Page 4 of 5 FirstFirst 12345 LastLast
Results 76 to 100 of 119

Thread: Tích Truyện Phật Giáo

  1. #76
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Hối Lỗi Sinh Cõi Trời


    HỐI LỖI SINH CÕI TRỜI

    Cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm về trước, ở Ấn Độ, đâu đâu cũng có thể nghe được tiếng thuyết pháp của đức Phật. Để pháp âm vi diệu được lưu truyền mãi mãi, cứu vớt chúng sinh đang trầm luân trong biển khổ, Ngài không ngại gian nan, không phút nào nghỉ ngơi, kim thân Ngài vì thế đã đi qua hết mọi hang cùng ngõ hẻm của nước Ấn Độ.

    Có một lần, đức Phật dừng chân ở núi Linh Thứu nước Ma Kiệt Đà, thuyết pháp giảng kinh cho rất nhiều đệ tử. Lúc đó, vua nước Ma Kiệt Đà là Tần Bà Sa La, dẫn đầu một đoàn đại thần rất đông lên núi Linh Thứu, chắp tay cung kính lễ dưới chân Phật rồi bạch rằng:

    – Bạch Thế Tôn, Ngài là đấng đại từ bi, là đức Phật cao cả, con nay xin thỉnh cầu, nguyện Thế Tôn dùng ánh sáng từ bi chiếu rọi vào rừng trúc, dùng đại uy lực vô úy của Phật mà hàng phục con rắn độc ở trong đó, để nó đừng hại người ta nữa.

    Số là cách Vương Xá Thành không xa, trong khu rừng trúc có một con rắn độc ghê rợn ẩn náu. Giả như có người đi ngang khu rừng đó, thì lửa giận của nó phừng lên, nó bèn nhìn người ấy một cách độc ác. Nếu như người đó đến gần nó hơn một chút thì nó liền dùng khí độc làm hại, hoặc dùng răng độc cắn người ấy. Vết thương dầu nặng dầu nhẹ, cuối cùng người ấy cũng sẽ táng thân mất mạng.

    Vì vậy có người mới đem chuyện này tâu lên quốc vương, thỉnh cầu vua tìm cách giải quyết. Nhà vua nghĩ tới nghĩ lui tìm đủ mọi biện pháp, lại vì đã có rất nhiều người muốn trừ khử con rắn độc này mà đều bị nó giết chết, nên vua chỉ còn một cách là cầu cứu đức Phật.

    Đức Phật bằng lòng giúp nhà vua, nên một hôm, Ngài một mình một thân đi bộ thẳng vào khu rừng trúc, nơi con rắn độc đang ẩn náu. Con rắn độc nhìn thấy đức Phật từ xa, tâm sân hận nổi lên, nó đăm đăm nhìn đức Phật rồi còn há miệng thật to, thè cái lưỡi đỏ ra tính vồ tới làm hại Ngài. Đức Phật vận dụng lực từ bi, từ mỗi đầu ngón tay của Ngài phát ra năm tia sáng năm màu. Những tia sáng năm màu rực rỡ này chiếu lên thân rắn khiến nó lập tức trở nên hiền lành, độc khí tiêu tan, tâm hoan hỉ phát sinh. Nó ngóc đầu lên chiêm ngưỡng đức Phật và suy nghĩ trong đầu rằng:

    – Người này từ đâu tới, tại sao lại có thể phát ra ánh sáng kỳ diệu chiếu lên thân ta, khiến cho thân tâm ta cảm thấy mát mẻ sảng khoái như thế này?

    Đức Phật biết là con rắn độc đã được điều phục rồi, nên nói với nó rằng:

    – Trưởng giả Hiền Diện, trong những kiếp trước ngươi là người keo kiệt tham lam, ngươi có biết tội của mình đã làm không? Trong thời quá khứ, tuy rất giàu sang phú quý nhưng tâm keo kiệt và đố kỵ rất mạnh, ngươi chuyên làm việc dối trá gạt người, không có việc ác nào mà ngươi không làm, chưa từng một lần bố thí vật gì cho ai. Cái người hành khất đáng thương kia đến xin, ngươi đã không cho hạt gạo nào thì chớ, còn nổi giận nhìn người ta một cách dữ dằn, dùng lời độc ác mắng người ta. Vì thế, kiếp này ngươi mới phải chịu quả báo mang lấy hình thù xấu xí, tại sao ngươi vẫn chưa chịu phản tỉnh mà sám hối? Tại sao lại còn sinh tâm ác độc mà nhiễu hại những người đi ngang qua đây? Tội nghiệp của ngươi đã nặng lắm rồi, bây giờ còn tiếp tục tạo nữa, ngươi muốn chịu khổ cho tới chừng nào mới ngưng? Nếu ngươi cứ theo đà này thì quả báo khổ đau về sau sẽ vô cùng vô tận, cả ngàn vạn kiếp cũng không thoát ra được.

    Âm thanh từ bi của giọng nói đức Phật đã đánh vào tận tâm can con rắn một cách mạnh mẽ. Nó nghe pháp âm rồi, liền thấy rõ ràng điều sai quấy mình đã làm, sinh tâm tàm quý và sám hối tội lỗi trước mặt đức Phật.

    Đức Phật thấy nó đã rõ ràng tự biết tội mình và thật lòng muốn cầu giải thoát, nên nói với nó:

    – Kiếp trước ngươi không biết làm việc thiện nên mới chịu mang thân rắn này, ngày nay ngươi biết tỉnh ngộ để lãnh hội sự giáo hóa của Phật thì ngươi có thể thoát ra khỏi biển khổ được.

    Rắn độc nghe thế, tự nhiên biết mở miệng nói:

    – Bạch Thế Tôn, con không dám làm trái lời giáo huấn từ bi của Ngài, từ nay về sau con xin nguyện kính cẩn làm theo.

    – Thế thì ngươi hãy chui vào bát của ta.

    Đức Phật vừa dứt lời, con rắn đã tuân lệnh bò ngay vào bình bát của Ngài. Đức Phật bèn ôm bát ra khỏi rừng trúc. Nhà vua cùng rất nhiều người nghe tin ấy, vội vàng vào rừng xem câu chuyện diễn tiến ra sao. Khi con rắn nhìn thấy người ta, lòng cảm thấy hổ thẹn và chán ghét thân hình rắn độc của mình, liền chết ngay tại chỗ. Mạng sống vừa dứt, nhờ nó đã chân thành sám hối với tâm muốn phục thiện nên được sinh lên cung trời Đao Lợi, hưởng phúc cõi trời.

    Một hôm, tại tinh xá Trúc Lâm, trong không trung bỗng có người ngâm kệ tán thán đức Phật rằng:

    Đại Thánh tôn cao cả,

    Phúc huệ đều đầy đủ.

    Ngày xưa con ngu si,

    Được Phật khai sáng mắt.

    Ơn như mặt trời huệ,

    Diệt sạch cấu phiền não,

    Vượt qua biển sinh tử.

    Sức Phật không nghĩ bàn,

    Nhờ Ngài nên thân rắn,

    Nay được sinh cõi trời.

    Trưởng giả Hiền Diện nhờ lòng hối lỗi nên đã được sinh về cõi trời. Vì thế, hỡi những người giàu có, xin đừng keo kiệt giữ rịt lấy tiền của không chịu bố thí, để khỏi bị quả báo về sau sinh làm rắn độc!

    Truyện Cổ Phật Giáo

  2. Thanks nguacon, tu kien, vinamaster, Hieunguyen11, minh ton thanked for this post
  3. #77
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Bất Thối Tâm


    BẤT THỐI TÂM

    Thuở xưa có một người, tuy không được ai giáo hóa cho, nhưng vì đụng chạm trong đời, bị chuyện thế sự dầy vò, chuyện thị phi nhân ngã làm cho khốn đốn quá nhiều nên vô cùng phiền não và đâm có những suy nghĩ như sau : một con người trầm luân trong cõi trần lao này, cuối cùng được cái gì ? Trong vũ trụ mênh mông con người bé nhỏ li ti chỉ như một hạt cát của sông Hằng, thế mà suốt ngày tâm trí chỉ dùng trong việc tranh đoạt hoặc lừa gạt dối trá bên ngoài, đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời mang theo được gì ? Một đời người như thế, thử hỏi có ý nghĩa nào không ?

    Ông lại nghĩ đến đời sống của người tu, đó là những người làm việc vì chúng sinh, đời sống như thế thì cao cả biết bao ! Những người tu ít nhất không bị thế sự trần lao làm cho khốn đốn phiền não, hơn nữa, họ còn có thể đắc được thánh quả của sự giải thoát trong tương lai. Nghĩ đến đây, ông rời bỏ gia đình đi tu làm sa môn.

    Vị sa môn này từ sáng sớm đến chiều tối chăm chỉ tu học, không phút nào dám giải đãi. Chỉ cần nhớ lại đời sống của ông lúc trước và cái quả vị thánh mà ông nhắm đến trong tương lai cũng đủ thôi thúc ông chuyên cần học đạo.

    Nhưng năm này sang tháng khác đã trôi qua mà ông vẫn chưa chứng đắc được quả vị nào, không lẽ công phu sâu dày như thế mà vẫn không đúng đạo hay sao ? Ông càng nghĩ càng lo sợ, hẳn là mình đã lầm đường lạc lối hay đang bị ma phá ? Ôi ! Chẳng thà trở về nhà làm kiếp phàm phu cho rồi, cần gì phải tu hành khổ sở như thế này !

    Ông lấy quyết định sửa soạn bỏ về nhà rồi bỗng lại do dự. Sự thành công hay thất bại có khi được định đoạt chỉ trong một niệm : bỏ đi thì mấy năm cần khổ học đạo vừa qua coi như đổ xuống sống xuống biển, hy vọng ngộ đạo coi như mất vĩnh viễn ; còn nếu lấy lại tinh thần để tiếp tục con đường tu hành, biết đâu có thể thành tựu một ngày nào đó chăng ?

    Trong lúc những ý nghĩ nên đi hay nên ở như thế đang quay cuồng trong đầu ông, thì có một vị thần cây trong núi thấy thế cảm thấy xúc động, vì trong kiếp trước đã từng có nhân duyên với ông. Thần cây rất lo lắng cho ông, biết rằng nếu ông trở về thì sẽ vĩnh viễn trôi nổi trong biển rộng sinh tử.

    Thần cây bèn dùng chút thần thông thử thách, biết đâu xoay chuyển được ý chí của ông và giúp cho ông thành tựu đạo nghiệp ? Thần cây bèn hóa thành một vị tỳ kheo ni xinh đẹp, ăn mặc diêm dúa, đeo đầy nữ trang châu báu, ưỡn ẹo làm dáng đến trước mặt vị sa môn.

    Vị sa môn thấy thế không chịu được, bèn nghiêm sắc mặt lại mà mắng rằng :

    - Cô là tỳ kheo ni, là người xuất gia học đạo, tại sao lại mặc quần áo của người thế tục ? Tại sao lại làm bộ làm tịch để làm quáng mắt người khác ?

    Hóa nhân tỳ kheo ni trả lời :

    - Chuyện ấy có quan hệ gì ? Quần áo, nữ trang chỉ là huyễn hóa, phấn son chỉ là mầu sắc, thì có gì đáng tham luyến đâu ?

