã có công rất lớn trong nhiệm vụ làm đòn bẩy cho những tác phẩm đổi mới có cơ hội bùng lên. Chính vì sự đóng góp lớn lao này mà Nguyên Ngọc bị cất chức một cách mờ ám vào ngày 2-12-1988. Phóng viên của tờ Tuổi Trẻ ở Hà Nội ngày 4-12-88 đã có dịp gặp nhà văn và nêu câu hỏi:

    - Lúc này anh đã thôi là Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ?

    Trả lời:

    - Chính tôi cũng không xác định được lúc này tôi là gì. Về công việc không còn là Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ nữa. Cách đây 40 giờ, trong buổi họp đột xuất của tòa soạn báo Văn Nghệ do ban Thư Ký Hội Nhà Văn triệu tập, đồng chí Chính Hữu, Phó Tổng thư ký Hội Nhà Văn Việt Nam đã đọc quyết định cho tôi " thôi giữ chức " Tổng Biên Tập báo Văn Nghệ để nhận công tác khác, và cho biết quyết định ấy có hiệu lực ngay sau khi đọc, tức là khoảng 18 giờ ngày thứ Sáu 2 tháng 12-1988. Kể từ sáng hôm qua, mồng 3 tháng 12, đồng chí Hoàng Minh Châu, phó Tổng Biên Tập thứ nhất được chỉ định điều hành tờ báo. Nhưng cho tới lúc này, 40 giờ sau khi nghe đọc quyết định, tôi vẫn chưa có trong tay cái văn bản pháp lý mà tôi có trách nhiệm thi hành.

    Có lẽ chẳng bao giờ Nguyên Ngọc có được cái văn bản pháp lý ấy. Bởi vì chiều 15 tháng 4-1989, trong dịp đến Huế hai ngày, nhà văn Nguyên Ngọc đã được Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên, ngoài sự tham dự của các hội viên còn có các cán bộ giảng dạy đại học, và sinh viên, các thầy cô giáo dạy văn và học sinh, các sĩ quan hưu trí của Câu lạc bộ Phú Xuân, các phóng viên đài và báo tiếp đón trọng thể và nồng nhiệt. Trong cuộc gặp gỡ này, nhà văn Nguyên Ngọc đã thổ lộ:

    - Tôi chấp hành quyết định của Ban Thư ký để các anh ấy khỏi nghĩ tôi muốn bám lấy cái ghế này. Nhưng các anh ấy còn nợ tôi một cái: quyết định hợp thức của Ban Tuyên Huấn Trung Ương và Bộ Thông Tin và lý do tại sao đùnh chỉ công átc Tổng Biên Tập của tôi. Từ đó đến nay, họ vẫn im lặng.

    Cũng trong dịp này, nhân có người đề cập đến sự phân hóa trong tòa soạn báo Văn Nghệ về thái độ và sự ra đi của nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyên Ngọc đã bùi ngùi kết luận:

    - Đọc Pasternak mà tôi thấy bi kịch Zhivago vẫn là một người đứng ngoài, đứng cả trên nước Nga mà đau. Còn bi kịch của tôi: một người trong cuộc, đảng viên, cầm súng, nhiệt thành xây dựng chủ nghĩa xã hội mấy mươi năm. Thế mà tại sao Tình Yêu của chính mình lại bị giày đạp đến như vậy?

    Câu hỏi tự đặt ra như vậy, có lẽ không phải vì chính Nguyên Ngọc không tìm thấy câu trả lời, mà ông đã nêu ra như một sự thú nhận. Phải chăng người đảng viên, người cầm súng, người nhiệt thành với chủ nghĩa xã hội mấy mươi năm qua, nay trước thực trạng bi thảm của quê hương, đất nước, bỗng vụt nhận ra rằng đảng ấy, chủ nghĩa ấy, đã chẳng phải là những giải pháp lý tưởng đem lại cho con người nguồn hạnh phúc và đời sống ấm no đúng như sự mơ ước của nhiều người.

    Nhìn ra được sự thực đó, sau bao nhiêu năm đóng góp với lòng nhiệt tình và đầy hào khí, quả là một bi kịch không chỉ của riêng nhà văn Nguyên Ngọc mà hẳn còn là của nhiều đảng viên và các tầng lớp cán bộ khác.

    Phải chăng, chính điều này đã tạo nên một loại tâm thức mới trong hàng ngũ trí thức và văn nghệ sĩ ở quê nhà vốn đã quá chán chường, mệt mỏi với những sự giả trá, khuôn phép một chiều thường vẫn là cái khung ngục tù giam hãm tư tưởng tự do và cảm hứng sáng tạo của người cầm bút. Dựa vào biện pháp cởi mở của nhà nước như một cơ hội cánh cửa ngục tù vừa mới hé ra, văn nghệ sĩ ở trong nước đã mau chóng tìm được lối thoát cho con đường sáng tác hiện đang bế tắc của mình: tự giải phóng ra khỏi khuôn phép văn chương tô hồng hay văn chương phải đạo, trực diện với đời sống của quần chúng để lôi ra ánh sáng cái thực tế thảm thương đã từng bị chính giới cầm bút che đậy, dấu diếm, bằng cách tô son vẽ phấn bưng bít từ hàng chục năm qua, và hơn tất cả, đó là sự tìm lại được cái giá trị đích thực, cái nhân cách đích thực, cái dũng cảm đích thực mà văn nghệ sĩ đã từng bị tước đoạt hay vì hèn nhát mà tự mình tước đoạt trong sinh hoạt sáng tác nhiều năm trước đây.

    Giới cầm bút trong cao trào văn nghệ phản kháng ở quê nhà, chỉ trong thời gian vỏn vẹn không đầy 3 năm (1987 đến 1989) đã mau chóng lấy lại được lòng tin cậy của người đọc, và thẫm chí đã trở thành ngọn đuốc sáng rỡ soi rọi tới được những hoàn cảnh tối tăm, cơ cực của quần chúng, đã trở thành cái phao của quần chúng trong khi họ đang chết đuối giữa sức ép của dòng đời đầy rẫy bất công, thối nát và áp bức.

    Hầu hết những tác phẩm quan trọng trong cao trào văn nghệ phản kháng đều đã xuất hiện trên tờ Văn Nghệ do nhà văn Nguyên Ngọc chủ trương. Chỉ riêng một sự kiện Hội Nhà Báo Việt Nam ra quyết định khen thưởng ba phóng sự đăng trên báo Văn Nghệ (Gồm Lời khai của bị can của Trần Huy Quang, Tiếng hú của con tàu của Nguyễn thị Vân Anh, Anh hùng khi đã sa cơ của Hoàng Minh Tường) đã đủ chứng minh sự đóng góp lớn lao của tờ Văn Nghệ trong cao tào này. Và thật là điều dễ hiểu khi người ta thấy mọi giới, bao gồm cả nhà văn, nhà báo và độc giả quần chúng đều tỏ ra vô cùng phẫn nộ khi được tin tờ Văn Nghệ gặp khó khăn (tháng 9-1988 Ban chấp hành Hội Nhà Văn Việt Nam ra nghị quyết lên án tờ Văn Nghệ là có những lệch lạc nghiêm trọng, và tháng 12-1988, Ban Thư ký của hội này cách chức Tổng Biên Tập Nguyên Ngọc và thuyên chuyển công tác khác).

    Ngay từ giữa tháng 9-1988, gần một trăm nhà sáng tác trẻ đã hội họp ở Hà Nội để phản đối nghị quyết lên án tờ Văn Nghệ. Sau đó là 12 nhà văn ở thành phố Hồ chí Minh, các nhà văn, nhà báo ở Lâm Đồng, Phú Khánh, Nghĩa Bình, tờ Sông Hương ở Huế, và đặc biệt là Hội Nghị Hội Nhà Báo Việt Nam lần thứ 5 tại Hà Nội họp từ 28-11, đến 1-12-1988, tất cả đều có ý hướng dứt khoát ủng hộ tờ Văn Nghệ đồng thời phản đối việc làm của Ban chấp hành Hội Nhà Văn. Đăc biệt, nhà văn Bùi Minh Quốc, trưởng phân Hội Văn nghệ Lâm Đồng đã vận động lấy được hơn 100 chữ ký của các nhà văn ủng hộ Nguyên Ngọc. Sau đây là một vài ý kiến phát biểu trong vụ Nguyên Ngọc bị cách chức.

    - Nhà văn Mai Văn Tạo: Biết tin báo Văn Nghệ " lâm nạn ", Tổng Biên Tập bị " hành ", công chúng miền Nam, độc giả thành phố Hố chí Minh, tỏ vẻ bất bình, lo ngại như thể bạn mình gặp cảnh khốn nguy. Nhiều người gặp tôi, họ lo lắng hỏi " Văn Nghệ thế nào rồi? Sao kỳ vậy? ". Những người ấy không chỉ là cán bộ, công nhân viên, người có học vấn cao, mà cả những ông thợ cắt tóc, các bác đạp xích lô... từng yêu mến tờ báo. Tuần báo Văn Nghệ từ cuối năm 87 đến nay không còn là tờ báo riêng của giới phong lưu và những nhà học giả. Nó còn là món ăn bổ ích và thú vị cho các loại độc giả phía Nam này. Lẽ nào Ban thư ký Hội Nhà Văn không thấy ra điều đó?

    - Nhà văn Nguvyễn Quang Sáng: Qua việc này, tôi thấy so với các ngành nghề khác, thì anh nhà văn, nhà báo nói riêng và văn nghệ sĩ nói chung, đối với những người đang thực sự làm việc thì bị cách chức quá dễ dàng. Từ đó mà nghĩ đến thân phận của giới này, nói rõ hơn là đối với những người thực sự làm việc của giới văn nghệ sĩ.

    - Nhà thơ Diệp Minh Tuyền: Tổng Biên Tập đổi mới này mất đi, sẽ có Tổng Biên Tập đổi mới khác xuất hiện. Tờ Văn Nghệ " dở " đi sẽ có tờ báo khác xuất hiện hoặc thay thế.

    Dư luận phản đối ồn ào và mạnh mẽ như vậy, nhưng việc cách chức Tổng Biên tập của Nguyên Ngọc vẫn được thi hành. Sự kiện này đã cho ta thấy 2 điều:

    - Một là: Giới lãnh đạo đã thực sự run sợ trước cao trào đổi mới, trong đó ngày càng lôi cuốn được nhiều cây bút có giá trị với những tác phẩm có giá trị, được sự bủng hộ của đông đảo quần chúng độc giả.

    - Hai là: Biện pháp cứng rắn áp dụng với Nguyên Ngọc đã mở ra một cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phe trong giới cầm bút: phe bảo thủ, tiếp tục chấp nhận đường lối lãnh đạo văn nghệ do đảng đề ra và phe đổi mới, đòi hỏi người cầm bút phài có tự do sáng tạo.

    Tại Đại Hội Nhà Văn Việt Nam họp từ 23 đến 31-10-1980 tại Hà Nội, cuộc đấu tranh giữa hai phe đã diễn ra rất hay gắt và độc giả có cơ hội được biết đến qua các bài tường thuật của báo chí, đài phát thanh. Bản tin tức, tổng hợp từ tin tức các báo, đài, và tự thuật của nhà văn Thu Bồn, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Vũ ngày 9-12-89 tại Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ đã viết: " Suốt thời gian đại hội, đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai lực lượng nhà văn: bảo thủ và tiến bộ, và sự phản đối mạnh mẽ có hiệu quả của lực lượng nhà văn tiến bộ đối với mọi sự áp đặt, phản dân chủ, thậm chí cả sự chụp mũ ".