    Tất cả đều là giả tướng, chính thân của ông bộ cũng không đồng một thể hay sao ? Trước mắt thì thấy có tuổi thanh xuân, có sức khỏe dồi dào, nhưng một khi vô thường đến, đất nước lửa gió phân tán rồi, thì chủ của thân ấy ở đâu ? Vô tướng, thật tướng, chân như vốn bất sinh bất diệt, biết rõ các pháp bổn lai là như thế thì chứng đạo có chi là khó khăn ?

    Một con người sống trên thế giới này giống như mặt trăng trên trời vậy : một mình một bóng, đến một mình và đi cũng một mình, trên thân đến không mang một thứ gì và cũng sẽ không một thứ gì trên thân mà đi, không có vật chi thuộc về mình một cách chân thật.

    Chúng sinh ngu si, trong những hoàn cảnh hư huyễn không thật mà sinh tham luyến, mê say đến nỗi tự ràng buộc mình vào đó. Không phải cảnh giới mê hoặc con người, mà chính là con người tự đắm chìm vào cảnh giới ; không phải phiền não trói buộc con người mà chính là con người tự đi tìm phiền não để cột ràng mình vào. Vì mê lầm mà tham ái cảnh vật hư huyễn không thật nên suốt một đời sống như mộng, như say, như si, mà còn ngày đêm oán trời hận người. Họ không hiểu cái khổ không phải là cái gì tự có, mà là do ác nghiệp của chính họ chiêu cảm đến.

    Chúng sinh thật đáng thương. Họ ngẫu nhiên tạo được vài nhân thiện, chiêu cảm được vài phúc báo, thế là dương dương tự đắc mà không hiểu rằng phúc báo cũng chỉ là giả tạm. Một khi nếm cái mùi giả tướng của thế gian rồi tham luyến nó, thì sẽ thấy cái vui sướng rất khó mà đi theo thân mình mãi mãi, ngược lại cái tai họa thì như bóng theo hình, một giây một khắc cũng không rời. Muốn cầu cái vui sướng tự tại vĩnh viễn thì phải liễu ngộ vấn đề sinh tử, phải vĩnh lìa tham dục và tạo tác.

    Trong tam giới, dĩ nhiên cũng có những vị được rất nhiều phúc báo ở cõi trời, nhưng những vị này rồi cũng có lúc hưởng hết phúc và phải bị đọa lạc. Pháp Phật có nói : người ở trong gia đình như ngồi trong lao tù, mà cái tầng trời cao nhất của ba cõi cũng chỉ như lao tù. Chỉ có cái học vô lậu mà chư Phật và chư bồ tát đã tu học, tức là quán chiếu cái tướng "không" của chư pháp, và dừng bỏ cái thấy lệch lạc là có sự sai biệt giữa ta và người, mới là cái cảnh giới thường hằng an vui cứu cánh.

    Hóa nhân tỳ kheo ni nói thao thao bất tuyệt một hồi, như một thùng nước sạch dội lên tâm trí của vị sa môn. Ông suy xét kỹ lưỡng ý nghĩa của từng câu nói mới nghe. Ðúng thế, cái giả tướng vốn do tứ đại hòa hợp, chúng sinh vì quá ư say đắm cái giả tướng này mà tự hại lấy mình.

    Khi giác ngộ được rằng pháp tính vốn là không, con người sống ở trên thế giới này như một du khách đi qua xứ khác chơi, thì nhìn chúng sinh trong mười phương thật sự không thể nói được là có thân có sơ.

    Vị sa môn nhờ thế mà tâm hồn trở nên cởi mở, xả bỏ hết mọi quái ngại. Ý nguyện ban đầu kiên cố trở lại, ông chăm chỉ tu học và về sau đắc được đại tự tại.

    Trích từ truyện cổ Phật Giáo - Nguyên bản chữ Hoa: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn- (Việt dịch: Diệu Hạnh Giao Trinh)

  4. Thanks vinamaster, Hieunguyen11, minh ton, tu kien thanked for this post
  5. #78
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Định Nghiệp Khó Tránh


    ĐỊNH NGHIỆP KHÓ TRÁNH

    Thuở Phật tại thế, có một vị Tỳ kheo số phận xui xẻo mặc dầu thầy tu hành rất tinh tấn, giới hạnh trang nghiêm mà không bao giờ được no đủ. Số “con rệp” ấy đeo đuổi thầy mãi cho tới khi mãn phần, sau khi đã đắc quả A La Hán. Ðến ngày lâm chung, nhờ thần lực của Tôn giả Xá Lợi Phất, vị Tôn sư của thầy, thầy mới ăn được một bữa no lòng trước khi lìa đời.

    Thầy xui xẻo từ khi còn trong bụng mẹ. Chẳng những riêng thầy xui xẻo, mà thầy còn mang sự bất hạnh đến cho tập thể trong đó có hiện diện của mình. Thầy là con của một gia đình đánh cá ở một làng ven biển có 1000 hộ khẩu. Từ khi nhập thai mẹ, cả làng đi biển không đánh được một con cá nào suốt cả tháng, mọi người phải ăn rong biển cho đỡ đói lòng. Họ bắt đầu nghi ngờ có một gia đình hắc ám trong làng đã đem đến tai họa cho tất cả. Do đó họ cố tìm cho kỳ được cái gia đình xui xẻo ấy để loại ra khỏi tập thể. Phương pháp họ làm là họ chia hai số hộ khẩu trong làng thành hai nhóm, mỗi nhóm 500 gia đình để làm ăn riêng, sinh hoạt riêng. Kết quả là một nhóm bắt đầu khá giả trở lại, một tiếp tục xui xẻo. Nhóm này lại chia hai để biết cái gia đình xui xẻo ấy nằm ở đâu. Khi chia thành hai nhóm nhỏ thì cũng như trước, 250 gia đình bắt đầu khá giả, còn 250 gia đình vẫn còn xui. Lại chia hai lần lượt như vậy để biết gia đình xui xẻo nằm ở đâu, thì cuối cùng họ khám phá ra gia đình của vị Tỳ kheo nọ. Cả gia đình thầy bị loại ra khỏi làng, đi lang thang như những người du mục. Bà mẹ khám phá ra từ ngày mang thai thầy, tai họa mới đến cho cả một làng và cho gia đình, nên muốn thầy chết đi. Tuy nhiên, một người chỉ còn một đời cuối cùng này là giải thoát (chứng quả A La Hán, không còn trở lại cõi đời) thì không ai có thể giết chết được trừ khi chính nghiệp lực của người ấy. Do vậy, cuối cùng mẹ thầy cũng sinh ra thầy và nuôi cho đến biết đi ăn xin. Trong thời gian bà nuôi đứa con mang sự xui xẻo ấy, bà rất vất vả và khốn đốn trong việc kiếm ăn. Cho đến một ngày không chịu đựng được nữa, sau khi đẩy thầy vào xin ăn tại một nhà nọ, bà mẹ tẩu thoát.

    Ðứa trẻ - vị A La Hán tương lai nọ ngơ ngác khi bước ra không trông thấy mẹ, cũng không có cái gì ăn, bèn đi lang thang đầu đường xó chợ lượm những mẩu bánh người ta vứt bên đường để ăn cho đỡ đói. Trong “cuộc lử” đó đứa trẻ tình cờ gặp Tôn giả Xá Lợi Phất. Ðộng lòng thương, Ngài hỏi:

    - Con cái nhà ai? Sao gầy sọp thế?

    - Bạch Tôn giả, con là một đứa con mang lại sự xui xẻo cho mọi người, nên không ai chịu nuôi con, con phải ốm đói.

    - Con có muốn xuất gia trở thành một tu sĩ không?

    - Bạch Tôn giả con muốn lắm chứ, nhưng ai chịu chứa chấp con?

    - Lại đây, ta sẽ độ cho con.

    Ðứa trẻ vui mừng đi theo Tôn giả. Tôn giả Xá Lợi Phất dắt về vườn Cấp Cô Ðộc, tắm rửa sạch sẽ, cho ăn cơm và thế phát quy y cho cậu bé làm Sa môn đuổi quạ Lớn lên đến tuổi thành niên, Tôn giả cho thầy thọ giới cụ túc thành một vị Tỳ kheo.

    Số phần xui xẻo vẫn theo mãi vị Tỳ kheo suốt cả đời. Mỗi khi đi khất thực, người ta vừa để vào bát thầy một muỗng cơm thì thấy bát đã đầy tràn, làm cho không ai có thể bỏ gì thêm vào nữa. Khi thầy về đến chùa, thì trong bát chỉ có độc một muỗng cơm để cầm hơi cho thầy khỏi chết đói. Cứ như vậy cho đến ngày mạng chung đã chứng quả A La Hán, thầy cũng chưa bao giờ được một bữa no lòng.

    Biết thầy sắp mãn phần ở dương gian, Tôn giả Xá Lợi Phất động lòng thương xót nghĩ: “Losaka” (tên của thầy Tỳ kheo xui xẻo) hôm nay sẽ mạng chung. Ta sẽ làm đủ mọi cách giúp cho vị ấy ăn một bữa cho no trước khi chết.

    Với ý định ấy, Tôn giả dẫn vị Tỳ kheo đi vào làng khất thực. Nhưng vì có Losaka, Tôn giả không xin được món gì, Ngài đành phải bảo vị ấy trở về, và đi một mình để xin ăn. Sau khi khất thực đầy bát, Tôn giả đem về cho vị Tỳ kheo Ngài đứng ôm bát trước mặt đệ tử bảo:

    - Con hãy ăn đi.

    Vị Tỳ kheo ngần ngại không dám ăn trước mặt Tôn sư, và nhất là để Ngài cầm bát, mặc dù thầy rất đói. Tôn giả giục:

    - Con đừng ngại, ta phải đứng cầm bát để chờ con dùng bữa cho xong mới được. Vì nếu không có ta ôm bát, tất cả thức ăn này biến mất, và con sẽ tiếp tục đói.

    Vị Tỳ kheo vâng lời thọ thực. Nhờ thần lực của Tôn giả Xá Lợi Phất vị ấy ăn được một bữa no lòng trước khi xả báo thân chót của một vị A La Hán.

    Sau khi thầy Tỳ kheo xui xẻo quá vãng, các Tỳ kheo khác nhóm họp tại diệu pháp đường trong vườn Cấp Cô Ðộc hỏi Ðức Thế Tôn nguyên nhân vì sao một đời giới hạnh thanh tịnh, tu hành tinh tấn, vị Tỳ kheo bạc phước kia vẫn phải gánh chịu sự rủi ro suốt đời như vậy. Phật dạy:

    - Này các Tỳ kheo, những hành động của chính vị ấy trong tiền kiếp là nguyên nhân sự xui xẻo hiện tại của y. Trong tiền kiếp y cũng là một vị Tỳ kheo, do lòng ganh tỵ, y đã cản trở cư sĩ cúng dường một vị Tỳ kheo khác trong khi vị này đã chứng quả A La Hán. Vì ác nghiệp ấy cho nên dù có tu hành thanh tịnh, y cũng phải thọ quả báo thiếu thốn, xui xẻo trong nhiều đời kiếp cho đến khi chứng quả.

    “Luật nhân quả không kiếp sau hay kiếp trước, giữa kiếp này vay lại trả rồi vay. Vay oán nhiều nên nợ đời thêm nặng, biết nhắn gởi cùng ai mau tỉnh giấc mê say”.