    Nhìn chung kết quả của Đại Hội, phe bảo thủ đã thất bại nhiều điều:

    1/ Lập sẵn một danh sách Ban Chấp Hành gồm 30 người định vận động thông qua nhưng bị bác bỏ.

    2/ Dự định không để Đại Hội bầu chức Tổng Thư Ký mà để cho Ban chấp hành tự bầu ra. Kết quả , đại hội cũng bác bỏ và chức vụ này cũng do Đại Hội bầu trực tiếp.

    3/ Ba nhân vật bị phe bảo thủ dưới sự chỉ đạo ở trên mong muốn loại ra (Nguyễn Quang Sáng, Xuân Cang, Nguyên Ngọc) nhưng đã đắc cử với số phiếu cao nhất.

    4/ Ba nhân vật được phe bảo thủ ủng hộ và sự chỉ đạo ở trên cố ý đưa vào Ban chấp hành đều bị rớt đài (Anh Đức, Trần Bạch Đằng, Bằng Việt).

    Trong khi đó, phe tiến bộ ngoài việc ngăn chận những mưu đồ đen tối trong đại hội, còn nêu lên được những tiếng nói dõng dạc, thể hiện quyết tâm đi tới của những người cầm bút can đảm:

    1/ Một nữ thi sĩ trẻ ở Huế yêu cầu Đại Hội làm sáng tỏ vụ nhà văn Bùi Minh Quốc, trưởng phân hội Văn Nghệ Lâm Đồng bị khai trừ khỏi đảng vì " tội " đã vận động lấy hơn 100 chữ ký của các nhà văn để ủng hộ Nguyên Ngọc.

    2/ Một nhà văn trẻ yêu cầu Trần Trọng Tân, trưởng Ban Văn Hóa-Tư Tưởng Trung Ương Đảng phải kiểm thảo vì đã để xẩy ra những vụ đàn áp như ở trên cùng các vụ khác nữa nhưng làm ngơ.

    3/ Các nhà văn Thu Bồn, Bửu Tiến, Bùi Minh Quốc và nhất là Dương Thu Hương đã đọc những bài tham luận nẩy lửa, được đại hội đánh giá là " sâu sắc, nhiệt huyết và cảm động ".

    4/ Tạp chí Sông Hương (Huế) bị kết 8 tội và bị đóng cửa, qua Đại Hội, đã kể như không có tội nào và đang làm thủ tục tái xuất bản.

    5/ Nhà văn Nguyên Ngọc bị cách chức, nay trở thành một trong ba nhà văn tiến bộ được đắc củ cao phiếu nhất và ở vào vị trí trực tiếp lãnh đạo cả Hội Nhà Văn Việt Nam.

    Tuy nhiên, Bản Tin Tức dù lạc quan đến đâu, cũng vẫn phải kết luận: " Lực lượng nhà văn đổi mới tiến bộ đã thắng lợi bước đầu. Cuộc đấu tranh cho đổi mới còn đang tiếp tục tiến lên trên con đường đầy chông gai ".

    Con đường chông gai ấy, dĩ nhiên có nhiều trở lực xuất phát từ giới lãnh đạo bảo thủ, trì trệ, chỉ nhìn thấy quyền lực mà không thấy sự khát vọng lớn lao của tuyệt đại đa số quần chúng, nhưng trở lực trước hết phải kể đến chính cá nhân của mỗi con người trong giới cầm bút. Họ phải biết cảm thông sâu sắc với quần chúng, phải biết đứng về phía quần chúng để tự lột xác chính mình. Trong thời gian gần đây, đời sống quanh ta đã có biết bao nhiêu là đổi thay mãnh liệt. Người cầm bút phải tự bước ra khỏi cái ốc đảo của mỗi người để hòa nhập vào đời sống đang chuyển mình. Bởi chỉ ở vị trí mới đó, người cầm bút mới có thể hoàn thành được chức năng của mình.

    Phải chăng, cũng chính vì chia sẻ với nhận thức này, mà trong " Cuộc trò chuyện cuối năm " với Quốc Dũng và Bế Kiến Quốc được đăng tải trên tờ Văn Nghệ (Tổng Biên Tập hiện thời là Hữu Thỉnh) số Tết Canh Ngọ ra ngày 13-1-1990, nhà văn Nguyên Ngọc đã thổ lộ:

    - Những năm gần đây, tôi thấy viết càng khó hơn. Lần này thì có lẽ không phải chỉ vì " tính trời "; tôi thấy cần tìm cho mình một tiếng nói khác, một ngôn ngữ nghệ thuật khác. Quanh tôi, và trong tôi đã có biết bao thay đổi không nhỏ, không giản đơn. Phải viết khác. Mà đối với người cầm bút đã có nghề đôi chút, thì có lẽ không có gì khó hơn là viết được khác đi. Đó là " thay máu " như anh Nguyễn Minh Châu từng nói.

    Quả là quanh con người và trong con người của mỗi nhà văn đã có biết bao nhiêu thay đổi không nhỏ, không giản đơn. Khát vọng về một đời sống tốt đẹp hơn, về một sinh hoạt xã hội có đầy đủ tự do dân chủ đã như một cao trào không thể ngăn cản được của con người đang chuẩn bị bước vào một thế kỷ mới. Nhà văn Việt Nam, hay giới cầm bút nói chung, dù ở bất cứ nơi nào trên mọi phần đất thế giới không thể không nhìn thấy khuynh hướng đó và không thể không " thay máu " để chia sẻ nhịp tim đập chan hòa niềm tin mới về một vận hội mới của tương lai dân tộc. Niềm tin đó, không chỉ là mối ấp ủ riêng tư của Nguyên Ngọc hay những nhà văn, nhà thơ trong phong trào văn chương đổi mới ở quê nhà, mà hẳn còn là những ước mơ của toàn thể người Việt Nam vẫn từng tha thiết đến tiền đồ của dân tộc.

    Santa Ana, tháng 4 năm 1990.

    (còn tiếp)

  37. Thanks Đỗ Phương Khanh, kegiangho, phng99, twelve thanked for this post
  38. #21
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Đề cương đề dẫn thảo luận ở hội nghị đảng viên
    bàn về sáng tác văn học hội nhà văn Việt Nam


    (trích đoạn)
    Nguyên Ngọc



    Nhìn lại những tác phẩm văn học được viết ra trong thời kỳ này, chúng ta thấy mặt đấu tranh xã hội - tức là mặt chuyển động trong chiều sâu của hiện thực - được phản ánh còn mờ nhạt. Dường như lịch sử được tái tạo lại trong văn học mới còn chủ yếu ở những đường nét lớn chung nhất của nó, trên các cơ sở chung nhất của nó, còn ở những tần số rung động sâu xa, tinh vi của nó thì chưa rõ rệt. Trong văn học, lồ lộ khá rõ là số phận chung của cả dân tộc, cả đất nước, nhưng còn số phận riêng của từng người, từng thành viên trong đội ngũ lớn đó thì còn khá sơ lược, giản đơn. Mặt yêu nước nổi bật lên - và đây là chỗ mạnh của văn học ta thời kỳ này như đã nói ở trên - nhưng mặt đấu tranh xã hội thì không rõ bằng. Tính thơ lý tưởng của cuộc chiến đấu được biểu hiện khá mạnh, nhưng còn tính sần sùi phức tạp của đời sống thì yếu hơn. Cho nên tính hiện thực của văn học có bị hạn chế.

    Điều này cũng biểu hiện cả trong sự mạnh yếu khác nhau của các thể loại. Thơ, ký, truyện ngắn, những thể loại chiến đấu trực tiếp, khá mạnh. Tiểu thuyết - vốn là thể loại phản ánh gần và sâu hơn cuộc đấu tranh xã hội, có sức mô tả tính biện chứng tinh vi uyển chuyển hơn trong sự vận động của tâm hồn, trong số phận con người, thì ít đạt bằng. Một số tiểu thuyết có thể nói chủ yếu gần như là những bài thơ hay tùy bút dài, nói chung còn quá trơn tru, dễ dãi.

    Nếu tính theo khu vực đề tài thì phần viết về chiến tranh cách mạng khá hơn phần viết về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong phần viết về chủ nghĩa xã hội, cũng chỉ còn một chủ yếu là phản ánh một bước cải tạo quan hệ sản xuất.

    Nếu tính theo thời gian thì sự phát triển trong khoảng những năm 60 tốt hơn, thuận hơn trong khoảng những năm 70.

    Ít lâu nay trong người đọc, trong cả chính người viết có một số suy nghĩ hoặc một số dữ kiện khá phổ biến cho rằng từ một số năm gần đây, 5 năm, 7 năm hay khoảng mười năm trở lại đây, văn học ta đã có sự dừng lại. Mỗi người diễn đạt sự suy nghĩ, lo lắng đó một cách khác nhau, có người nói văn học đang tự lùi, có người gọi là " tình trạng trì trệ ". Cũng có người cho rằng ta đang ở trong một tình hình khá nguy hiểm, ấy là tình hình ' nhùng nhằng " không dở không hay, không sai nhưng cũng không thật đúng. Có người cho là đang có khủng hoảng. Cũng có người bảo: một số năm gần đây ta vẫn " có nhiều sách nhưng không có tác phẩm ", " vẫn có nhiều trận đánh nhưng là những trận tiêu hao, không có trận đánh tiêu diệt ".

    Rõ ràng trong hội nghị này chúng ta có một công việc nghiêm túc: đánh giá thật đúng thực chất tình hình và cố gắng tìm ta nguyên nhân của nó. Trước hết chúng tôi nghĩ rằng tình hình được phản ánh trong những suy nghĩ lo lắng vừa kể trên, tình hình đó có thật. Quả văn học " đang có vấn đề ".

    Vấn đề gì? Và ở đâu?

    Dường như nó bắt đầu vào khoảng đầu những năm 70. Thật ra kể từ khoảng thời gian đó, và có đến cho những năm rất gần đây, một vài năm nay, số tác phẩm được viết ra không hề ít hơn trước, nếu không phải nhiều hơn. Trong số đó, có những tác phẩm không hề thua kém những năm trước, nếu không nói là khá hơn. Đội ngũ sáng tác vẫn phát triển về số lượng và chất lượng. Cả về đội ngũ lẫn tác phẩm, tình hình vẫn tiến đều, nhìn trên những con số thống kê không thấy có hiện tượng giảm sút... Vậy mà sao áci cảm giác lo lắng kia vẫn ngày càng rõ, càng đậm hơn, trong người đọc, người viết? Đứng trước cái quầy sách bây giờ, nhìn những đầu sách mới in ra, nhiều cuốn dày hình như ta thấy lo nhiều hơn vui. Vì sao?

    Có một điều dễ nhận thấy ngay: Sách vẫn được viết, được in ra đều, chất lượng ít ra cũng bằng hoặc khá hơn trước, nhưng trong một số năm gần đây rất hiếm hoặc không có được những tác phẩm gây nên được những " sư kiện văn học " mới! Sách viết ra, in ra, người ta đọc, rồi nó phào đi, không để lại được những dấu vết sâu sắc, đậm nét trong đời sống tinh thần của xã hội. Cảm giác " có nhiều sách mà không có tác phẩm " là như thế. Người đọc thờ ơ với chính những quyển sách mình vừa đọc, tuy cũng chẳng có gì để chê bai nó. Có một không khí mệt mỏi, lạnh nhạt giữa người viết và người đọc.