    Trích từ truyện cổ Phật Giáo

  6. Thanks vinamaster, minh ton, tu kien thanked for this post
  7. #79
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Đề Bà Đạt Đa Hại Phật


    ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA HẠI PHẬT

    Đề Bà Đạt Đa là em con ông chú của Phật. Sau khi xuất gia làm đệ tử Phật, vì ham danh lợi, muốn nắm giáo đoàn, xin Phật không cho. Ông đâm ra thù Phật, muốn hại Phật.

    Một hôm, ông đặt ra năm giới khổ hạnh. Một là không uống sữa; hai là không ăn muối; ba là đi khất thực, ăn một bữa; bốn là mặc y phấn tảo; năm là ngồi ngoài trời. Ông đem lên trình với Phật, yêu cầu Phật ban h...ành cho các tỳ kheo.

    Phật dạy, “Giới luật ta chế ra đều có nhân duyên, chớ không phải điều gì cũng cấm.”

    Phật không chấp nhận, ông vẫn đem công bố cho các vị tỳ kheo, nói rằng giới luật của ông cao nghiêm hơn của Đức Phật. Một số tỳ kheo 500 người nhẹ dạ, nghe theo ông. Ông dẫn họ về trụ xứ ông.

    Phật sai Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đến thuyết pháp. Đem các tỳ kheo đó về về. Khi thấy Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đến, Đề Bà Đạt Đa nói, “Ta mỏi mệt, để ta an nghỉ. Hai tôn giả hãy giáo hóa chúng tỳ kheo.”

    Hai tôn giả thuyết pháp, làm cho các vị tỳ kheo được chánh kiến, liền theo hai tôn giả về với Đức Phật, khiến cho Đề Bà Đạt Đa giận tức, buồn phiền.

    Sau, ông Đề Bà Đạt Đa chỉ còn có năm tỳ kheo. Tiếng xấu của ông đồn xa. Mọi người không ai chịu cúng dường cho nhóm ông nữa. Ông phải chịu đói khổ. Ông lại mướn người bắn tên tẩm thuốc độc để hại Phật. Những mũi tên bắn ra đều hóa thành hoa sen rơi xuống. Muốn bắn Phật, lại trở thành tán hoa cúng Phật.

    Phật đang ngồi thiền dưới chân núi. Ông leo lên trên, lăn đá xuống để đè Phật. Nhưng đá cứ chạy hai bên không trúng Phật. Một mảnh đá vỡ ra trúng vào ngón chân út Phật chảy máu. Phật dạy, “Này, Đề Bà Đạt Đa làm thân Phật ra máu, phải bị đọa vào địa ngục vô gián muôn kiếp.”

    Đề Bà Đạt Đa cố tình hại Phật, nên tiếng dữ đồn xa, đi khất thực không ai cúng dường. Ông bèn trở về thành Ca Tỳ La Vệ, quê hương của ông. Nhưng ở đây, giòng họ Thích cũng nghe được tiếng xấu của ông nên không ai cúng dường. Ông phải chịu nhiều vất vả, khổ cực.

    Rồi ông trở về chốn Phật, tỏ ra ăn năn, sám hối. Khi ông lễ dưới chân Phật, hai tay ông đưa ra, mười ngón tay nhọn có tẩm thuốc độ, cố bấu vào chân Phật, Phật liền rút chân lại. Đất nứt ra và ông rớt xuống địa ngục vô gián, bị lửa thiêu đốt không gián đoạn, chịu khổ lâu dài.

    Trong các Pháp do tâm làm chủ
    Tâm dẫn đầu, tạo đủ các duyên.
    Tâm nhơ tạo nghiệp chẳng hiền
    Như xe lăn bánh, khổ liền theo sau.


    Trích từ trong truyện " Góp Nhặt Lá Bồ Đề- Thích Tịnh Nghiêm"

  8. Thanks vinamaster, huudangdo, minh ton, tu kien thanked for this post
  9. #80
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Bát Cơm Cúng Dường


    BÁT CƠM CÚNG DƯỜNG

    Thuở Ðức Phật còn tại thế, hằng ngày Phật và hàng đệ tử đi khất thực để mọi người có duyên gieo hạt giống lành vào thửa ruộng phước của mình.

    Trong mùa an cư, Phật thường thọ trai của thí chủ phần đông là hàng cư sĩ, luân phiên nhau mang thức ăn sẵn vào Tịnh xá cúng dường.

    Trong giới tại gia của Ðức Phật, có một người học trò tuy của cải không bằng ai nhưng lại khá giàu lòng tốt. Phiên chàng cúng dường thường vào những ngày cuối tháng. Những bữa cơm giản dị không phải quý giá về phẩm chất,mà quý vì chàng đặt đó tất cả lòng thiết tha thành kính của một đứa con thuần hiếu, mà lòng chân thành lắm khi làm cảm động đến chư Thiên. . .

    Khi sao mai vừa ló dạng, chàng thức dậy, sửa soạn vớt chất đề hồ cho vào chiếc bình trắng trong, để lên chiếc bàn con bằng gỗ chiên đàn, một gia bảo của mẹ chàng thuộc dòng Bà La Môn để lại cho chàng. Chiếc bàn đã mấy đời dùng làm bàn sắp đồ cúng tế trong các buổi lễ.

    Kế đó, những món rau đậu chính chàng trồng lấy ở vườn nhà được tự tay chàng nấu nướng.

    Hôm nào cũng như hôm nào, bữa cơm chàng sửa soạn cúng dường Ðức Phật cũng mang trọn tất cả lòng thành kính vui mừng. Chàng khẩn nguyện cho cơm chàng cúng dường là bửa cơm đầy Pháp vị, tuy chàng biết vốn liếng tu học của mình không được bao nhiêu và gia thế lại còn tệ hại hơn cả sự hiểu biết của mình nữa.

    Nhưng không biết tại sao tâm chàng thấy hoan hỷ và tin tưởng rằng những bữa cơm đơn giản của mình mang đến cho người thọ dụng tất cả niềm thanh tịnh, hoan hỷ. Và đó cũng là nguồn an ủi lớn lao nhất trong kiếp sống hiện tại của chàng.

    Mặt trời lên khá cao, chàng vui vẻ mang thức ăn đi cúng dường Ðức Phật. Con đường đi vào Tịnh xá Kỳ Hoàn thật êm ả trầm lặng. Chàng không bao giờ ngắm mây bay hoa nở, bước chân chàng nhẹ nhàng thanh thoát lướt qua không kịp nhuốm bụi đường, lòng chỉ lo quá ngọ Ðức Phật không kịp thọ dụng. . .

    Nhưng có một hôm, ra khỏi nhà một đỗi, mắt chàng dừng lại, bóng dáng một sinh vật thất thểu dưới nắng hè. Ðó là một con chó gầy guộc, lông lá rụng hết, từng mảng lở ghẻ loét hiện rõ dưới ánh mặt trời chói chang. Bốn chân nó khẳng khiu xiêu vẹo không đỡ nổi chiếc thân vốn đã quá gầy còm!

    Hình như nó đánh hơi được thức ăn đang xách trên tay nên lấm la lấm lét tiến lại gần. Nó không biết nói, nhưng đôi mắt van nài, bộ tướng ủ rủ tiều tụy của nó, đủ nóí lên được với chàng rằng: “Tôi không được ăn từ lâu lắm”.

    Chàng đứng khựng lại. Bấy giờ, trước mắt chàng chỉ có hình ảnh của một sinh vật đói lả, mà trong tay chàng lại có sữa, cơm và thức ăn. Thật may phước cho nó quá! Chàng ngồi xuống bên đường, mở bình bát ra, bày các thức ăn trước mặt nó. Con chó ăn không kịp thở, chàng hồi hộp nhìn con vật cùng chia sớt với nó sự bằng lòng, niềm vui hy hữu đang âm thầm tràn ngập tâm hồn. Trong một thoáng chiếc bình đề hồ, cơm, thức ăn hết sạch. Bây giờ con chó no, thong thả ra đi. Chàng trông theo bước chân của nó, giờ đây chắc chắn vững chãi trên con đường và nở một nụ cười thoải mái. Nhưng, khi chó vừa khất dạng sau rặng cây trước cửa Tịnh xá, chàng nhìn lại bình đề hồ và liễn cơm với thức ăn sạch nhẵn, lo sợ kinh hoàng! Mặt trời rọi bóng chàng lùn xủn trên mặt đường vậy là vừa đúng ngọ. Tới thì không dám, lùi cũng không đành, sau một giây, thu hết can đảm, chàng hớn hở rảo bước vào Tịnh xá mà nước mắt lăn tròn theo mồ hôi.

    Ðức thế Tôn dùng huệ nhãn soi rõ sự tình. Ngài ngồi yên, đôi mắt như hai vì sao sáng, nụ cười hoan hỷ từ bi nở tươi làm sáng một vùng trời.

    Chàng nào dám ngó lên, đôi mắt e dè dán chặt xuống đôi bàn chân tê dại. Tuy nhiên, chàng quyết không dối Phật, quyết thú thật hết tội lỗi của mình, mà cũng không dám mong cầu được Phật tha thứ.

    - Bạch Thế Tôn! Hôm nay con có lỗi nặng vô cùng. . . và tiếng chàng rứt lại nhỏ dần như tắc nghẹn. . .

    Ðức Phật ôn tồn khuyến khích như thường lệ:

    - Hôm nay phải phiên con đem cơm cúng dường Như Lai đó không?

    - Bạch Thế Tôn!. . . Tiếng chàng nức nở trong nước mắt. Xin Ngài thứ tội

    cho con. Vừa rồi trước Tịnh xá, con gặp con chó ghẻ đói lả con lú lẫn

    quên mất giờ trai của Thế Tôn, con lỡ đem bình bát thức ăn cho con chó

    ăn hết. Tội con xuẩn ngốc, vô lễ nặng nề không biết ngần nào.

    Nhưng, một vùng hào quang giữa đôi mày Ðức Phật phóng ra ánh ngời Tịnh xá như những hôm Phật lên Pháp tòa khởi điểm nói bài kinh trác tuyệt. Tiếng Ngài ngân vang, từ ái tròn đầy:

    - “Mùa hạ này, Như Lai muốn cho các con biết, chỉ có hôm nay Như Lai thọ dụng một bữa cúng dường rất thanh tịnh của một vị đại thí chủ, đầy đủ Pháp vị trong một bữa cúng dường”.


    “Phụng sự chúng sanh tức cúng dường Chư Phật”.


    Trich từ truyện cổ Phật Giáo.

  10. Thanks huudangdo, tamtien, minh ton, tu kien, vinamaster thanked for this post
  11. #81
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Đại Ca Diếp Quy Y


    ĐẠI CA DIẾP QUY Y

    Có một hôm, đức Phật thị hiện tướng bệnh, ngài lặng lẽ nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Vua Tần Bà Sa La nghe tin ấy, vội gọi ngự y là Kỳ Bà đi gặp Thế Tôn để trị bệnh cho Ngài.

    Khi đức Phật đã lành bệnh, ngự y Kỳ Bà cứ muốn đem một lễ vật nào để cúng dường Ngài, nhưng nghĩ tới nghĩ lui hoài, ông không biết phải tặng lễ vật nào mới thích hợp. Cuối cùng, ông nhớ đã có lần chữa bệnh cho vua nước láng giềng, và vị vua này đã đền ơn ông bằng cách tặng một bộ quần áo thượng hảo hạng. Loại quần áo này phải là bậc đế vương mới dùng, duy chỉ có đức Phật mới xứng đáng mặc mà thôi. Ông đem bộ quần áo nói trên lên trình dâng đức Phật và nói :

    - Thế Tôn, từ khi con bái kiến Như Lai cho đến nay, trong lòng cứ thắc mắc một chuyện. Thế Tôn thường nói, trên thế gian này thân thể của chúng ta khả dĩ đáng quý trọng, thế nhưng con thấy các vị đệ tử của Thế Tôn thường mặc quần áo rách rưới, dơ bẩn. Ðứng trên cương vị của một y sĩ, con thấy có giải thích như thế nào đi nữa, làm như thế vẫn không hợp vệ sinh. Bộ quần áo này là do vua nước láng giềng thưởng tặng cho con, xin cho con được đem cúng dường lại cho Phật, cho con được trồng chút ít hạt giống phúc đức. Con cũng cúi xin Thế Tôn hãy nói với chư tỳ kheo, từ nay đừng mặc quần áo dơ bẩn rách rưới nữa.

    Ðức Phật không hề chấp trước một điều gì, nên đón nhận ý kiến của Kỳ Bà một cách vui vẻ, và cho người đi truyền nói với chư đệ tử tỳ kheo rằng :

    - Mặc quần áo, không cần biết cũ hay mới, đều phải đơn sơ và sạch sẽ, và nhất định phải được khử trùng bằng ánh sáng mặt trời. Nếu ái nhiễm những bộ quần áo đẹp đẽ sang trọng là một điều không phải, thì mặc y phục dơ bẩn rách rưới để tỏ ra mình là người học đạo cũng không đúng pháp.

    Lời đức Phật được truyền ra rồi, dân chúng Vương Xá Thành bèn tranh nhau may rất nhiều quần áo đem tặng chư tỳ kheo. Người cúng dường đức Phật và chư tỳ kheo rất đông, nên tin đồn ấy truyền đến tai một vị đại phú hào.

    Vị phú hào ấy tên là Ðại Ca Diếp, ở thôn Ma Ha Sa La Dà cách Vương Xá Thành không xa lắm. Ông thông minh học rộng, giàu có nhất thiên hạ, là nhân vật xuất chúng nhất của giai cấp Bà La Môn. Mỗi khi đức Phật thuyết pháp tại Trúc Lâm Tinh Xá, ông đều đến nghe giảng. Cuối cùng tâm ông từ từ tiêm nhiễm những lời giảng của Như Lai, ông còn nghĩ đến việc theo đức Phật xuất gia nữa.

    Một hôm trên đường về, ông vừa đến gần tháp Ða Tử ở thành Vương Xá trong một vùng có rất nhiều gốc cây to cành lá xum xuê giao nhau, thì lạ thay, đức Phật cũng đang ngồi ngay tại đấy mà tĩnh tọa. Ông nhìn mãi đức Phật trang nghiêm, uy nghi dường ấy, và thấy rằng không thể nào không đến lễ lậy Ngài được. Ông đến trước toà Như Lai chắp tay đảnh lễ xong, khẩn khoản cảm động mà nói :

    - Thế Tôn, Thầy của con ! Xin chấp nhận cho Ðại Ca Diếp này quy y, từ nay Ðại Ca Diếp là đệ tử của Phật.

    Ðức Phật thấy rõ tín tâm của Ðại Ca Diếp nên nói :

    - Ðại Ca Diếp, ông là đệ tử của ta, ta là thầy của ông. Trên thế gian này, nếu chưa chứng được chính đẳng chính giác thì không thể thu nhận ông làm đệ tử. Ông hãy cùng ta đi nhé.

    Ðức Phật lẳng lặng đứng dậy, hướng về phía Trúc Lâm Tinh Xá mà đi, Ðại Ca Diếp đi sau lưng đức Phật một cách cung kính mà nước mắt ròng ròng tuông xuống. Ðức Phật quay đầu lại nhìn Ðại Ca Diếp rồi nói :

    - Hôm nay ta biết cơ duyên được độ hóa của ông đã đến. Tốt lắm, sau này việc lưu truyền Phật pháp sẽ cần đến ông rất nhiều.

    Ðức Phật hóa độ Ðại Ca Diếp rồi, Phật pháp tại Vương Xá Thành đã có cơ sở vững chắc, tinh xá ở núi Linh Thứu cũng đã được thành lập vào thời điểm này. Vua chúa, người trí thức đến quy y rất đông, và sự giáo hóa của đức Phật càng được phổ biến thêm.


    Trích từ truyện cổ Phật Giáo - Nguyên bản chữ Hoa: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn- (Việt dịch: Diệu Hạnh Giao Trinh)

  12. Thanks huudangdo, minh ton, vinamaster, tu kien thanked for this post
  13. #82
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Thần thông không chuyển được nghiệp lực


    THẦN THÔNG KHÔNG CHUYỂN ĐƯỢC NGHIỆP LỰC (Dòng họ Thích Ca bị tàn sát diệt vong)

    Lúc Đức Phật Thích Ca chưa ra đời, nơi thành Ca Tỳ La Vệ có một làng chài lưới, trong làng có một hồ lớn chứa nhiều cá.
    Một năm, gặp lúc hạn hán, hồ khô nước cạn, cá trong hồ đều bị dân trong làng chài bắt hết, trong đó có một con cá thật lớn.

    Trong làng có một đứa bé không ăn thịt cá, thấy dân làng bắt được cá lớn đặc biệt, vì tính háo kỳ nên tiến đến gần, tay cầm cây gỗ gõ lên đầu con cá lớn ba cái.

    Sau khi Phật Thích Ca chứng đạo, vua nước Ba Tư Nặc rất háo phật pháp, cưới con gái dòng họ Thích làm vợ, sinh được một người con là thái tử Lưu Ly. Thuở nhỏ, thái tử Lưu Ly đi học ở thành Ca Tỳ La Vệ, một hôm nghịch ngợm trèo lên tòa của Phật ngồi, bị người trong dòng họ Thích bắt gặp rầy la. Thái tử Lưu Ly vì thế mà uất hận trong lòng.

    Khi thái tử Lưu Ly lên làm vua nước Ba Tư Nặc, vì căm giận dòng họ Thích nên xuất quân vây đánh thành Ca Tỳ La Vệ, bắt dân trong làng giết hết. Môn đệ của Đức Phật Thích Ca đều cầu xin Phật tìm cách giải cứu dòng họ Thích qua khỏi cơn tai ách. Đức Phật trả lời:

    - Đó là định nghiệp của dòng họ Thích, không thể cứu được.
    Mục Kiền Liên tôn giả, vị đệ tử thần thông đệ nhất của Đức Phật, muốn cứu dân trong thành, tay cầm lấy bát bay lên không trung, dùng sức thần thông thu hết 500 người dòng họ Thích ra khỏi thành. Nhưng khi mở bình bát ra, thấy trên bát đều chứa đầy máu người. Chúng đệ tử hỏi Phật vì nguyên do gì sức thần thông của Mục Kiền Liên không cứu được dòng họ Thích trong thành.

    Đức Phật đem chuyện chài lưới của thành Ca Tỳ La Vệ bắt cá trong hồ thuật lại cho chúng đệ tử nghe. Phật nói:

    - Vua Lưu Ly chính là con cá lớn ngày xưa, binh lính đánh thành là những con cá lớn trong hồ bị bắt giết. Những người bị giết trong thành Ca Tỳ La Vệ đều là những người bắt cá trong hồ. Đứa bé gõ vào đầu con cá lớn chính là tiền thân của ta (Đức Phật), nên trong lúc vua Lưu Ly dẫn binh đánh thành, ta bị nhức đầu ba ngày.

    Người đã chứng quả như Đức Phật mà con tránh không khỏi quả báo, vẫn bị nhức đầu ba ngày. Đủ thấy sức mạnh của nghiệp lực ghê gớm đến dường nào.

    Kinh viết:

    Giả sử thiên bách kiếp, sở tạo nghiệp bất vong.
    Nhân duyên hội hợp thời, quả báo hoàn tự thọ


    Truyện Phật Giáo

  14. Thanks nguacon, vinamaster, huudangdo, tu kien, minh ton thanked for this post
  15. #83
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Ông Trưởng Giả Hà Tiện


    ÔNG TRƯỞNG GIẢ HÀ TIỆN

    Khi Phật còn tại thế, có ông trưởng giả hà tiện, keo kiết. Nhà ông rất giàu có, nhưng vì tánh hà tiện nên ông không dám cho ai một đồng, một xu. Trong nhà, ông cũng ăn uống rất tiết kiệm. Ông có gia tài giàu có, chỉ ...để nhìn mà thôi. Không lợi ích gì cho ai!

    Một hôm, ông trưởng giả hà tiện đi chầu vua về. Ông đi ngang qua chỗ bán bánh cam chiên phồng, trông rất ngon. Các em bé mua ăn, thấy mà phát thèm. Ông trưởng giả cố nhịn cơn thèm.

    Về đến nhà, ông trưởng giả liền vào phòng riêng nằm, ráng nhịn. Bà trưởng giả tưởng ông bị đau nên vào hỏi thăm và nói, “Ông đi chầu vua về bệnh hay sao mà nằm như vậy?”

    Ông trưởng giả nói, “Chỉ vì muốn ăn bánh cam mà thôi.”

    Bà nói, “Nhà ta giàu có, sai trẻ ra mua về ăn chớ tiết kiệm làm gì?”

    “Bà ngu hay sao mà bỏ tiền ra mua?”

    “Vậy thì làm, cả nhà cùng ăn.”

    “Bà ngu hay sao mà cả nhà cùng ăn?”

    “Vậy hãy làm cho tôi và ông cùng ăn.”

    “Bà sao có phần trong đó?”

    “Như thế thì chỉ làm cho ông ăn mà thôi.”

    Ông bằng lòng đề nghị này, nhưng ông nói, “Nhà ta con cháu gia nhân đông, mà không cho ăn cũng khó coi. Vậy bà lấy bột đường, lò than, lên lầu ba đóng cửa lại, làm cho một mình tôi ăn.”

    Bà trưởng giả đem bột đường, lò than lên lầu ba, làm bánh và chiên được một rổ nhỏ.

    Ngài Mục Kiền Liên nhập định, biết ông trưởng giả hà tiện đến thời kỳ được độ. Ngài dùng thần thông bay đến đứng trên hư không, gần lầu ba. Cửa sổ tự nhiên mở ra. Ông trưởng giả thấy Ngài Mục Kiền Liên, liền nói, “Ông có đi lại cũng không có cái nào!” Ngài Mục Kiền Liên liền đi lại.

    Ông trưởng giả nói, “Dù ông có ngồi cũng không có cái nào.” Ngài Mục Kiền Liên phun ra khói mù mịt.

    Ông trưởng giả sợ cháy nhà nên nói với bà trưởng giả, “Thôi, cho ông một cái, để ông đi cho rồi.”

    Ông lựa một cái nhỏ để cho, nhưng bánh lại dính chùm, lấy ra không được. Ông bà kéo tới, kéo lui, một hồi ông mệt quá, ông nói, “Thôi cho ổng hết cho rồi.”

    Ngài Mục Kiền Liên nói, “Cúng dường cho tôi thì phước ít. Cúng dường cho Phật và thánh chúng thì được phước nhiều!”

    Ông trưởng giả thưa, “Bây giờ gần trưa và đường xa, làm sao đi cho kịp giờ ngọ.”