    Như vậy, chúng tôi nghĩ, phải chăng là tác phẩm vẫn như trước kia hoặc khá hơn một ít, mà trong khi đó đời sống đã thay đổi rất nhiều rồi. Tác phẩm thì vẫn như trước, vẫn " hay " như trước kia nó đã " hay ", song hiện thực đã biến đổi khác trước. Phải chăng có những vấn đề mới đã xảy ra, những câu hỏi mới đã phát sinh trong hiện thực, trong khi đó văn học vẫn lập lại những vấn đề cũ, trả lời những câu hỏi cũ, có thể trả lời khá hay nhưng vẫn là trả lời những câu hỏi mà hiện thực đã vượt qua rồi.

    Trong hiện thực xã hội chúng ta, trong cuộc chiến đấu quyết liệt liên tục của đất nước ta, quả thực vào khoảng thời gian vào đầu những năm 70, tình hình đã có những biến đổi mới sâu sắc. Ở miền Nam, như chúng ta đều biết, đây là thời kỳ " Việt Nam hóa chiến tranh ", đỉnh cao của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. Cuộc chiến tranh trở nên đặc biệt ác liệt, phức tạp, toàn diện hơn bất kỳ thời đại nào trước đó. Chưa bao giờ trên chiến trường miền Nam số quân địch, cả Mỹ Ngụy và chư hầu đông bằng lúc này, chưa bao giờ số bom đạn, vũ khí giết người của chúng cao đến thế, chưa bao giờ những thủ đoạn đánh phá của kẻ thù tàn bạo nham hiểm toàn diện bằng, và tất cả đều tập trung đánh thẳng vào người dân, vào cơ sở, vào từng chi bộ, từng thôn xã, từng gia đình, thậm chí từng con người, tức là vào từng tế bào nhỏ nhất của xã hội, làm rung chuyển toàn bộ đời sống xã hội... Đứng về phía ta, thời gian đó chính là đêm trước của một cao trào cách mạng mới, cao trào sẽ bùng nổ trong mùa xuân năm 1975. Nhưng cũng như thường thấy trong mọi đêm trước của những cao trào, tình hình dường như bỗng trở nên cực kỳ đen tối, có lúc như bế tắc. Đó là bước chuyển mình dữ dội của đêm tối để chuyển sang hừng sáng...

    Ở miền Bắc, đó cũng là một thời gian đặc biệt phức tạp. Địch buộc phải ngừng ném bom, rồi lại ném bom dữ dội hơn; chiến tranh kéo dài, hậu phương lớn phải dốc toàn lực ra cho tiền tuyến lớn chuẩn bị cuộc quyết chiến sau cùng Mặt khác, trong nền sản xuất, cơ sở của xã hội cũng đã nẩy sinh những vấn đề, những mâu thuẫn mới. Quan hệ sản xuất đã được thay đổi, nông thôn đã hợp tác hóa, đã làm phát sinh những ảnh hưởng tiêu cực, có khi có tính cách tàn phá của nó. Trong xã hội, do chiến tranh và do có vấn đề trong nền kinh tế đời sống khó khăn, những hiện tượng tiêu cực xuất hiện có lúc khá nghiêm trọng.

    Sau năm 1975, tình hình lại có những sự phức tạp khác, trên một mặt nào đó mà nói, còn rộng lớn hơn. Những vấn đề dồn lại của một đất nước vừa bước ra khỏi một cuộc chiến tranh tàn khốc hơn 30 năm, những vấn đề của một công cuộc cải tạo và xây dựng mới rộng lớn chưa từng có, và lập tức bóng đen của một kẻ thù sinh tử mới đã lù lù hiện ra...

    Tất nhiên không phải cứ khi hiện thực trở nên đặc biệt khó khăn phức tạp thì văn học dừng lại, tụt lùi. Trái lại mới phải. Chính những lúc đó càng cần đến tiếng nói sáng suốt, tỉnh táo và tin tưởng của văn học. Cũng chính những cảnh huống của xã hội đó cho phép văn học trở nên sâu sắc hơn, mạnh mẽ hơn. Nhưng vấn đề là ở chỗ chính trong những thời điểm bước ngoặt đó, về phía chủ quan của mình, văn học ta đã bộc lộ một số nhược điểm quan trọng đồng thời chúng ta cũng đã phạm phải một số thiếu sót trong sự chỉ đạo văn học.

    Chính trong thời điểm này, các lực lượng văn học của ta trước nay đã hình thành được một thế bám sâu khá đẹp trên các địa bàn, ở các mũi nhọn của cuốc sống, nay hầu hết đều bị bật ra khỏi các vị trí của mình. Mất liên hệ với đời sống, chúng ta bỗng bối rối mất phương hướng. Hiên nay có thể nói về cơ bản chúng ta không còn, hoặc có rất ít những lực lượng sáng tác, nhất là những cây bút chủ lực, bám sâu trên những địa bàn xung yếu nữa. Có những mảng rất lớn và hết sức quan trọng của đời sống, chẳng hạn như mảng đồng bằng sông Cửu Long nơi đang diễn ra cuộc đấu tranh cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội hết sức sâu sắc, gay go, độc đáo; hoặc như ở Tây Nguyên, một địa bàn chiến lược về kinh tế và quân sự; hoặc như ở phía Tây nam và trong nhiệm vụ quốc tế cao đẹp của chúng ta ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Campuchia anh em, hoặc cả ở trên tiền tuyến phía Bắc... hiên nay gần như hoàn toàn vắng bóng các nhà văn chúng ta, những nhà văn từng có truyền thống xông xáo, bám sâu, lăn lộn tích cực trong đời sống chiến đấu và sản xuất cùa nhân dân. Trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp... hiện nay tình hình cũng không khá hơn mấy. Nói gì thì nói, đó là một tình hình không lành mạnh, không thể bào chữa được, một tình hình đáng báo động. Sự lãnh đạo của chúng ta đã không sớm phát hiện ra tình hình này và kiên quyết, kiên trì sửa đổi nó.

    Mặt khác chính đến lúc này đã bộc lộ một chỗ yếu có nguyên nhân lâu dài trong tình hình đội ngũ chúng ta: đã khá lâu chúng ta đã không chú trọng đầy đủ việc xây dựng đội ngũ, nhất là lớp nhà văn trẻ. Việc rèn luyện bản lĩnh chính trị, bản lĩnh xã hội của nhà văn bị buông lỏng. Việc học tập nâng cao trình độ mọi mặt của người cầm bút làm không thường xuyên, không có hệ thống, nói chung còn du kích, chấp vá. Một phần do tình hình chiến tranh, một phần do thiếu sót chủ quan của ta, nói chung trong nhiều năm chúng ta không đặt và thực hiện tốt việc xây dựng cơ bản. Cho nên, trước những phức tạp mới của hiện thực, có hiện tượng những người cầm bút mới của chúng ta không đủ sức làm chủ tình hình, không đủ sức phân tích đúng đắn, sáng suốt. Nói gì đến cung cấp cho nó một câu trả lời sáng sủa.


    Cả hai mặt đó cộng lại đã sinh ra sự bối rối trong tâm trạng, trong tình cảm, trong sự suy nghĩ của người viết. Cũng có thể nói, có sự giao động. Khi một người cầm bút giao động, ấy là khi anh ta giao động về nhân vật trung tâm của mình, về con người lý tưởng của mình. Khi anh ta bắt đầu nghi ngờ con người ấy trong hiện thực, hoặc ít ra là anh ta bối rối về họ, từ đó mà giảm lòng tin yêu họ. Cái lòng tin yêu vốn phải cháy bỏng, niềm khao khát đến cháy bỏng về con người, có cái ấy thì mới bắt đầu có cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính, mạnh mẽ. Dĩ nhiên người nghệ sĩ không phải cứ chờ cho đến khi con người trong hiện thực đã thật hoàn hảo, suông sẻ, khi ở họ cái tốt, cái đẹp hiện ra thật lồ lộ, minh bạch... thì mới tin và yêu họ. Nếu vậy thì nói cho cùng cần gì đến nghệ thuật và người nghệ sĩ nữa. Chúng tôi nghĩ nhiệm vụ của nghệ thuật không chỉ là ở chỗ biểu hiện hiện thực như nó đã có, một hiện thực tĩnh tại, mà chính là ở chỗ mô tả hiện thực như là một cái gì có thể thay đổi được và bồi dưỡng lòng tin, sự khát khao mãnh liệt muốn thúc đẩy sự thay đổi ấy. Phải chăng, lúc này có hiện tượng không ít phổ biến là người viết vẫn cứ viết mà không thật tin ở chính điều mình viết ra. " Người là muối mà chính người lại không mặn thì biết lấy gì để muối người ". Văn học, nói theo một cách nào đấy, là lòng tin. Không có lòng tin lớn thì không bao giờ có thể có văn học lớn.

    Nhân đây chúng ta cũng muốn nói rõ: quả là trong thời gian này trong nhiều người viết chúng ta đã có bối rối, giao động, điều ấy đã hạn chế sức chiến đấu của văn học ta nhiều lắm. Hôm nay chúng ta nghiêm khắc nhận rõ thiếu sót đó. Song cũng cần khẳng định rằng: trong văn học ta, ngay ở thời gian này, không có cái gì có thể gọi là " một luồng tà khí ", " phản động ", " chống Đảng "... như có lúc một số người đã ngộ nhận, càng gây thêm rắc rối. Chúng tôi nghĩ trong hội nghị này chúng ta có thể chính thức báo cáo với Đảng kính yêu của mình như vậy.

    Một mặt khác nữa đã góp phần không ít vào tình hình trì trệ này là sự chậm trễ kéo dài, sự thô thiển kéo dài trong công tác lý luận và phê bình văn học. Sự thô thiển trước hết ở một điều rất cơ bản: ở quan niệm về chức năng của văn học.

    Trái với những quan niệm đúng đắn của Đảng, quan niệm này, hoặc có khi được phát biểu chính thức hoặc bàng bạc trong không khí phê bình, lý luận, đánh giá đã dung tục hóa mối quan hệ giữa hiện thực và văn học. Nó tuyệt đối hóa hiện thực, và kết quả là buộc văn học phải khiếp nhược trước hiện thực, người nghệ sĩ phải khiếp nhược trước đời sống. Như vậy thực chất là nó phủ nhận khả năng cải tạo trở lại hiện thực của con người, của văn học.

    Nó hạ thấp văn học xuống thành một sự sao chép hiện thực, coi giá trị văn học cao nhất là làm sao cố sao chép cho đúng nguyên hiện thực, có thế thôi. Bởi vì, theo tôi, " hiện thực đã tốt, đẹp đến mức không còn gì có thể tốt đẹp hơn... ". Quan niệm không Mác-xít đó đã từng biểu hiện chẳng hạn ở chủ trương tuyệt đối hóa thể " người thật việc thật " trong văn học, muốn lấy đó làm dòng chủ đạo, thậm chí dòng văn học duy nhất của văn học ta.

    Chúng tôi nghĩ viết " người thật việc thật " là một chủ trương đúng và tốt. Nó giúp chỉ ra cho văn học một hướng lớn của đời sống, giúp văn học hướng sư chú ý tập trung của mình đến nơi tiền tiến nhất của cuộc chiến đấu. Nhưng tuyệt đối hóa nó thì lại rất sai. Và ngay trong việc viết " người thật việc thật " cũng cần phải hiểu đúng.