    Ngài Mục Kiền Liên nói, “Ông bà phát tâm thì bước xuống thang lầu thì tới ngay.” Nhờ phép thần thông nên nên ông bà bước xuống cầu thang thì liền tới tịnh xá Kỳ Hoàn.

    Ông bà trưởng giả thấy Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, liền cung kính lễ bái cúng dường bánh và xin Phật quy y, thọ ngũ giới. Vì lòng chí thành nên bánh mà ông bà cúng dường Phật và thánh chúng vẫn còn dư. Ông đem bố thí cho mấy người hành khất.

    Khi nghe Phật thuyết pháp, ông bà đắc pháp nhãn tịnh. Từ đó về sau, ông phát tâm bố thí cho những người nghèo khổ, bệnh tật, nên được tiếng thơm, được mọi người khen ngợi, mến yêu. Sau khi chết được sanh về cõi trời hưởng phước.

    Thế nên biết phước bố thí thật là vô lượng.

    Trích từ trong truyện " Góp Nhặt Lá Bồ Đề- Thích Tịnh Nghiêm"

  16. Thanks vinamaster, tu kien, minh ton thanked for this post
  17. #84
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Đại Y Vương


    ĐẠI Y VƯƠNG

    Trong đời quá khứ, lúc Đức Phật còn hành bồ tát đạo, đã có nguyện từ bi cứu thế rất thâm sâu. Ngài thấy con người trên thế gian bị tâm bệnh rất nặng, như thể đó là một cơn bệnh dịch lan tràn, ai cũng mắc phải, chỉ khác nhau ở chỗ nặng hay nhẹ mà thôi.

    Trị tâm bệnh thì cũng khó khăn như trị cái đau đớn của thân xác vậy. Trên thủa ruộng dất tâm của rất nhiều người, cần phải nhổ tận rễ của căn bệnh, rồi gieo xuống những hạt giống thiện lành mới. Muốn làm như thế, trước hết phải làm sao cho mỗi người phát lòng tin.

    Vì chúng sinh nào cũng mắc phải hai chứng bệnh rất ngặt nghèo là ngã kiến và ngã chấp, ai cũng thương và tiếc thân mạng của mình, cho nên muốn trị tâm bệnh, phải tùy bệnh mà cho thuốc.

    Đức Phật đã phát đại nguyện như sau:

    - Nguyện tôi ở lâu dài trên thế gian để trị hai căn bệnh lớn là tâm và thân bệnh cho chúng sinh, làm vua thuốc cho họ, khiến tất cả các loại bệnh đều được chữa lành.

    Có một quốc gia nọ, vua tên là Ma Hy Tư Na, thống lãnh một cõi nước to rộng, gồm tám vạn bốn ngàn toà thành lớn. Vua trị quốc rất anh minh, việc nước không bao giờ rối loạn, nên danh tiếng lẫy lừng và được dân chúng rất tôn sùng.

    Hoàng hậu cũng mà một người phụ nữ tốt bụng, hiền thục, thông minh và thương dân. Bồ tát vì thế mà chọn nhà của vua Ma Hy Tư mà thác sinh. Có điều kỳ lạ là, lúc hoàng hậu mang thai, tuy trước đó không biết chút gì về y thuật, nay bỗng có tài chữa bệnh cho người khác. Cách chữa bệnh của bà cũng rất đặc biệt, bà không cần dùng thuốc, chỉ cần dùng tay xoa vuốt lên chỗ đau của người bệnh là bệnh tức khắc lành lặn. Vì thế trong hoàng cung, bất kỳ ai dẫu lâm phải một chứng bệnh nguy kịch đến đâu, thầy thuốc bó tay, trăm phương nghìn thuốc đều vô hiệu chỉ còn chờ thần chết, thì đến cầu cứu hoàng hậu, không ai là không được chữa lành. Vì thế, chuyện hoàng hậu ra tay trừ bệnh đã thành một giai thoại lưu truyền một thời.

    Khi hoàng tử mới sinh ra đã biết nói, mà nói những gì?

    - Ta không có sở trường nào khác, chỉ biết chữa bệnh. Ai có bệnh hãy mau đến nơi này, ta sẽ chữa cho.

    Nói xong câu này, hoàng tử trở lại giống tất cả các hài nhi khác, không biết nói câu nào nữa.

    Chư thiên và quỷ thần trên thế giới cũng bí mật loan tin này ra, chỉ dẫn cho người trong lúc họ nằm mộng, bảo rằng vua mới sinh được một vị đại y vương, ai có bệnh cứ đến xin chữa. Một vị thầy thuốc khi khám bệnh xong, nhất định phải cho thuốc uống, chỉ có đại y vương chữa bệnh mới không bắt người ta uống thuốc. Người nào có bệnh, chỉ cần tiếp cận với hoàng tử là tự nhiên lành bệnh. Chỉ cần có ngón tay của hoàng tử chạm đến là người mù thấy được, người điếc nghe được và người què đi được. Chuyện hoàng tử dùng ngón tay trị bệnh cho tất cả mọi người được loan truyền đi trong toàn quốc. Từ đó, hoàng tử được đặt tên là "Nhân Dược" (người thuốc). Có người còn bán tín bán nghi, hoàng tử bèn gọi những ai có bệnh hãy lần lượt đến chữa.

    Ngoài dùng bàn tay để trị bệnh, hoàng tử còn dùng thân nữa. Chỉ cần được hoàng tử chạm đến là bệnh cũng được lành ngaỵ Bệnh tật dù có nguy kịch tới đâu hoàng tử cũng trị được, làm cho mọi người được an ổn, hết khổ được vui, danh tiếng truyền xa, nên người nào ở đâu hễ có bệnh là đến xin chữa. Hoàng cung từ trước vốn là nơi nghiêm cấm, bỗng trở nên không khác gì một cái chợ hay một bệnh viện!

    Nhân Dược hoàng tử sinh xuống nhân gian chữa bệnh được chừng mười năm, trị cho không biết bao nhiêu người rồi. Đại nguyện trị bệnh của ngài đã hoàn mãn, nay ngài phải hóa thân đi nơi khác. Mọi người nghe tin, bỗng như những đứa con mồ côi, không ai là không khóc thương bi thảm, họ nói từ nay về sau sẽ không còn ai chữa bệnh khổ cho họ.

    - Tuy Nhân Dược hoàng tử không còn ở với chúng ta nữa nhưng di cốt của ngài vẫn còn đây, chắc chắn di cốt của ngài cũng có năng lực chữa bệnh cho chúng ta được!

    Một người tương đối có trí huệ nhất nói. Họ tìm được di cốt của hoàng tử bèn lấy lửa đốt, nghiền thành phấn, người có bệnh chỉ cần lấy chút phấn ấy chấm vào chỗ đau cũng được lành bệnh như trước.

    Vật gì dùng mãi cũng có ngày hết, phấn thuốc nói trên cũng vậy. Người bị bệnh trở lại bèn đi đến chỗ di cốt hoàng tử bị thiêu và nghiền thành phấn, trong đầu chỉ niệm qua tên ngài là bệnh cũng được lành, vì vậy trong phạm vi ấy, người nào xa hay gần, cứ niệm đến tên ngài là hết bệnh.

    Nhân Dược hoàng tử nay đã thành đạo, chính là Đại Y Vương Thích Ca Mâu Ni Phật vậy!.

    Trích theo Tác Giả: Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn.
    Dịch Giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh.

  18. Thanks vinamaster, huudangdo, minh ton, betiti, tu kien thanked for this post
  19. #85
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Em Bé Gái Chắp Tay


    EM BÉ GÁI CHẮP TAY

    Có một lần, lúc đức Phật đang tuyên thuyết pháp Ðại thừa tại thành Vương Xá, trong đạo tràng của Ngài có một người đàn bà hiền đức tài giỏi tên là Tỳ Lâu.

    Bà Tỳ Lâu không những là một người vợ đảm đang, một người mẹ hiền trong gia đình, mà ngoài xã hội cũng được tiếng là một người đàn bà gương mẫu. Vì thế, một khi bà lên tiếng kêu gọi ai làm chuyện gì, thì lời kêu gọi của bà có hiệu lực rất lớn.

    Trong pháp hội ngày hôm ấy, bà đã tập họp được hằng trăm, hằng ngàn người đàn bà khác đến nghe pháp.

    Tuy họ toàn là những người sơ phát tâm, nhưng ai cũng bắt chước Tỳ Lâu chắp tay nghe thuyết pháp.

    Ðức Phật đang giảng kinh, bỗng ngừng lại, hướng về tôn giả A Na Luật đang ngồi giữa đại chúng mà hỏi :

    - A Na Luật ! Ông đã thấy được chuyện gì ? Có thấy điều chi đặc biệt và lạ lùng không ?

    Ngài A Na Luật được đức Phật hỏi đến như thế, liền đứng dậy cung kính trả lời :

    - Bạch Thế Tôn, mọi người yên tịnh lắng nghe pháp âm của Phật thì đương nhiên tự động chắp tay kính cẩn lắng nghe. Con nay lại thấy thai nhi mà tín nữ Tỳ Lâu đang mang trong lòng mà cũng chắp tay nghe pháp, con rất lấy làm lạ !

    Lúc ấy, quả thật Tỳ Lâu đang mang thai, và đứa bé gái trong bào thai hấp thụ tính hiền hòa của mẹ, cộng với thiện duyên của chính mình nên tuy hãy còn ở trong bụng mẹ mà cũng biết chắp tay nghe kinh.

    Tôn giả A Na Luật là một vị A La Hán đã chứng đắc được thiên nhãn thông, nên bất cứ vật gì dầu trong dầu ngoài, ngài cũng đều có thể thấy hết.

    Ðức Phật lại nói :

    - Lành thay ! Lành thay ! Trong số đông những vị A La Hán ở đây, A Na Luật, ông là người có thiên nhãn thông, có thể thấy được những việc hiếm có mà người khác chưa từng thấy. Ðó là điều khiến ông hơn tất cả mọi người.

    A Na Luật, ông thấy không, trong mười phương thế giới, chim bay thú chạy, ngay cả trong loài côn trùng, chưa hề có một đứa bé còn trong bụng mẹ mà đã biết chắp tay nghe kinh như mẹ vậy. Ðó chính là vì âm thanh viên mãn của Phật có năng lực thấu suốt qua tất cả mọi cảnh giới, khiến cho chúng sinh nào nghe được cũng đều phải chắp tay cung kính.

    Ðức Phật nói xong, muốn cho mọi người hiểu biết một chút về những sự kiện hy hữu trên thế giới, nên từ thân Ngài phóng ánh sáng làm cho bốn phương tám hướng, từ trên xuống dưới, tất cả được chiếu sáng không có gì trở ngại. Trong ánh từ quang sáng chói của Phật, không còn sự phân biệt giữa trong và ngoài, đâu đâu cũng y như nhau. Như thể được chiếu dọi bởi một tấm kính lớn đằng trước, không có vật gì có thể che dấu được.

    Lúc ấy, những người trong pháp hội nghe kinh, trượng thừa pháp lực của đức Phật, đã có thể thấy được những gì mà từ trước đến nay họ chưa hề được thấy nên ai nấy đều vui mừng vô kể.

    Bà Tỳ Lâu lúc ấy cũng biết rằng đứa con mình đang mang trong bụng sắp sửa ra đời, vì thế bà bèn đứng dậy, đảnh lễ đức Phật rồi lui xuống phía dưới, và chính lúc đó bà hạ sinh một đứa bé gái.

    Khi đứa bé chào đời, trong không trung vang lên thiên nhạc tuyệt vời và những đóa hoa ngũ sắc lả tả rơi xuống. Rất nhiều người đàn bà vội vàng đem đến một bộ quần áo mới phủ lên thân thể hài nhi, tránh cho đứa bé bị lõa thể khi đối diện với đại chúng.

    Vị đệ tử thượng thủ của đức Phật là Tôn giả Xá Lợi Phất thấy mọi chuyện xẩy ra như thế, bèn đứng dậy hỏi rằng :

    - Bạch Thế Tôn ! Nữ hài nhi này từ quốc độ nào đến ? Kiếp trước đã tạo phước báo nào mà lại có thể ở giữa pháp hội cao quý này mà chào đời ?

    Ðức Phật dịu dàng giảng cho Xá Lợi Phất và đại chúng biết lai lịch của đứa bé sơ sinh :

    - Ðứa bé sơ sinh này đến từ một nơi cách đây rất xa ở phía đông nam, nước ấy tên là Diêm Phù Ðàn. Rất nhiều kiếp về trước, cô luôn luôn cúng dường Phật và trai tăng, và còn phát nguyện tương lai sẽ sinh ra đời nơi pháp hội của Phật đang thuyết pháp, vì thế nên kiếp này cô được như nguyện và chào đời tại nơi đây.

    Pháp âm của Phật cùng tất cả những điềm lành lúc đứa bé sinh ra đời làm cho thính chúng ngày hôm đó vô cùng hoan hỉ, họ phát nguyện đời đời kiếp kiếp quy y thánh pháp, cứu độ chúng sinh.

    Trích từ Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn
    Việt dịch: Diệu Hạnh Giao Trinh

  20. Thanks vinamaster, huudangdo, ryan3, minh ton, Hieunguyen11, tu kien thanked for this post
  21. #86
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Kiện Đạt Đa Ích Kỷ


    KIỆN ÐẠT ÐA ÍCH KỶ

    Có một hôm Đức Phật đi dạo bên bờ hồ sen. Lúc ấy buổi sáng sớm, gió nhè nhẹ thổi, hương sen phảng phất. Từ dung của Đức Phật như trăng rằm, ngài chăm chú nhìn giữa hồ sen, thấy hoa sen hàm tiếu nở đầy hồ, nước xanh trong vắt, lấp lánh ánh sáng.

    Bỗng nhiên, bằng huệ nhãn Ngài nhìn thấu qua đáy hồ và thấy cảnh địa ngục.

    Trong địa ngục bốn phía đen ngòm có một hồ máu đỏ tanh tưởi, trong đó ngàn vạn tội nhân đang chìm nổi, khóc than thảm thiết, có kẻ thì sức lực cạn kiệt mệt mỏi, có kể thì giẫy dụa vùng vẫy. Giữa đám tội nhân ấy, Đức Phật nhìn ra một người mạnh khoẻ nhất, tên là Kiện Ðạt Ða, cũng đang hết sức vùng vẫy giẫy dụa.

    Kiếp trước, Kiện Ðạt Ða là một tên tướng cướp chuyên môn đốt nhà và giết người, không có tội ác nào mà hắn không nhúng tay vào, vì tội ác dẫy đầy chồng chất mà phải đọa xuống địa ngục.

    Nhưng có một lần, sau một vụ cướp của đốt nhà, trên đường về hắn thấy một con nhền nhện đang từ từ bò ngang qua đường. Khi hắn vừa đưa chân lên tính đạp xuống kết liễu mạng sống của con nhện, bỗng nhiên hắn khởi lên một niệm lành trong tâm "con nhện nhỏ bé này cũng có sinh mệnh, cho nó chết giữa đường kể cũng tội nghiệp, thôi hôm nay ta tha cho nó, làm phước một phen!". Con nhện dưới chân hắn vội ba chân bốn cẳng chạy bán mạng tìm đường sống.

    Khi Đức Phật quan sát tới việc thiện của hắn, Ngài tìm cách cứu Kiện Ðạt Ða ra khỏi địa ngục. Vừa khéo, một con nhện của thế giới Cực Lạc đang giăng một sợi tơ bạc tuyệt đẹp giữa những cành hoa. Ðức Phật bèn nắm lấy sợi tơ bạc ấy, và thả từ hồ sen xuống tận địa ngục.

    Ðịa ngục đen ngòm không chút ánh sáng, dễ sợ như một ngôi nhà mồ, chỉ thấy có một vài bộ mặt hung ác gớm ghiếc và vô số tội nhân như những hạt cát chìm nổi trong hồ máu, bò trườn vặn vẹo như những con trùng.

    Kiện Ðạt Ða vốn khoẻ mạnh, vô tình ngẩn đầu lên, thấy giữa không gian đen ngòm có một lằn ánh sáng chiếu xuống đỉnh đầu hắn. Như gặp được cứu tinh hắn mừng rỡ nghĩ rằng:

    - Ê, đây không phải là một sợi tơ nhện từ cõi trời xa thăm thẳm kia đang từ từ hạ xuống hay sao? Giả sử như ta bám được sợi tơ nhện này rồi cứ thế mà leo lên, làm gì mà không thoát được địa ngục và trèo lên tới thế giới Cực Lạc?

    Nghĩ thế xong, hắn bèn hai tay nắm lấy sợi tơ nhện, rồi vận dụng hết sức lực cố gắng trèo lên. Cái nghề trèo cây đu cành vốn là nghề của một tên tướng cướp như hắn, nên hắn trèo một cách dễ dàng như ăn cơm bữa!

    Nhưng khoảng cách giữa địa ngục và Cực Lạc thế giới sao mà xa xôi diệu vợi, dẫu ráng tới đâu cũng không thể trong một lúc mà leo tới được. Sau một khoảng thời gian dài, Kiện Ðạt Ða từ từ thấm mệt, hắn đành phải lơ lửng giữa hư không mà nghỉ ngơi.

    Lơ lửng giữa hư không như thế, Kiện Ðạt Ða thuận mắt nhìn xuống phía dưới. Hồ máu trong địa ngục bây giờ đã chìm ẩn trong một màu đen sâu thẳm, mù mờ không thấy rõ nữa. Kiện Ðạt Ða lòng như nở hoa, mừng rỡ cất tiếng cười hô hố.

    Ðột nhiên hắn thấy phần dưới của sợi tơ nhện có vô số tội nhân hiện đang lũ lượt như đàn kiến theo gương hắn cố gắng trèo lên. Hắn kinh hoàng phẫn nộ tự bảo "Mỗi một mình ta trèo mà còn sợ sợi tơ nhện mong manh kia đứt mất, huống chi với sức nặng của từng đó người! Nếu chẳng may sợi tơ nhện đứt thì tất cả những cố gắng và hy vọng của ta sẽ tan thành bọt nước, để rồi lại phải rơi xuống địa ngục chịu khổ nữa!". Lũ tội nhân vẫn hàng hàng lớp lớp không ngừng trèo lên, càng lúc càng đông. Kiện Ðạt Ða cuống quýt vừa sợ vừa giận, nổi sân hận la hét om sòm:

    - Ê! Ê! Cái lũ tội nhân kia! Sợi tơ nhện này là của ta khám phá, nó thuộc quyền sở hữu của ta! Ai cho phép bọn bây trèo lên? Ði xuống! Ði xuống!

    Vừa dứt lời, sợi tơ nhện bỗng đứt ngay ở phía trên chỗ Kiện Ðạt Ða đang nắm.

    Tên Kiện Ðạt Ða ích kỷ kia giữa hư không xoay tít mấy vòng, rồi rơi tõm xuống địa ngục trở lại. Phần tơ nhện còn lại vẫn óng ánh, lấp lánh trong địa ngục tối tăm lặng im như cõi chết, nhưng quá xa tầm tay với của tội nhân, như một con diều lơ lửng cao vút trong không trung.

    Khuôn mặt từ bi của Đức Phật liền phủ lên một thoáng buồn. Ngài khẽ lắc đầu thở dài một tiếng.

    Hoa sen nở đầy hồ vẫn tỏa hương ngào ngạt, lá sen mềm mại vẫn xanh mơn mởn, mà lòng xót thương từ bi của Đức Phật thì cứ vẫn dạt dào.

    Trích từ truyện cổ Phật Giáo

  22. Thanks ryan3, vinamaster, minh ton, Hieunguyen11, tu kien thanked for this post
  23. #87
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Hái Hoa Dâng Phật


    HÁI HOA DÂNG PHẬT

    Có một lần Đức Phật đi dạo ở thành La Duyệt. Trời đương độ mùa xuân, cảnh xuân tươi đẹp, thời tiết lý tưởng. Ðức Phật thong thả từ thành trong đi vòng ra thành ngoài, nhìn cảnh sông nước tươi tốt, đồng cỏ mơn mởn xanh, ngài thấy trong lòng thơ thới, an nhiên. Bỗng dưng từ xa vọng lại tiếng ca, tiếng ca sao mà ai oán, sao mà bi thảm đến thế! Lúc ấy, Ðức Phật yên tịnh ngồi bên bờ suối.

    Không lâu sau, một đoàn người đủ cả già trẻ nam nữ, trong tay ôm một bó hoa tươi, im lặng tiến đến gần.

    Từ xa, họ đã thấy Đức Phật uy nghi, tướng hảo, như mặt trời mọc buổi bình mình, như trăng sáng giữa bầu trời đầy sao, còn có rất đông các vị đệ tử bồ tát vây quanh trước sau, trong lòng họ, ai nấy đều cảm thấy như mình bắt được một kho tàng quý báu, nên không ai bảo ai, như ong vỡ tổ, họ chạy đến trước mặt Đức Phật, đảnh lễ Ngài và nói:

    - Thế Tôn! Chúng con thấy Ngài tướng hảo trang nghiêm, biết ngay Ngài chính là Đức Phật tối tôn, chỉ có Ngài mới là bậc cứu thế chân chính mà thôi. Chúng con phụng mệnh quốc vương, mỗi ngày phải ra ngoài thành hái hoa để chưng bày trong vương cung, ngày nào không hái được hoa thì sinh mệnh chúng con khó có thể bảo toàn, chúng con sẽ bị chịu khổ hình roi vọt trút trên đầu trên cổ không thương xót. Hôm nay chúng con có may mắn lớn gặp được Ngài là bậc Ðại Thánh, giống như người bệnh được thuốc, thật không ai có thể hình dung được niềm vui mừng của chúng con. Thỉnh Thế Tôn tiếp nhận những bó hoa tươi chúng con xin cúng dường.

    Ðức Phật mỉm cười, xót thương họ mà nói:

    - Không nên làm như thế. Các người phụng mệnh nhà vua mà hái hoa, nếu đem hoa tặng ta thì các người sẽ chịu sự trừng phạt của nhà vua, làm sao ta có thể nhẫn tâm lấy hoa của các người!

    - Thế Tôn! Xin Ngài quan sát rõ tâm của chúng con. Ðược gặp Phật xuất thế là chuyện ức kiếp khó mà có được. Chúng con thà xả bỏ cái thân mệnh ngắn ngủi đau khổ, đem hoa cúng đường Phật gieo trồng nhân duyên thiện lành và thoát khỏi cái thân phận đớn đau này.

    - Nếu quả thật các người bị nhà vua xử phạt thì các người sẽ phải làm thế nào?