    Văn học bắt nguồn từ cuộc sống, thu hút không những nguyên liệu mà cả linh hồn các tác phẩm của mình từ đấy, nhưng đến lượt nó, nếu như nó muốn có ích, muốn phục vụ trở lại cuộc sống, thì nó phải sáng tạo ra một cái gì đó khác, mới mẻ chưa từng có, cao hơn về chất so với nguyên liệu của cuộc sống đã cung cấp cho nó. Ăn dâu nó phải nhả tơ. Nếu nó lại nhả ra những cái lá dâu thì bản thân sự có mặt của nó thành vô nghĩa. Ngay cả những tác phẩm viết về người thật việc thật cũng không thể thoát khỏi cái luật biện chứng của sự sáng tạo đó. Người thật việc thật dầu đã cao đến mấy, khi đi vào tác phẩm văn học vẫn phải sáng tạo lại, trở nên cao hơn. Lý do rất đơn giản: chính những con người tốt đẹp của chúng ta vẫn luôn luôn khát khao mong ước sự hoàn thiện mình không ngừng. Vả chăng, điều mà nhà văn muốn phản ánh sinh động trong tác phẩm của mình, nói cho thật đúng ra, không phải là những hiện tượng của hiện thực, mà là những qui luật sâu xa của hiện thực. Người nghệ sĩ luôn luôn có khát vọng muốn nhận ra, chỉ ra, bằng những qui luật bí ẩn và đẹp đẽ nào mà cuộc sống lại sáng tạo ra được những điều kỳ diệu đến thế.

    Quan niệm thô thiển về mối quan hệ giữa hiện thực và văn học dẫn đến tai hại: Khi trong hiện thực có những sự phức tạp, những mặt đấu tranh phức tạp, thì nhà văn dễ đâm ra hoang mang, mất hết lòng tự tin ở chính nghề nghiệp của mình, chức năng xã hội của mình, và anh ta sẽ đành lòng làm ra một thứ văn chương " phải đạo " nhuốm đầy mầu sắc chủ quan.

    Quan niệm thô thiển về chức năng của văn học cũng dung tục hóa mối quan hệ giữa văn học và chính trị. Nó tuyệt đối hóa chính trị, tuyệt đối hóa sự chi phối tất yếu của chính trị đối với văn học, mà quên rằng với tư cách là những hình thái ý thức xã hội, chính trị và văn hóa, qua những sự khúc xạ gần xa khác nhau đều là phản ánh hiện thực đấu tranh xã hội. Chúng tôi nghĩ Đảng không bao giờ đòi hỏi văn học nghệ thuật minh họa chính trị, trái lại Đảng yêu cầu, còn cao hơn nữa, văn học nghệ thuật với sức mạnh riêng của nó, làm phong phú thêm cho chính trị bằng những khám phá và sáng tạo của riêng mình, không thay thế được...

    Có lẽ điều đáng lo hơn cả trong tình hình công tác lý luận, phê bình văn học thô thiển kéo dài, là ở chỗ nó đã tạo nên có thể nói là những định kiến xã hội đơn giản, dung tục đối với văn học, xoi mòn năng lực thẩm mỹ của người đọc, mặt khác thấm cả vào chính người cầm bút, xoi mòn ý chí sáng tạo, dũng khí sáng tạo nghệ thuật và ý thức trách nhiệm đúng đắn của nhà văn, tạo nên sự cản trở vừa ở ngoài họ, quanh họ, vừa ở trong chính họ. Phải chăng chính đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những lối làm ăn tệ hại, hết sức đáng trách, thiếu phẩm chất trong một số người cầm bút mà chúng ta đang hết sức lo lắng.

    Một nguyên nhân khác nữa đã hạn chế những thành tựu của văn học ta vừa qua là ở sự chỉ đạo cụ thể đối với sáng tác. Nói chung vừa qua, trong chỉ đạo sáng tác, chúng ta còn dừng lại ở chỉ đạo đề tài, chưa đi sâu vào chỉ đạo chủ đề, hoặc có thì cũng khá chung chung. Chỉ đạo đề tài là rất quan trọng. Buông lỏng chỉ đạo đề tài thì sẽ dẫn đến phủ nhận chức năng xã hội của văn học. Đánh động đến tất cả các đề tài tức là phủ nhận sự cần thiết văn học phải luôn luôn hướng vào những mũi nhọn nhất của đời sống và như vậy cũng không thể nhận ra những đúng đắn, sâu sắc những chủ đề lớn, những nội dung lớn của đời sống. Song, nhất là khi trong hiện thực diễn ra những biến động sâu, mạnh, phức tạp, thì việc chỉ đạo chủ đề càng có ý nghĩa quyết định. Chỉ đạo chủ đề tức là giúp cho người nghệ sĩ sớm nhận ra cái cốt lõi bên trong của sự vận động của hiện thực, mò ra qui luật của nó, từ đó, dưới cái vỏ biểu hiện bên ngoài là đề tài, có thể mô tả nó không hời hợt, không hình thức, không bối rối...

    (trích Lang Biang số 3)

    gặp gỡ Nguyên Ngọc

    Trích từ tạp chí Sông Hương

    Chiều 15-4-89, 14 giờ. Phòng họp của Hội VHNT Bình Trị Thiên đã chật hết chỗ, nhiều người ngồi lên bậc cửa sổ. Công chúng: ngoài các hội viên văn nghệ các ngành, còn có các cán bộ giảng dạy đại học và sinh viên, thày cô giáo dạy văn và học sinh, các sĩ quan hưu trí của Câu lạc bộ Phú Xuân, các phóng viên đài và báo. Trong số công chúng đứng chen chúc ở vòng ngoài nhìn vào, có hai nhân vật đặc biệt: ông K, chủ xe nước mía, và cô Ng, bán sách báo vỉa hè ở gần Hội. Nói chung, dù nhiều người đến bất ngờ không giấy mời, nhưng tất cả công chúng toàn là " Người Tử Tế ".

    Hoàng Vũ Thuật (giới thiệu): Anh Nguyên Ngọc vừa đến Huế hai hôm, chúng tôi chỉ kịp gửi giấy mời cho một số bằng hữu, không ngờ chiều nay đông đảo như thế này, điều đó chứng tỏ độc giả của báo Văn Nghệ ở Huế rất nhạy cảm. Thay mặt Chi Hội nhà văn Bình Trị Thiên, tôi xin trân trọng giới thiệu nhà văn Nguyên Ngọc, Tổng biên tập đích thực của báo Văn Nghệ.

    (Tiếng vỗ tay chen vào vài tiếng nói to: " Đích thực! Đích thực! ").

    Tô Nhuận Vỹ (Tổng thư ký mới của Hội Văn Nghê BTT):

    - Cuộc đấu tranh đổi mới của phong trào văn học Việt Nam những năm gần đây có công đóng góp của anh Nguyên Ngọc. Hình như anh Nguyên Ngọc tuổi Thân; số tử vi theo người Nhật nói rằng tuổi Thân là tuổi của những " tài năng ngoài qui củ ". Có lẽ những con người khao khát đi tìm cái mới, như Cri tốp Cô lông, như Ga li lê, đều có cái chất " ngoài qui củ " như vậy. Đây là cuộc trao đổi thân tình trước thềm Đại hội nhà văn, sẽ đóng góp một phần vào đại hội sắp tới. Tôi đề nghị chúng ta trao đổi thẳng thắn mọi điều, cả hỏi và trả lời.

    Nguyên Ngọc:

    - Đất nước, văn học ta đang ở thời kỳ chuyển động, phức tạp, khó khăn, xôn xao... Sáng nay chúng tôi có trao đổi với nhau: sẽ là cuộc gặp gỡ và đối thoại. Tôi đề nghị các anh chị nêu câu hỏi và tôi trả lời. Vừa qua tôi biết có những thông tin do trên báo, hoặc truyền miệng, nhiều cái không đúng sự thực. Chúng tôi may được ở trong điểm xoáy của các sự kiện, có gì tôi xin thông báo một cách trung thực.

    Lý Hoài Xuân:

    - Tôi xin nêu 3 câu hỏi. 1. Vừa rồi anh thôi giữ chức Tổng biên tập; đó có phải là cách chức không? 2. Báo Văn Nghệ với anh, có sự đổi mới. Chúng tôi tiếc không được đọc những trang hay sau khi anh ra đi. Vậy anh có tiên đoán được tương lai của báo Văn Nghệ không? 3. Đổi mới quanh tờ báo đã gây ra mâu thuẫn. Trong từng cá nhân, dường như có động cơ riêng. Theo anh thì việc đó như thế nào?

    Trường Ký:

    - Có một nhóm thích Đổi Mới, nhóm khác kềm hãm nhưng bề ngoài vẫn hô hào đổi mới. Đại hội tới như thế nào? Vừa rồi với sự thay Tổng biên tập, người ta thấy rằng báo Văn Nghệ đang bị thụt lùi. Anh em Bình Trị Thiên rất mong báo khởi sắc trở lại như thời Nguyên Ngọc. Anh thấy có nên hy vọng không?

    Một cán bộ giảng dạy Đại Học Sư phạm:

    - Có hai lực lượng của Hội nhà văn trong sự xung đột vừa qua, hay là có sự chỉ đạo nào của Trung Ương? (Có tiếng người ngắt lời: " Cái đó phải lên hỏi Trung Ương ").

    Hoàng Phủ Ngọc Tường:

    - Thời đó người ta chăm chú theo rõi từng bước đổi mới rất rõ của báo Văn Nghệ. Với tư cách Tổng biên tập, xin cho biết ý hướng đổi mới toàn cục của anh như thế nào? Tại cuộc họp BCH, anh Nguyễn Đình Thi kết luận rằng báo Văn Nghệ có những " lệch lạc nghiêm trọng ". Anh Huy Cận có nhã ý bổ sung thêm một chữ rất, " rất nghiêm trọng ". Vài người khác đòi đưa anh ra tòa. Rồi mọi việc xẩy ra như đã thấy. Anh đã làm gì, để gây ra lắm thứ ân oán giang hồ ghê gớm đến thế?

    (còn tiếp)

  39. Thanks twelve thanked for this post
  40. #22
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Nguyên Ngọc (sắp xếp lại nội dung các câu hỏi, đứng dậy. Vài ba chiếc cassesste mini được đẩy tới trước mặt diễn giả. Nguyên Ngọc cười, lắc đầu, nhưng không có phản ứng từ chối. Trả lời luôn một mạch):

    - Trước hết tôi xin nói về hướng của tờ báo. Tôi nhận công tác từ tháng 6-87 đến 12-88, gần một năm rưỡi. Bấy giờ là tình hình sau Đại hội VI, báo chí trong thời kỳ chuyển động rõ rệt. Bên sân khấu, đổi mới sớm hơn. Ở miền Bắc các báo Tiền Phong, Lao Động, Phụ Nữ, Tuần Tin Tức đang đổi mới mạnh. Báo Văn Nghệ vào cuộc châm so với đồng nghiệp, và có sự trách móc chung của bạn đọc đối với diễn đàn của Hội nhà văn. Khi nhận việc ở báo, tôi có ý thức rất rõ. Tôi có báo cáo với Ban thư ký (BTK) Hội nhà văn rằng phải chuyển hướng tờ báo. Tại hội nghị BCH tháng 9-99, tôi chỉ trình bày ý cơ bản về định hướng.

    Tôi nghĩ: cả đất nước, Đảng, chủ nghĩa xã hội ta đang đứng trước những vấn đề rất lớn. CNXH ta đã làm trong mấy chục năm qua nằm trong qui luật lịch sử này: một chế độ xã hội thay thế một chế độ xã hội trước kia là vì cái kia đã mất sức sống. CNXH ta bắt đầu từ Cách mạng tháng Tám, ở Liên Xô thì đã bảy mươi năm. Nhưng CNXH như chúng ta làm (nhấn mạnh), vì lẽ nào đó, đang trở nên trì trệ. Nó không minh được tính ưu việt đối với chế độ nó thay thế, và với lý tưởng chúng ta mơ ước. Đấy là vấn đề hết sức lớn.

    Khi báo VN vào cuộc, thì báo chí ta đang trong cuộc đấu tranh giữa tích cực chống tiêu cực. Tôi nghĩ: Tích cực là tạo nên những năng động mới, còn tiêu cực là kềm hãm tính năng động. CNXH lý thuyết thì năng động, nhưng CNXH trong hiện thực lại không năng động nổi. Nghị quyết Đảng, có hai lần dùng chữ " Sống Còn ". Tôi nghĩ: Văn học phải nhận ra hiện thực của xã hội Việt Nam, tham gia đấu tranh khắc phục tính trì trệ, khôi phục tính năng động phải có của CNXH, và như thế với ý nghĩa " Sống Còn ".

    Tôi có nói với BTK; Báo Văn Nghệ là báo, báo là cái cấp bách hàng ngày. Nhưng nó lại là Văn nghệ. Vậy thì từ cái hàng ngày, nó phải vượt lên để đi tới những vấn đề xã hội ở đằng sau cái sự kiện đó. Hướng cơ bản là đưa báo VN vào cuộc đấu tranh, nhưng bằng văn học để đi tới những vấn đề Căn nguyên sâu xa hơn.

    Tôi xác định lại vấn đề: Cuộc đấu tranh rất quyết liệt, nhưng phải đi vào cái căn nguyên sâu xa; do đó, sức đề kháng trở lại nhất định phải dữ dội hơn. Thực tế cho thấy các báo đều bị sức đề kháng khá mạnh, nhưng trên từng cái cụ thể, thí dụ vài tờ báo địa phương đã bị sự phản kháng của chính bí thư tỉnh uỷ. Nhưng khi đi vào căn nguyên, thì báo VN sẽ phải chịu sự đề kháng không phải cụ thể, mà thuộc cả một cơ chế. Tôi nói với anh Nguyễn Khải (lúc đó là phó Tổng thư ký) rằng: Chúng ta sẽ gặp nhiều gay go vì nó động tới nhiều cơ chế lớn. Anh Khải tâm đắc: " Thôi thì vẫn phải dấn thân vào cuộc đời ".

    Hướng thứ hai, là đấu tranh đổi mới chính văn học. Qua chống tiêu cực, cần cố gắng khôi phục lại thể loại phóng sự, và bút ký báo chí; những thể loại này lâu nay vẫn có nhưng không đạt tới sức mạnh văn học của nó. Tôi mời một số anh em làm thử khoảng sáu tháng.

    Một câu hỏi:

    - Anh cho biết một vài sự kiện cụ thể...

    Nguyên Ngọc:

    - Bài đầu tiên thăm dò nhằm vào một vấn đề tính là chưa gay gắt lắm, ấy là vấn đề sách và phát hành. Anh Lý, Tổng giám đốc Phát hành đã phản ứng quyết liệt, nói rằng phát hành sách là phải canh gác chuyên chính vô sản. Tôi nói: Bài không đánh vào anh, nhưng cả anh và tôi đều phải đánh vào.

    Vài cái khác, tiếp tục bị phản ứng, rồi tới " Ông vua lốp " của Trần Huy Quang. Tôi đề nghị các tác giả đi sâu vào vấn đề cơ chế và con người, như thế này: Theo cái cũ thì anh giàu một cái là tôi cắt đầu, còn nghèo thì tha hồ. Tài năng ta (như ông Chẩn) không thiếu, chỉ hại vì cơ chế bình quân và bao cấp. Phản ứng lần này rất quyết liệt, chúng tôi phải đối thoại với Thành uỷ Hà Nội nhiều lần. Sau này, Thành uỷ chưa bao giờ nhận sai, nhưng đã trả lại tài sản, cho phép làm, chỉ cái nhà của ông Chẩn là chưa trả lại.

    Tôi thử thêm một vấn đề nóng bỏng: Nông thôn, ở đó có nông dân với quyền sở hữu, có Đảng và chính quyền ta ở đó. Anh Lê Lựu có nói: " Thử về một làng xã nào ở miền Bắc mà xem Đảng chúng ta ở đó là Đảng gì? Là Đảng của dòng họ chứ không phải Đảng Cộng Sản ".

    Số đầu năm 88, tôi in " Suy nghĩ trên đường làng ", nhẹ nhẹ thôi và tiếp liền đó " Cái đêm hôm ấy đêm gì " của Phùng Gia Lộc. Lúc đó báo chí đang sôi động về vụ Hà Trọng Hoà, chưa phân thắng bại nhưng rất quyết liệt. Trên báo Văn Nghệ sẽ gây ra một tiếng chuông rúng động, nhưng tôi tính theo kiểu lính: Trận đánh chắc thắng 80-90% là đánh được. Tôi nói với anh Khải: " Đang nhá " anh Khải ký. Sau " Cái đêm hôm ấy " tôi cho in " Người đàn bà quỳ ". Về dân chủ ở nông thôn, tôi cho rằng vài ba tiếng chuông báo động như thế là đủ.

    Nhưng không thể dừng ở đó, ở đời sống cùng cực và sự mất dân chủ của số phận người nông dân. Cần làm gì để tháo gỡ hoàn cảnh: Vậy là phải đụng tới cơ chế. Hôm ấy, tôi và anh Khải đi thực tế ở Vĩnh Phú, cùng với anh Ngọ bí thư và anh Quán chủ tịch huyện về làng Thổ Tang. Đây là làng của Nguyễn Thái Học, gặp luôn ông Vũ Hồng Khanh sống ở đó. Làng rất đặc biệt: nhà phố, lầu, ít đất, đi buôn rất giỏi. Giải phóng 30-4, theo sau binh đoàn xe tăng đã có con buôn Thổ Tang mang cờ ảnh cách mạng vào bán ở Sài Gòn rồi. Làng này đã xuất hiện một kiểu cơ chế mới. Có bốn loại thị trường: 1) Thị trường lao động: sớm cầm đèn soi mặt, anh có thể ra chợ Thổ Tang tìm thuê người đi cày, tát nước. 2) Vật tư hàng hoá: có chỗ đại tư và bán hàng trăm máy kéo. 3) Có ba ngân hàng tư nhân: trong mười lăm phút có thể vay hàng chục triệu. 4) Thông tin kinh tế: ở một nhà có quyển sổ ghi ai cần mua gì, bán gì... Đi khảo sát, tôi gặp một bà rất giàu: nhà có máy kéo, máy nổ, máy xay sát, và mười tấn lúa. Thuê nông dân làm, đóng thuế đầy đủ cho nhà nước. Trần Huy Quang có viết về một bà nông dân làm thuê; được hỏi: " Bà không sợ bị bóc lột à? ". Bà trả lời: " Bóc lột thế tôi được sống nhờ, nếu để tôi làm chủ thì tôi chết đói ". Cả anh Ngọ và anh Quán đều giấu tịt cái làng này, giấu cả Thường vụ Tỉnh uỷ. Tôi hỏi anh Quán: " Anh có dám kết nạp bà làm giàu đó vào Đảng không? ". Anh Quán suy nghĩ trằn trọc suốt đêm, sáng sau trả lời tôi: " Bây giờ cần phải suy nghĩ lại về khái niệm bóc lột ". Sau này, khi báo đăng bài, anh Quán viết thư cho tôi: " Không ngờ dấn thân cũng là sa trường ". Từ vấn đề cơ chế đó, dẫn đến một vấn đề rất lớn là quyền sở hữu của nông dân trong CNXH. Bút ký " Tiếng Đất " của Hoàng Hữu Cát xói vào vấn đề quyết liệt ấy. Anh Ngọ hỏi tôi: " Tại sao những con người đó lại say mê làm giàu đến như thế, bất chấp vô tù ra khám? ". Tôi nói: " Có lẽ ở họ còn là một khát vọng muốn thể hiện tài năng làm giàu như những người tìm vàng ở Mỹ ". Trước khi chết anh Kim Ngọc, nguyên Bí thư Vĩnh Phú thời trước đã trối trăn với anh Ngọ rằng phải tìm cách thoát ra khỏi cái " CNXH kiểu trại lính " này. Anh Ngọ đi theo con đường ấy. Cả anh Ngọ và anh Quán đều đã mua sẵn một cái máy xay thuốc bắc, lỡ bị cách chức thì xay thuốc mà sống; các anh quyết liệt đến thế. May là không sao cả. Anh Ngọ hiện được điều về Thanh Hoá thay Hà Trọng Hoà.

    (Nghỉ một lát, kết thúc vấn đề):

    - CNXH chúng ta làm lâu nay, có nhiều cái giả lắm. Liên Xô: một ổ mì mấy xu đó, nhưng năm nào cũng đâu phải bán máy. CNXH gì lạ thế? Đổi Mới là sắp xếp lại các giá trị, xưa A nay có thể xuống Z, và đảo lại. Trong văn học: các bài phóng sự, ký nói trên chỉ là báo, nó cày phá ra ngổn ngộn như vậy nhưng đâu dễ xem thường. Nó sẽ đọng lại một cái gì đó, đích thực là văn học.

    Một ý kiến:

    - Có sự phủ nhận quá khứ không?

    Nguyên Ngọc:

    - Chúng tôi quan niệm: Chúng ta có một thời kỳ văn học, và đã làm xong. Bây giờ chúng ta làm một thời kỳ mới, không có gì phủ nhận lịch sử cả. Nguyễn Huy Thiệp nói rất gọn: " 7 giờ là 7 giờ; 9 giờ là 9 giờ. Chả nhẽ 9 giờ lại phủ nhận 7 giờ à? ".

    Một ý kiến: (Nhắc lại yêu cầu nhận định về các xu hướng trong Hội nhà văn trước cuộc Đổi Mới).

    Nguyên Ngọc:

    - Theo tôi có ba thái độ: - Những người có tài năng, trăn trở, tích luỹ từ trước; thì dũng cảm đi với cái mới. Điển hình là trường hợp Nguyễn Minh Châu, là người bắc cầu vào thời kỳ này. - Những người biết cái Mới và ủng hộ. - Loại người cay cú với Đổi Mới và chống lại. Số này khá đông, và đang thao túng hoạt trường văn học không mệt mỏi. Cuộc tiệc này theo tôi, còn gay go lắm.

    Còn động cơ ở đằng sau à? Tôi có báo cáo với anh Đào Duy Tùng: " Với tư cách đảng viên, tôi đề nghị anh báo cáo với Bộ chính trị rằng hiện nay có những kẻ báo động giả vì mưu đồ riêng của họ, như họ đã làm ở hội nghị BCH " coi chừng địch! ", " làm loạn xã hội ", v.v...

    Một ý kiến:

    - Quả thực, anh có bị cách chức không? Theo tôi biết, nếu bổ nhiệm hoặc cách chức Tổng biên tập thì phải có quyết định của Ban tuyên huấn Trung ương và của Bộ thông tin. Đồng chí Trần Hoàn đã ký quyết định cách chức anh chưa?