    - Thế Tôn! Chúng con quyết không ân hận vì dù cho có bị sát hại đi chăng nữa, thì nhờ nương vào công đức của Phật, chắc chắn sẽ không rơi vào nẻo ác, cuối cùng cũng sẽ sinh vào chỗ tốt đẹp an vui.

    Người nào biết rõ rằng sống là khổ đau mới phát tâm muốn giải thoát một cách chân thật. Ðức Phật mỉm cười, im lặng gật đầu. Những người ấy bèn lấy hoa rải lên thân Phật và chúng đệ tử Bồ Tát xung quanh Ngài. Không trung lập tức ngát lên hương thơm ngào ngạt.

    Những người hái hoa thấy tôn nhan của Đức Phật lộ vẻ hoan hỉ, họ bèn nhảy nhót vui mừng và xin thọ tam quy ngũ giới.

    Sau đó, Đức Phật còn thuyết pháp Ðại thừa Lục độ cho họ nghe. Những người hái hoa này đều phát tâm đạo vô thượng, hiểu rõ sâu xa ý nghĩa Phật pháp, đắc được vị bất thối chuyển.

    Ðức Phật hoan hỉ thọ ký cho họ:

    - Các người sau này sẽ thành Phật, đều có tên là Diệu Hoa.

    Những người háo hoa đảnh lễ Đức Phật xong, vui vẻ lui đi.

    Cúng dường Phật bằng tâm chân thành, dù chỉ một đóa hoa cũng được Phật thọ ký, Phật pháp quả thật là không thể nghĩ bàn!

    Trích từ truyện cổ Phật Giáo

  24. Thanks Lien 53, Hieunguyen11, vinamaster, minh ton, tu kien thanked for this post
  25. #88
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Chín Mươi Ba Kiếp Mới Gặp Lại Con


    CHÍN MƯƠI BA KIẾP MỚI GẶP LẠI CON

    Vào khoảng thời gian hai mươi năm sau Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, Từ thành Tỳ-Xá-Ly hướng về phía Bắc Thành Ca-Tỳ-La-Vệ. Có một đoàn Tăng lữ gồm 17 vị, họ bước những bước chân nhịp nhàng và đều đặn, tuy không phát ra tiếng động của nhiều bàn chân cùng nện xuống mặt đất bột khô dưới sức nóng của mùa hè oi bức, nhưng không sao tránh khỏi lớp bụi bủn tung tỏa dưới sức dẫm của 34 cái bàn chân, tạo nên một đám mây cuồn cuộn; từ xa, tưởng chừng như các tiên nhân vừa từ trên không đằng vân vừa đáp xuống. Mây bụi vẫn cuộn trôi về phía sau lưng của họ, mặt trời càng rực đỏ và nghiêng hẳn về hướng tây, đến ngã rẽ, trước mặt họ là rừng cây khô trụi lá, một con quạ cô đơn ngoác mỏ kêu: Quạ! Quạ! Quạ!

    Đoàn Tăng lữ bỗng dừng bước! Vị Tăng uy nghi đi dẫn đầu ngước mặt nhìn đăm đăm vào con quạ! 16 vị đi sau cũng im lặng nhìn theo, họ đều bất động!??..

    20 phút! 30 phút! 45 phút! Con quạ cũng yên lặng nhìn vị Tăng! Chốc, chốc lại nghiêng nghiêng cái đầu in tuồng như nó vừa lắng nghe vừa dò xét, vừa hỏi gì gì đó!?

    Một giờ trôi qua! Con quạ chớp đôi cánh kêu lên giọng mừng rỡ: Quá! Quá! Quá! Rồi nó bay liệng một vòng sà xuống nhìn vị Tăng uy nghi. Quá! Quá! Có lẽ nó chào!Và nó bay thẳng vào rừng cây khô! Vị Tăng mỉm cười! Nhưng ngược lại, đôi mắt Ngài đượm nét u buồn??.

    Họ là ai? Thì ra, Vị Tăng uy nghi nầy chính là Xà-Dạ-Đa Tôn Giả.

    Tôn-Giả là người đã chứng đắc quả vị A-La-Hớn, Tôn-Giả Xà-Dạ-Đa Ngài thường đem theo 16 vị đồ đệ, hành hóa khắp nơi để thuyết pháp và cứu độ chúng sanh, ai có duyên gặp được Tôn-Giả đều thọ nhận được những pháp lạc nhiệm mầu giải thoát các khổ nạn.

    Tôn Giả không nói suông, mà Ngài đích thân săn sóc, chỉ dạy thuần thục các phương pháp phải tu như thế nào để công đức kết quả tối thắng và nhờ đó tiêu trừ các ác báo ác quả của nhiều tiền kiếp và sớm đoạn mối dây nhân quả luân hồi, thoát ly sanh tử.

    Sau khi con quạ đã bay mất hút qua khỏi rừng cây khô, thì một trong trong các vị đệ-tử đã kính lễ bạch rằng:

    Kính bạch Sư Phụ: Do nhân duyên gì, mà Sư Phụ đã đứng khá lâu và mãi im lặng nhìn con Quạ như vậy? Tại sao con Quạ ấy nó không bay đi mà nó cũng nhìn mãi vào Sư Phụ, chúng con vô cùng ngỡ ngàng và nghi hoặc! Chúng con thấy như là Sư Phụ và con Chim Quạ trao đổi, tỏ bày gì gì đó với nhau vậy! Câu chuyện trước mắt chúng com hôm nay, không biết Sư Phụ có thể giải bày chỉ dạy cho chúng con hay không? Chúng con kính lễ sám hối những lời hỏi và lòng nghi hỏi, mong Sư Phụ từ bi cho chúng con sáng tỏ. Tôn Giả Xà-Dạ-Đa hiền hòa nói:

    - Chúng ta phải đi nhanh và làm một việc, khi đến thạch thành nghỉ ngơi Sư Phụ sẽ giải bày cho các con hiểu.

    Thế là thầy trò 17 vị, Họ bước nhanh theo hướng bay của con chim Quạ khi đã rời khỏi họ, qua khỏi bên kia rừng cây khô. Ở ven rừng bên đó cây lá đã có màu sắc của rừng cây. Tôn-Giả hướng dẫn các đệ tử đến một cây có nhiều màu lá vàng, trên một chạc cây nhiều nhánh trông thấy có một ổ chim…

    Tất cả các đệ tử đều cùng gợi lên một cảm giác “rúng động” len nhẹ vào lưng của họ! Họ như có một động thức tiên tri về cái ổ chim ấy (?).

    Tôn-giả lặng lẽ vươn dài cánh tay thần biến hơn trượng, bưng cả ổ chim từ trên chạc cây cao xuống đặt xuống đất? Một xác chết con chim Quạ! Tất cả đệ tử như biết phải làm gì! Yên lặng! Nhất tâm! và cầu nguyện!.

    Tôn Giả nói nhỏ: Các con đi hốt lá khô và ít củi để hỏa thiêu nó! Hoàn tất! Thầy trò Tôn giả quay về hướng Bắc lẳng lặng bước đều, trên lộ trình xuôi ngược 10 dặm đó, chẳng gặp một bóng bộ hành. Một đệ tử reo lên: Thạch Thành đã thấy phía trước rồi đó sư phụ! Tất cả như cảm thấy khỏe ra.

    Thạch Thành, chỉ là một bờ đá sắp chồng gắn dính lên nhau; chỗ thấp cao quá khỏi đầu, chỗ cao vươn cao trông như trái núi, chiều dài hơn trăm bộ, khoản giữa xếp đá vòng cung như một cái động, có thể che nắng mưa cho vài trăm người tạm trú ngụ trong đó. Bên trong còn có những phiến đá có thể nằm tựa lưng hay ngồi nghỉ ngơi.

    Sau khi dùng lương khô và uống nước, các đệ tử cùng ngồi chung quanh nhìn sư phụ họ cảm thấy lòng rộn rã, nôn nao và một cảm giác thổn thức về điều mà họ cho là thật đủ nhân duyên để nghe, để biết và nhất định là một đạo lý… chứ không thể câu chuyện tầm thường được.

    Tôn Giả Xà-Dạ-Đa, bấy giờ tôn dung của Ngài thật nghiêm trang còn pha một tí đăm chiêu về cái câu chuyện mà Ngài đã hứa giải bày cho đệ-tử. Câu chuyện có giúp gì cho đệ tử thêm phần kiến văn và từ đó nhận thức rộng sâu về diệu lý nhân quả hay chỉ là một hý luận (?)!.

    Tôn Giả nhìn qua các đệ-tử: Các con có biết không? Ngài hỏi, nhưng thật ra chỉ là một cách để mở đầu câu chuyện “Cách đây 93 kiếp, hồi đó đã gần kiếp cuối của Trang-Nghiêm-kiếp, Đức Tỳ Xá Phù Phật bậc Chí Tôn Giáo Chủ thuyết pháp suốt thời gian 20 tiểu kiếp, ta có duyên được nghe pháp nên muốn quyết tâm xuất gia cầu giải thoát và giác ngộ.

    Chẳng may cho ta vì, gia đình của ta rất giàu có, cha mẹ quyết ý ngăn trở vì ta là con một. Ta thưa trình với cha mẹ thật nhiều lý lẽ luân hồi trong sáu nẻo khổ đau…Cuối cùng cha mẹ ta chấp nhận với một điều kiện! Cái điều kiện mà muôn ngàn người trên thế gian có cùng hoàn cảnh như ta, không ai tránh khỏi được; đó là phải lập chánh thê, có con trai nối giỏi rồi sau đó mới có thể xuất gia.

    Giáo pháp của Phật, Lễ hiếu làm đầu ta không dám xóa bỏ, chỉ trừ trượng hợp vì hiếu mà gây ra đớn đau và tàn sát sanh linh! Diệt vong vô số nhân mạng và của cải thì phải đành bất hiếu. Các con phải thấm sâu đạo lý ấy.

    Bảy năm sau, ta đã có một con trai vừa đúng sáu tuổi. Đứa con nầy, thật thông minh đĩnh ngộ, ta rất yêu nó! Nhưng ta không thể tiếp tục sự vướng mắc mãi trong mối giây oan nghiệt của luân hồi. Ta thưa với cha mẹ, với bổn phận và vâng lời con đã làm xong, và qua phân trần nhắc lại lời hứa mà vợ ta đã chấp nhận để ta xuất-gia vào bảy năm về trước. Chia ly trong lúc mà những thân ái vây quanh ràng buộc quả là không dễ, những lòng ta tự thề quyết phải độ cho cha mẹ, thân bằng, chúng sanh, nàng và con thoát ly sanh tử khi ta đắc đạo.

    Đêm hôm ấy, gió mùa trở lạnh canh năm là canh mà mọi người đang mê ngủ, ta lạy cha mẹ rồi ngang qua phòng ngủ của hai mẹ con nàng, ta định ngỏ vài lời từ biệt, nhưng ta thôi, chỉ tạo thêm vướng bận; ta lặng lẽ khép cửa ra đi.

    Vì nhà cửa đồ sộ, nên từ mái hiên ra đến cổng ít lắm cũng xa 50 bộ. Ta vô cùng kinh ngạc cửa cổng đã mở trống một bên! Thằng bé con ta, Nó đã ngồi đó án ngữ nghạch cửa để bước ra tự bao giờ!?

    Ta vừa xúc động! Vừa bàng hoàng! Ta ngồi xuống ôm con, nhìn vào mặt nó. Trong ánh sáng lờ mờ mặt nó như se tím, đôi mắt căm căm. Ta cảm thấy run sợ trước cái nhìn cương quyết và trừng trừng của nó! Ta lạnh buồn hỏi:

    -Con, giờ nầy sao con không ngủ? Sao con có thể ra ngồi được ở đây? Mẹ đâu?

    Nó chắc nịch:

    -Con đợi cha đã lâu! Để tiễn biệt cha và cũng để tiễn con! Ta bỗng dưng rúng động và tê điếng cõi lòng!

    -Cha đi xuất gia, chứ nào có bỏ con hay xa lánh con đâu!

    Nó nhìn thẳng vào ta:

    -Con biết! Cha đi xuất gia, nhưng con thì từ nay con đã mất cha! Một thằng bé con nít sáu tuổi đầu, còn bú sữa mẹ, sống không cha! Sống để mà chi! Tiễn cha đi rồi, con cũng sẽ tự con tiễn lấy con!

    Nói xong, nó đưa tay lên chớp theo một tia ánh sáng, trong tay thằng bé đã có sẵn một con dao! Ta khiếp quá. Ôm chặt nó và giữ cứng con dao.

    Nó cười nghe như tiếng thép và nói:

    - Cha đi đi, cho trọn nguyện ước. Cha đi rồi con cũng đi, con quyết không sống với cuộc đời không cha!

    Ta bấn loạn, nước mắt ràn rụa! Ta nói như điên: Không không, cha không đi, không đi đâu cả! Cha thương con! Cha sống bên con! Cha ở với con mà!.

    Thằng bé vất đao xuống, nó nhảy bổ lên ôm chặt vào cổ ta, nó cắn vào cổ ta mà lệ tràn xuống đôi má nó! Ta ôm con vào nhà, bình minh đã sáng từ lúc nào.

    Ngày nay, ta là đệ tử của Từ phụ Thích Ca, sau khi chứng quả A-La-Hớn rồi, Ta dùng Túc-mạng và Thiên-nhãn tìm kiếm đứa con 93 kiếp về trước, đứa con đã ngăn trở bao kiếp tu hành chứng quả của ta, không biết nó đọa ngã nào trong 6 nẻo luân hồi! Ta đã tìm hết trong cõi người, không thấy nó! Trong loài cá biển! Cá đồng và hồ ao cũng không! Trong các cầm thú cọp beo, rắn rết, gà vịt cũng không gặp nó! Không ngờ ngày nay gặp nó ở trong loài chim, lại đang thọ thân con chim quạ! Ôi! 93 kiếp qua rồi! Trong suốt giờ, nó nghe pháp và sám hối! Con ta giờ đây đã thoát kiếp bàng sanh. Căn lành đầy đủ, đến ngày Phật Di-Lặc ra đời nó sẽ giác ngộ trong hội đầu Long-Hoa. Cầu nguyện tất cả chúng sanh đồng thành Phật Đạo.

    Ôi, chín mươi ba kiếp rồi mới gặp được con.

    Nam Mô Xà Dạ Đa Tôn Giả!

    Trích từ truyện cổ Phật Giáo - Hòa Thượng Thích Huyền Tôn

  26. Thanks huudangdo, Hieunguyen11, vinamaster, tu kien, minh ton thanked for this post
  27. #89
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Dứt Bỏ Ảo Tình


    DỨT BỎ ẢO TÌNH

    Từ khi Phật Thích Ca Mâu Ni lại thành Xá Vệ thuyết pháp, giáo hóa đại chúng thì nhân dân toàn thành này trở nên có đạo đức có lễ độ lại biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, khiến cho nước Xá Vệ biến thành một cực lạc quốc.

    Tin này truyền đi gần xa, có một số người khác đạo ở nước La Kiệt Kỳ rất khâm phục uy tín Ðức Phật, liền không quản đường xá xa xôi, cố tìm đến nước Xá Vệ để cầu Phật dạy bảo. Nhưng trong khi chưa gặp được Ðức Phật thì bỗng xảy ra một chuyện rất trái ý ở giữa đường.

    Số là nước Xá Vệ ở vào xứ nóng, thường có nhiều rắn độc, một khi rắn đã cắn phải người thì người ấy tức khắc chết liền, không có cách nào cứu sống được.

    Hôm đó, người viễn khách vừa tới ngoài thành, ngồi nghỉ dưới bóng cổ thụ, nhìn xuống bên đường, thấy hai người, một già một trẻ, đang cuốc đất. Bỗng đâu có con rắn độc núp trong cỏ nhảy ra mổ chết người ít tuổi, người nhiều tuổi bỏ cuốc chạy lại thấy người ít tuổi đã tắt thở thì hơi lộ nét buồn rồi thản nhiên quay lại chỗ cũ cuốc đất.

    Viễn khách thấy thái độ ấy làm lạ, liền tiến lại bên cạnh ông già mà hỏi rằng:

    - Này cụ! Thanh niên vừa chết kia có là con cháu hay là gia nhân cụ?

    Ông già đáp cách tự nhiên:

    - Hắn là con tôi.

    - Ủa, lệnh lang bị rắn cắn chết sao cụ lại không kêu gào khóc lóc thảm thiết như người xứ chúng tôi thường làm?

    - Nó là con trai tôi đó, nhưng bây giờ đã chết rồi, thiết tưởng dù có khóc than chỉ là thêm phiền não mà cũng chẳng cứu sống lại được. Vậy khóc than có ích lợi gì?... Trầm ngâm một lúc, ông lão nói tiếp:

    - Ông ạ! Con người ở đời trước sau thế nào cũng chết, khác nào như mọi sự vật, có thành tựu thời phải có hoại không, đó là hiện tượng tự nhiên của tuần hoàn, nếu mà lúc sống gây nhiều nhân thiện thì sau có báo ứng tốt, nhược bằng gây nhiều nhân ác thì có ác báo không sai. Nay đã chết rồi, thì dầu gì chăng nữa cũng là thừa.

    Ông già nói xong thấy khách suy nghĩ đờ đẫn người ra liền hỏi:

    - Phải chăng ông định tiến vào thành? Tôi muốn cảm phiền ông giúp cho một việc, phỏng có được không?

    - Có việc gì xin cụ cứ nói!

    - Thế thì hay lắm! Ðây: nhà tôi ở ngay cổng thành đi vào, quẹo sang bên phải bỏ gian đầu đến gian thứ hai ấy chính là nhà tôi. Vậy xin ông, khi đi qua, ghé vào nói giúp với bà nhà tôi rằng: Ðứa con đã chết, vậy trưa nay chỉ đem một xuất cơm cho tôi ăn mà thôi.

    Viễn khách nghe ông già dặn thì điếng người, vừa đi vừa tự nghĩ: Ông già này keo quá, con đã chết mà còn đếm xỉa đến cả bữa cơm… Thật cả thế gian này cũng không đâu có người cha đến như thế! Kịp khi qua cửa thành, quẹo sang bên phải, cách hai nhà, quả nhiên thấy bà cụ vừa vặn đứng ở ngoài cửa. Viễn khách liền thi lễ và nói:

    - Thưa bà, con trai bà bị rắn cắn chết, ông có nhắn tôi về bảo bà chỉ cần đem một suất cơm cho ông thôi.

    Bà nghe khách nói xong thì tỏ vẻ buồn rầu thoáng qua nét mặt rồi trân trọng cảm tạ khách, viễn khách lấy làm lạ lùng hết sức và tự hỏi: “Tại sao bà nghe tin con chết mà không kinh hoảng hoặc té xỉu người đi???”. Liền hỏi luôn:

    - Này bà, xin thứ lỗi cho tôi hỏi câu đường đột: Bà không thương xót lệnh lang hai sao?

    Bà lão thong thả đáp:

    - Thưa ông! Cái đạo con cái với cha mẹ là tự túc nhân nghiệp báo nên mới có sự thác sinh vào nhà chớ không phải là do cha mẹ mời vào mà được, đến khi họ chết, cũng là do mãn nhân, mãn nghiệp mà họ đi, nên cũng không thể lưu họ lại. Cha mẹ khác nào như người chủ quán trọ chiều nay có khách lại ngủ đỡ, sáng mai hay ngày kia khách lại ra đi, chủ quán không thể lưu lại. Ấy sự liên quan giữa cha mẹ và con cái cũng thế đó. Vậy thì: Có thương tiếc hay kêu gào khóc lóc liệu có thể cứu sống lại được người đã chết không? Hay chỉ là gây thêm phiền não mà chẳng có ích gì?

    Nghe câu trả lời của bà cụ, khách rất hoang mang cho rằng vợ chồng ông già này quả thật là xứng đôi vừa lứa. Cả hai đều có một tấm lòng sắt đá giống nhau. Giữa lúc này, từ phía trong nhà, một người con gái đi ra, bà lão giới thiệu là chị gái người vừa chết. Khách liền hỏi ngay:

    - Em trai cô vừa bị rắn cắn chết, chắc cô thương xót lắm nhỉ?

    - Thương xót là lẽ thường, nhưng thương xót có thể cứu người em sống lại được chăng? Tôi tưởng: Chị em một nhà, khác nào như các cây gỗ ở rừng hạ xuống đóng thành cái bè rồi thả vào nước cho trôi. Nếu sông hồ phẳng lặng thì bè trôi mãi, bằng có cơn phong ba bão táp nổi lên đánh tan chiếc bè thì mỗi cây trôi đi mỗi ngả, có bao giờ còn hy vọng lắp lại liền với nhau? Tình chị em cũng thế. Ðó là nhân duyên kiếp trước hợp rồi sinh vào một cửa. Tuổi thọ cũng tùy nghiệp báo, có người ngắn có người dài, và ngày chết cũng là vô thường, không sao biết trước được. Nay em tôi chết, mặc dầu tôi là chị hắn, nhưng tôi có làm gì được đâu? Huống chi là khóc với lóc, có phải không ông?

    Người này đang nói, bỗng ở đằng sau, thấy một người đàn bà nữa tiến ra, khi nghe cô chị nói xong thì kêu lên:

    - Thế ra chồng tôi đã chết rồi?

    - Ðúng đấy! Chồng bà đã bị rắn cắn chết ở ngoài đồng. Vậy bà đau buồn lắm thì phải?

    - Thưa ông! Chồng chết ai không đau buồn, nhưng cái đạo vợ chồng ở đời khác nào như đôi chim trong rừng, tối đến cùng ngủ một cành, sáng ngày lại bay đi kiếm ăn, nếu có duyên thì trở về cùng nhau, nhược bằng gặp tai họa thì mỗi con bay đi một ngả. Ấy nghĩa vợ chồng ở đời là thế, mỗi người có một số mạng riêng, không làm sao mà nói được rằng: Chồng chết thay cho vợ, hay vợ chết thay cho chồng. Như thế khóc lóc phỏng có ích gì?

    Viễn khách nghe lời mọi người trong gia đình này nói ra thì lòng sanh hoài nghi cho thế tục nhân tâm ở xứ này, liền hối hận đã mất công tìm đến xứ này để học cái hay cái tốt của Ðức Phật giáo hóa dân chúng; nào ngờ dân chúng như thế hỏi còn học được cái gì ở đây? Chi bằng lui gót trở về quê hương xứ sở là hơn. Nhưng hồi lâu lại nghĩ: Mình chưa được gặp Ðức Phật đã nóng nảy phê bình một