    Nguyên Ngọc: ( kể lại các lớp lang đã diễn ra từ thường trực Ban thư ký, và tóm tắt trong ba điểm):

    - Các anh mời " tôi về làm ban trù bị đại diện (mặc cả làm phó ban, rồi thường trực). BCH đã uỷ nhiệm BTK làm ban trù bị đại hội, tôi không ở trong BTK nên không nhận.

    - Anh Thi đưa giải pháp lập Hội đồng biên tập, không phải tư vấn mà là chỉ đạo. Theo quy chế báo chí thì Tổng biên tập là người quyết định sau cùng, không thể có một hội đồng nào ở trên cả.

    - Cuối cùng, anh Thi và anh Chính Hữu họp toà soạn, tuyên bố quyết định của BTK buộc tôi thôi giữ chức Tổng biên tập (chỉ công bố miệng, còn giấy tờ thì vì lộn xộn, mãi đến nay vẫn chưa trao cho tôi). Tôi nói: " Tôi chấp hành quyết định của BTK, để các anh khỏi ngji4 rằng tôi muốn bám lấy cái ghế này. Nhưng các anh còn nợ tôi một cái: Quyết định hợp thức của Ban tuyên huấn Trung ương và Bộ thông tin, và lý do tại sao đình chỉ công tác Tổng biên tập đối với tôi ".

    Từ đó tới nay, họ vẫn im lặng.

    Tô Nhuận Vỹ:

    - Vừa rồi, anh Thi cho tôi biết về đề nghị lập hội đồng biên tập, anh Nguyên Ngọc không chấp nhận. Bây giờ tôi mới hiểu ra là một thứ Hội Đồng Thái Thượng Hoàng như vậy. Tôi là Tổng biên tập của Sông Hương, tôi biết: Đó là một cái không thể chấp nhận được với bất cứ Tổng biên tập nào, theo quy chế báo chí của cả nước.

    Xuân Hoàng:

    - Tôi được biết, hiện đang xẩy ra sự phân hoá trong toà soạn báo Văn Nghệ, về thái độ với sự ra đi của anh Nguyên Ngọc. Tôi cho rằng sự phân hoá đó theo chiều hướng nào, sẽ là thước đo về đạo lý và nhân cách ở từng con người.

    Nguyên Ngọc: (kết thúc, giọng trầm lắng, công chúng xúc động)

    - Đọc Pastenak, tôi thấy bi kịch Zhivago vẫn là của một người đứng ngoài, đứng trên cả nước Nga mà đau. Còn bi kịch của tôi: một người trong cuộc, đảng viên, cầm súng, nhiệt thành xây dựng CNXH mấy mươi năm. Thế mà tại sao Tình yêu của chính mình lại bị giày đạp đến như vậy!

    (Hoàng Phủ Ngọc Tường ghi)

    phỏng vấn Nguyên Ngọc
    Tổng biên tập báo Văn Nghệ


    o0o

    Trích từ tạp chí Sông Hương

    PV: Theo anh, báo Văn Nghệ phải nhập cuộc như thế nào vào sự đổi mới?

    Nguyên Ngọc: Trong công cuộc đổi mới Văn Nghệ vào trận có hơi chậm; độc giả có người đã thất vọng. Đến giữa năm 1987, Văn Nghệ mới bắt đầu chuyển.

    Về hướng chung, tờ báo nào cũng phải đối diện thật với những vấn đề gay gắt của cuộc sống thật. Nhưng Văn Nghệ phải có cách làm riêng của nó. Văn Nghệ không thể dừng lại ở vụ việc, mà có thể - và phải đi sâu vào căn nguyên xã hội của nó. Khi chỉ nói đến một vụ việc cụ thể thì tuy có đích danh, nhưng chỉ động đến một hai người, còn khi qua vụ việc đó mà vạch ra cái cơ chế vô lý, trì trệ, cần cấp thiết tháo gỡ, thì động đến những vấn đề chung của toàn xã hội như thế thì sâu sắc hơn, nhưng tất nhiên khó khăn hơn.

    Những mảng phải chú ý đầu tiên là lý luận phê bình và văn xuôi.

    Trong lý luận phê bình còn tồn tại không ít vấn đề gây cấn (như việc đánh giá văn học ta, quan hệ giữa văn học với hiện thực, văn học với chính trị,...), mà việc giải quyết chúng, hay ít nhất dám thảo luận về chúng, sẽ hổ trợ và mở đường cho sáng tác. Chúng tôi mời một số nhà lý luận phê bình viết bài, nhưng có người viết người không. Để tạo điều kiện cho họ có thể phát biểu ý kiến mà không phải viết bài, chúng tôi tổ chức thảo luận bàn tròn.

    Về văn xuôi, chúng tôi chú trọng và có ý định khôi phục một thể loại giàu tính chiến đấu nhưng bị mai một, đó là phóng sự. Chúng ta từng có nhà văn viết phóng sự rất giỏi. Vũ Trọng Phụng chẳng hạn.

    Ban đầu chúng tôi còn thăm dò, với bài " Sách và ba điều vô lý ", tuy vậy, không phải không bị phản ứng. Và khi đến " Lời khai của bị can " thì đã vạch ra cái cơ chế vô lý muốn " chặt bằng đầu " tất cả: những người giỏi, ngoi lên làm giàu một cách chính đáng, đều bị đẩy bật trở lại đám đông trung bình. Là văn học nhưng cũng là báo chí, chúng tôi phải cẩn thận; đằng sau " Lời khai của bị can ", chúng tôi có hang trăm trang tài liệu. Tuy thế mà các cơ quan có trách nhiệm trong vụ này chưa phải đã chịu đâu.

    Điều quan trọng là với " Lời khai của bị can ", chúng tôi tin mình đã đi đúng hướng. Tuy nhiên, cho đến cuối năm 1987, tất cả mới chỉ là prelude. Đầu năm 1988, chúng tôi cố gắng đào sâu vấn đề hơn nhất là về nông thôn. Bắt đầu là " Suy nghĩ trên đường làng " (lúc đó chúng tôi đã có trong tay " Cái đêm hôm ấy... đêm gì? ", nhưng đầu năm, chưa nên gây cấn quá ngay. Sau đó là " Người đàn bà quỳ ", " Đêm trắng ", " Công lý, đừng quên ai! ". Nếu " Cái đêm hôm ấy... đêm gì? " vạch ra thực trạng đời sống nông thôn, " Người đàn bà quỳ " nêu bật lòng khao khát dân chủ, thì " Đêm trắng " động đến vấn đề cơ chế quản lý ở nông thôn. Đấy chính là vấn đề rất sâu xa.

    Báo " Văn Nghệ " muốn đánh lên một tiếng chuông và tham gia giải quyết các vấn đề xã hội. Nhưng nhân dân cũng có cách giải quyết của mình. Cho nên, chúng tôi sẽ đưa lên Văn Nghệ những con người mới, cách làm mới; những người dân Thổ Tang trên số báo Văn Nghệ sắp tới ví dụ. Thực sự là mới thì bao giờ cũng lạ, rất lạ vì thoát ra ngoài quan điểm chính thống, phá vỡ định kiến của chúng ta. Ủng hộ cái mới và đả phá cái cũ là hai việc phải làm song song.

    Nhưng lại có mặt khác của vấn đề. Không phải cứ nhất thiết bàn đến chuyện quản lý, chuyện tích cực, tiêu cực theo kiểu Ovetskin trong " Chuyện thường ngày ở huyện ", thì mới là thời sự. Còn một kiểu thời sự khác, đấy là cái thời sự kiểu " Con tàu trắng " hay " Đoạn đầu đài " của Aitmatov. Cho nên, chúng tôi rất mừng có được Nguyễn Huy Thiệp với " Tướng về hưu ", " Muối của rừng ", " Kiếm sắc "...(Trong mạch suy nghĩ đó, tôi cho rằng Đêm nhạc Văn Cao không làm chúng ta mềm yếu đi như có người đã lo, mà trái lại, giúp chúng ta mạnh lên trong cuộc sống).

    Đến nay, sau khi các mảng lý luận phê bình và văn xuôi đã tương đối có hướng đi, chúng tôi bắt đầu chú trọng về thơ. Và khi bắt tay vào xây dựng mảng thơ, mới vỡ lẽ không phải trước đây thơ không hay là do tình trạng chung về thơ vốn làng nhàng như thế. Thơ trên Văn Nghệ đã bắt đầu chuyển động. Chúng tôi cho rằng rồi đây có thể thơ còn dữ dội hơn cả văn xuôi. Nghe đâu đã có nơi quy định phổ biến báo Văn Nghệ trên các phương tiện truyền thông địa phương thì phải được cấp nào đó duyệt đặc biệt là thơ!

    Một số đồng chí trong các cơ quan quản lý, chúng tôi biết, rất lo Văn Nghệ đi quá đà, kích động quần chúng, làm nặng nề hơn tình hình. Chúng tôi không nghĩ thế. Sự đổi mới làm tăng lòng tin của quần chúng, chỉ có bảo thủ mới làm mất lòng tin mà thôi. Quần chúng đã được tôi luyện trong lò lửa chiến tranh. Hoàn toàn có thể tin vào sự hiểu biết của quần chúng. Ta nói lấy dân làm gốc, sao cứ sợ dân dốt!

    PV: Trong tình hình hiện nay, những khó khăn chủ yếu của một Tổng biên tập, chẳng hạn Tổng biên tập báo Văn Nghệ, là như thế nào, thưa anh?

    Nguyên Ngọc: Theo tôi có hai loại khó khăn.

    Một là, yêu cầu của người phụ trách rất cao. Ta đang sống trong một quá trình thay đổi để tiến lên trong một tình hình phức tạp, khó khăn và tế nhị. Lại còn có giặc ngoài nữa. Cho nên, khó khăn nhất là người chủ trì phải định hướng cho đúng, tính đường đi nước bước cho đúng. Văn Nghệ được độc giả trông chờ, theo dõi từng số một. Trước đây chúng tôi có thể dềnh dàng, nay thì không được nữa. Đây là cái khó khăn của sự trưởng thành.

    Hai là, tiến nhanh thì lực cản càng quyết liệt hơn. Có thế lực bảo thủ vì quyền lợi mà chống, nhưng cũng có người chân thành lo lắng mà cản.

    PV: Anh hình dung như thế nào về một Tổng thư ký sắp tới của Hội nhà văn?

    Nguyên Ngọc: Công việc sáng tác là của từng người, Hội hà văn không thể bao biện gì được. Vấn đề là phải tạo điều kiện cho hội viên làm việc. Tổng thư ký không thể làm cho người không có Raphael trong mình thành ra Raphael được. Cũng như quản lý kinh tế, trong quản lý văn nghệ, chúng ta bao cấp tất, " tổ chức " tất, không để cho phát triển tự nhiên. Một sự phát triển tự nhiên phải là: nhà văn có tài thì được quan tâm, sao cho có thể bộc lộ hết tài năng của mình, còn nhà văn bất tài thì không cần phải quan tâm lắm. Mà tài năng thực sự thì không những bao giờ cũng hiếm, mà còn lạ. Tôi cho rằng, Tổng thư ký phải là người biết quý trọng tài năng.

    PV: Nhiều người có ý kiến trong Đại hội sắp tới Tổng thư ký nên được bầu trực tiếp. Còn ý kiến anh?

    Nguyên Ngọc: Nên giao quyền làm chủ thực sự cho Đại hội. Ta không nên cho mình khôn ngoan hơn 500 nhà văn. Và nếu 500 nhà văn chọn một Tổng thư ký không xứng đáng, thì điều đó cũng phản ánh đúng trình độ của nhà văn ta, vì mình kém nên chọn một ông Tổng thư ký kém! Còn nếu nhỡ giữa nhiệm kỳ Tổng thư ký có " làm sao " đó, thì Ban chấp hành cử người thay, có sao đâu.

    Hoàng Dũng thực hiện
    (Trích Sông Hương số 31 tháng 5 & 6-1988)


    (còn tiếp)

  41. Thanks twelve thanked for this post
  42. #23
    Join Date
    Jul 6th 2010
    Posts
    240
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    71

    Default

    (tiếp theo)

    Vấn đề cách chức Nguyên Ngọc


    Phỏng vấn Dương Thu Hương

    Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh (PNTPHCM):

    - Thái độ của chị là ủng hộ anh Ngọc triệt để... Đúng không? Có lẽ chị rất ngưỡng mộ anh Ngọc?

    Dương Thu Hương:

    - Tôi không ngưỡng mộ anh Ngọc, mà tôi công bằng với anh ấy. Tôi quý trọng và ủng hộ phần đóng góp của anh ấy với báo, với phong trào dân chủ hoá và đổi mới hiện nay. Nhưng tôi đã phê phán hành động nhu nhược của anh Ngọc trong cuộc họp Ban chấp hành Hội nhà văn (ngày 9-9-88). Lẽ ra, anh Ngọc không được để số đông áp đảo, không được giơ tay bỏ phiếu một cách mê mụ đến thế. Lẽ ra, anh ấy phải bảo lưu ý kiến của mình cho tới cùng. Nếu mặt trời đã tròn, dù có đốt ta trên lửa cũng không thể công nhận rằng nó vuông.

    Nếu anh Ngọc không nhận thức được sai lầm của mình, tôi sẽ không còn quý trọng anh ấy nữa. Nhưng điều đánbg vui là anh Ngọc đã tự thấy hành động lầm lỡ của mình, thấy có lúc mình xúc phạm tới lòng tin cậy của bè bạn và làm tổn hại cho phong trào đấu tranh chung. Nhưng về phương diện con người, tôi cũng như các bạn sẽ cảm thông cho Nguyên Ngọc, đôi khi hoàn cảnh thật khắc nghiệt, chống chọi lại nỗi cô đơn và mỏi mệt cũng không dễ dàng gì...

    PNTPHCM:

    - Theo chị, ai có thể thay thế được vị trí của anh Ngọc?

    Dương Thu Hương:

    - Tôi là nhà văn chủ trương đạp đổ thần tượng nên không bao giờ tôi muốn đưa anh Ngọc lên vị trí thần tượng. Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn X, hay Y, anh hay tôi... đều không có giá trị gì về phương diện cá nhân. Chúng ta chỉ có giá trị, khi chúng ta là những con người có ích cho đất nước, cho dân tộc. Tại sao công chúng phản ứng dữ dội việc làm của Ban thường vụ Hội nhà văn? Vì lẽ việc làm ấy không chỉ nhằm vào một cá nhân Nguyên Ngọc với xu thế đổi mới trong báo chí, văn nghệ, mà nó đánh vào chính khát vọng của họ. Khát vọng dân chủ hoá, công khai hoá, khát vọng đổi thay một mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu trại lính, khát vọng cải tạo cấu trúc nhà nước và đưa đất nước khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu... Đối với khát vọng của quần chúng, những thành tựu của báo chí, văn nghệ vừa qua chưa thấm tháp gì. Theo tôi, nó mới thực hiện được phần nào chức trách công khai hoá, và rất ít ỏi yếu tố dân chủ hoá.

    Trở lại câu hỏi của anh, tôi xin trả lời rằng tôi chưa nghĩ tới ai đủ khả năng thay thế vị trí của Nguyên Ngọc. Nhưng tôi biết chắc chắn rằng những ai phải gánh vác trách nhiệm của anh ấy giờ đây, dù có tên hay chưa có tên, cũng rất khó làm việc. Có thể nguyên nhân đầu tiên không ở khả năng của họ mà là ở mối ác cảm của đồng nghiệp và công chúng.

    PNTPHCH:

    - Sự kiện vừa rồi là một hoàn cảnh bộc lộ nhiều nhất, rõ nhất sự phân hoá trong đội ngũ. Quan điểm của chị ra sao?

    Dương Thu Hương:

    - Tốt thôi, lửa thử vàng, gian nan thử sức. Thời nào cũng sẵn kẻ gian, kẻ nịnh, kẻ quay quắt tráo trở. Chẳng nên buồn, chẳng nên than thở. Hãy mỉm cười và tiếp tục góp sức vào công cuộc đổi mới.

    Trích báo PNTPHCM số ra ngày 24-12-1988


    Phỏng vấn Trần Bạch Đằng


    Tiền Phong:

    - Với tư cách là một nhà văn, ý kiến của đồng chí về sự kiện báo Văn Nghệ và việc nhà văn Nguyên Ngọc bị thuyên chuyển công tác?

    Trần Bạch Đằng:

    - Tôi quý trọng báo Văn Nghệ và anh Nguyên Ngọc. Tờ báo sau này " đổi mới " mạnh và tốt. Tuy nhiên, đến một mức nào đó thì Văn Nghệ bộc lột đôi nhược điểm, cũng dễ hiểu thôi: Không có cơn sinh nở nào không đau.

    Cá nhân tôi vài lần phát biểu với các anh Trần Độ, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Duy về " nguy cơ " đổi mới vấp trở ngại trong điều kiện thực tế của đất nước ta nếu không biết tự kiềm chế, xử lý liều lượng thích hợp, và không nên theo mô hình của bất kỳ nước nào. Hai lần, báo Văn Nghệ đăng quan điểm của tôi. Tôi đứng về phía đổi mới - tất nhiên, không phải từ hôm qua - nhưng tôi vẫn đinh ninh " những biên độ " cần lưu ý và đặt văn học trong tư trào chung.

    Mặt khác, tôi bảo vệ suy nghĩ sau đây: hãy tranh luận. Chân lý hiển hiện, dù tương đối và mang tính gia đoạn, qua cọ xát các ý kiến công khai, thẳng thắn, trung thực, hết sức tránh chuyện riêng tư vào văn chương. Tờ Văn Nghệ có bạn đọc - thích nó và không thích nó. Thế thì cứ nêu các khác nhau trên mặt báo nếu cái khác nhau ấy liên quan đến xã hội.

    " Cấm " là biện pháp xưa cũ, tuy chúng ta vẫn không tuyệt đối hoá " tự do " một khi cái tự do nào đó lại xâm phạm đến an ninh quốc gia, đến luân lý dân tộc, đến những vấn đề thuộc cương lĩnh chính trị của toàn dân, đến những chỗ thiêng liêng mà nhân dân xác tín. Tôi không tán thành " cấm " trên cơ sở ấy. Và, như thế, tôi không tán thành " thuyên chuyển " (hay một từ nào khác) vị trí Tổng biên tập của anh Nguyên Ngọc.

    Làm một tờ báo hay, vững vàng, thật không dễ. Sai sót thì đấu tranh, thì sửa. Ai dám vỗ ngực tự xưng mình không sai? Làm báo dở chẳng lẽ không sai? Tốn giấy, tốn viết mà chẳng ai đọc - vẫy mà chưa tổng biên tập nào bị " thuyên chuyển " cả! Giống như chuyện kinh tế: làm ăn lỗ thì được bù lỗ, làm ăn lãi rất lương thiện thì coi chừng bị thanh tra! Cái chết của chúng ta là ở chỗ đảo ngược như vậy.

    (Trích báo Tiền Phong số ra ngày 17-1-89)

    Lưu Quang Vũ


    Chim Sâm Cầm đã chết


    Bài viết của tác giả Vũ Hạ


    Make it not your goal
    That in the hour of death
    You yourself be better
    Let it be your goal
    That in the hour of death
    You leave a better world


    Bertolt Brecht (1)

    (trích " Saint Joan of the Stock yards" )

    Khi viết về Bertolt Brecht, nhà nghiên cứu kịch nghệ nổi tiếng Martin Esslin đã phải kêu lên là quá tiếc khi kịch tác gia lỗi lạc này qua đời khi còn quá trẻ. Brecht sinh ngày 10 tháng 2, 1898 và mất ngày 14 tháng 8, 1956, hưởng dương 58 tuổi.

    Với 58 tuổi đời, Brecht đã để lại cho hậu thế một văn sản đồ sộ gồm kịch , văn, thơ... và hàng triệu trang giấy viết về ông của người đương thời và thế hệ trẻ hôm nay.

    Nhìn trở lại quê hương Việt Nam - một Việt Nam, giờ đây, đã " nghìn trùng xa cách " - một người viết kịch trẻ, rất trẻ, tuy danh tiếng không thể so với Brecht, nhưng tài nghệ đang phát triển, vừa mới qua đời trong một " tai nạn " thảm khốc khi vừa mới 40 tuổi. Chúng tôi muốn nói đến kịch tác gia LƯU QUANG VŨ, như nói về một loài chim quý mà khung trời nhỏ hẹp, khép kín của một mảnh đất lầm than, tang tóc đã trót giết đi.

    Ôi, Chim Sâm Cầm Đã Chết (2)

    Viết về một người không quen, trong ghoàn cảnh thiếu thốn tài liệu, và nhất là người ấy lại là một kịch tác gia thì quả thật là một điều khó khăn. Vì kịch, chính nó, không thể được xem như là một bài thơ, một đoạn văn. Nó phải có đời sống của nó. Nó phải nói, cười, sống và chết. Nghĩa là kịch chỉ trọn vẹn chuyên chở ý tình khi được dàn dựng trên sân khấu với diễn viên và khán giả thưởng ngoạn. Tuy thế, khi được đọc HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT và BỆNH SĨ hai vở kịch độc nhất tôi có được trong số 53 kịch bản của LƯU QUANG VŨ tôi thấy trong trí tưởng, nhốn nháo những bàn tay vẫy gọi, tưng bừng tiêng hò reo của triệu triệu khán giả vây quanh những nhân vật thật sống, thật linh động như Trương Ba, anh hàng thịt, ông Nha, bác Độp, Văn Sữu, cô Nhàn, anh Hưng...

    Những bàn tay vẫy gọi đó, những reo hò kia đã thôi thúc tôi viết những dòng này như một hoà nhịp, một nối tiếp, một cảm thông.

    Nhưng đối với phần đông chúng ta, những người đang phải sống lạc loài trên khắp đất nước người, thì LƯU QUANG VŨ là ai?

    LƯU QUANG VŨ sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948 tại thôn Gia Điền, xã Thiện Cơ, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ. Bố là nhà thơ kiêm kịch tác gia Lưu Quang Thuận, quê tại Đà Nẵng. Lúc trẻ, Vũ họ ở Hà Nội, từ 1955. Năm 1965, chưa tốt nghiệp trung học, Vũ nhập ngũ (bộ đội Cộng Sản) và bắt đầu sáng tác thơ. Xưất ngũ năm 1970, Vũ sống chật vật bằng nhiều nghề khác nhau, với gánh nặng gia đình là một vợ (nữ diễn viên điện ảnh Tố Uyên) và một con. Sau đó không lâu hai người ly hôn. Đến năm 1973, Vũ kết hôn với nhà thơ Xuân Quỳnh và có một con trai với nhà thơ này.

    Từ 1980, Vũ chú tâm vào việc viết kịch. Những kịch bản giá trị của Vũ gồm có: Mùa hạ cuối cùng (1981), Nàng Sita (1982), Hẹn ngày trở lại (1984), Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt (1981), Bệnh Sĩ (1988), Tôi và chúng ta (1984)...Có thể nói là hầu như tất cả các vở kịch của Vũ đều được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: thoại kịch, ca kịch, chèo, cải lương, truyền hình. Và nếu căn cứ vào số lượng 3, 485,000 khán giả đi xem bốn đoàn cải lương, diễn bốn vở trong ba năm (1981-1983) quanh quẩn vài tỉnh miền Trung, thì với 53 vở kịch do Lưu Quang Vũ biên soạn, với hàng trăm đoàn văn công và các phương tiện truyền thông khác biệt, số khán giả vài chục triệu xem các buổi trình diễn tác phẩm của Lưu Quang Vũ không phải là quá đáng!

    Ngày 27 tháng 8 năm 1988, Lưu Quang Vũ cùng vợ và con nhỏ đi Hải Phòng để làm việc với đoàn kịch. Hai hôm sau, trên đường trở lại Hà Nội, vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 29 tháng 8 năm 1988, chiếc xe hơi chở gia đình Vũ đã bị một chiếc xe khác đâm phải. Vợ và con Vũ chết ngay tại chỗ, riêng Vũ bị thương nặng, nhưng cũng trút hơi thở cuối cùng khi được đưa đến cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Hải Hưng.

    Lưu Quang Vũ chết đi để lại 53 vở kịch ( 46 kịch dài và 7 vở kịch ngắn), ba tập truyện ngắn, hai tập thơ và một cuốn biên khảo (" Diễn viên và sân khấu ", viết chung với Xuân Quỳnh) và nhất là sự ngưỡng mộ lẫn xót thương của hàng chục triệu khán giả.

    Với sức sáng tác phi thường đó, năm mươi ba vở kịch trong 10 năm ngắn ngủi cộng với số khán giả đông đảo ái mộ, quả thật Lưu Quang Vũ là một " hiện tượng " hiếm hoi về một bộ môn tương đối còn mới mẻ ở quê nhà. Trước hiện tượng đó, chúng ta tự hỏi nguyên do nào đã un đúc, thúc đẩy Lưu Quang Vũ trở thành kịch tác gia lỗi lạc?

    Sau khi đọc xong hai kịch phẩm " Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt " và " Bệnh Sĩ " cùng một số tài liệu rất hiếm hoi về Lưu Quang Vũ, tôi bỗng có ý liên kết các diễn biến của cuộc đời anh với kịch tác gia Bertolt Brecht vì giữa hai người có rất nhiều điểm tương đồng.

    Trước hết, điều không ai có thể phủ nhận được là cả hai đều đã sống trong chế độ Cộng Sản, mặc dù một người (Brecht) có cơ hội để chọn lựa còn người kia thì không.

    Lưu Quang Vũ sinh ra và lớn lên trong một xã hội Cộng Sản, một xã hội Cộng Sản Á Châu đầy đặc thù: lạc hậu, sắt máu, bưng bít và kềm chế tối đa. Tuy thế, với một tâm hồn nghệ sĩ, mầm mống sáng tạo luôn luôn là ngọn đuốc thổi rực lên sự thèm khát TỰ DO, nung đúc Ý TƯỞNG CƯỠNG CHỐNG LẠI GÔNG CÙM, khơi dậy CHÍ HƯỚNG ĐẠT THÀNH SỰ THẬT, và có lẽ, đó cũng là những nguyên nhân đã thôi thúc Lưu Quang Vũ viết từ thơ qua truyện đến kịch.

    Cái tâm hồn khoáng đạt, ưa chuộng tự do đó đã được thể hiện ngay trong đời sống của chính anh và được truyền qua những nhân vật truyện và kịch. Hãy đọc một đoạn sau đây do chính mẹ anh viết về cái " tự do " của người nghệ sĩ:

    " Thời gian cuối cùng đời lính, Vũ gặp một vài chuyện trắc trở. Có lẽ một phần là do cái chất " tự do " của nghệ sĩ không thích hợp với kỷ luật sắt của quân đội... Có thời gian Vũ ở một đơn vị mà người chỉ huy rất cứng nhắc và độc đoán, ông ta coi việc làm thơ là biểu hiện của sự yếu đuối, là việc có hại đối với một người lính. Có lần Vũ đã phải làm kiểm điểm và hứa trước đơn vị là " từ nay không làm thơ nữa ". Nhưng tất nhiên không thể giữ được một lời hứa như vậy. Vũ vẫn tiếp tục làm thơ ". (4)

    Vũ thích tự do, và mặc nhiên chống đối lại bất cứ một hình thức kềm kẹp, áp bức nào. Do đó, trong truyện ngắn " Nhà Thơ " (5), cậu bé Dương Cầm bị bố mẹ áp chế cùng cự để " nặn " ra thơ. Mới đầu cậu bé làm được nhiều bài thơ hay. Nhưng dần dần - vì bị bố mẹ cấm cung nặn bộ óc non nớt để sáng tác, không được đùa nghịch hồn nhiên như mọi đứa trẻ cùng tuổi - cậu bé chống đối lại bằng cách làm thơ diễu ông hàng xóm và cả người bạn thân (tác giả?) của bố mẹ. Khi được hỏi lý do của hành động chống đối đó, câu bé trả lời:

    " Về những câu hỗn với chú, cháu xin lỗi chú. Cháu làm vậy lả để... bố cháu đừng bắt cháu làm thơ nữa. Cháu chán lắm rồi! Cháu không thích làm thơ, bố cháu cứ bắt... cháu không được đi chơi. Không chịu được nữa, cháu phải liều...".

    Và cái kết hiển nhiên sau câu trả lời của cậu bé là " Tôi hiểu ra rồi... Nó cần sống như một đứa trẻ khác, bố nó muốn như cái cây bị uốn bẻ trái với tự nhiên, nó sẽ tìm cách vùng ra, nó là đứa trẻ khôn ngoan. ".

    Có lẽ trong cùng một quan niệm " Tự Do " sáng tạo đó, Brecht - mặc dù có khuynh hướng Cộng Sản - vẫn luôn luôn muốn được là một người viết độc lập, không bị lệ thuộc vào một đảng phái nào như khi ông điều trần trước Uỷ Ban Hạ Viện ngày 30 tháng 10, 1947.

    Trong nỗ lực phá vỡ mọi kềm hãm để tìm tự do, trước hết, người viết phải khai phá những nguyên uỷ, những động lực đã đưa đến sự kềm hãm đó. Trong tiến trình tìm tòi đó, người viết đã phải trực diện với mọi cảnh huống trần truồng. Đó là SỰ THẬT. Một sự thật - được nhìn ngắm, suy cứu và lọc đãi qua tài năng của người sáng tạo - hiển nhiên thanh hình. Trong trường hợp Lưu Quang Vũ, sự kết tinh là những kịch bản phản ảnh trung thực của đời sống, như bài thơ sau đây của Bertolt Brecht:

    I am a playwright. I show
    what I have seen. In mankind's markets
    I have seen how humanity is traded. That
    I show, I, the playwright
    . (6)

    Lưu Quang Vũ đã nhìn thấy sự thật với những hoạt cảnh đang xẩy ra quanh cái " chợ người " và những tráo trở khốn cùng, bệ rạc nên những " Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt ", " Bệnh Sĩ " mới thành hình.

    Hãy cùng Lưu Quang Vũ dựng lại cảnh đời ở xã Cà Hạ trong kịch bản Bệnh Sĩ.

    Ông Nha, chủ tịch xã, muốn đổi mới tất cả, từ tên xã đến mọi công tác sinh hoạt trong xã, mời dân chúng tụ họp trước trụ sở xã để nghe ông " thay trời đổi đất, sắp đặt giang sơn ". Có hai công tác chính được ông Nha chú tâm đến là đổi tên các chức vụ, sở, nha cũ thành các tên mới và triệt bỏ nông nghiệp trong vùng để " kỹ nghệ hoá ". Các tên mới nghe thật kêu, như tổ trưởng tổ nề mộc đổi thành Chủ nhiệm trung tâm xây dựng và kiến thiết cơ bản. Còn kỹ nghệ hoá là " sản xuất pháo"!

    Chung quanh ông Nha còn các ông Độp (sau đổi tên thành Mạnh Tuấn giữ chức Chủ nhiệm trung tâm triệt sản gia súc Hùng Tâm thay vì Bùi Văn Độp, hoạn lợn). Văn Sửu, ông Thình tị toe kiểm điểm.

    Trong các nhân vật phụ, Nhàn và Hưng, còn giữ lại ít điều tốt đẹp của nhân tính giữa cơn xoáy cuồng nộ.

    Tóm lại, " Bệnh Sĩ " quả thật bình thường, cái bình thường mang đầy tính chất khắc nghiệt của bi hài kịch. Những nhân vật bình thường, đầy nhân tính, bị quấy lộn trong một xã hội đảo điên mà mọi thứ đều căn cứ trên cái phần giả nguỵ để cuối cùng nổ tung như những thùng thuốc pháo chất chứa trong xã Cà Hạ.

    Nếu " Bệnh Sĩ " được dàn dựng trên những cái " bình thường " thì " Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt " lại được cấu tạo bằng những cảnh Tiên và Tục xen lẫn nhau.

    Ông Trương Ba, một người hiền lành, bị Nam Tào, Bắc Đẩu, vì mê xôi thịt nơi thiên đình, xoá tên trong sổ sinh. Vì chồng chết oan, vợ Trương Ba lên trời khiếu nại, được Đế Thích giúp cho Trương Ba sống lại, nhưng phải nhập và xác anh Hàng Thịt.

    Nhưng xung đột, đầy kịch tính, phát sinh vì những mâu thuẫn không thể hoà hợp được giữa HỒN và XÁC để cuối cùng, một lần nữa, hồn Trương Ba " chết ". Chết có nghĩa là dứt khoát, là đoạn tuyệt với cái thân xác của gã Hàng Thịt.

    Với vở " Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt ", Lưu Quang Vũ đã đi quá xa, ra khỏi ranh giới truyền thống của người Cộng Sản. Từ xưa đến nay, điều cấm kỵ của người Cộng Sản là nói đến những điều không thực, những cái có tính cách siêu hình như thần tiên, thượng đế, linh hồn... Thế mà, Lưu Quang Vũ đã đề cập đến điều cấm kỵ đó một cách độc đáo. Những " tiên ông " như Nam Tào, Bắc Đẩu, Đế Thích hiển lộng như những người thường. Đặc biệt hơn nữa là hồn Trương Ba sống một đời sống thật với cái trái ngang của sự ép buộc trong một thân xác khác. Ở đây, ta thấy cái tương đồng và dị biệt giữa Lưu Quang Vũ và Brecht thật rõ rệt.

    (còn tiếp)

  43. Thanks twelve thanked for this post

Similar Threads

  1. Replies: 0
    Last Post: 02-15-2015, 15:39
  2. Replies: 0
    Last Post: 09-30-2014, 19:00
  3. Replies: 5
    Last Post: 06-18-2014, 22:12
  4. Replies: 0
    Last Post: 05-06-2014, 22:07
  5. Trăm năm tàu sân bay trên Thái Bình Dương
    By vinamaster in forum Phóng Sự
    Replies: 7
    Last Post: 08-17-2011, 21:59

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •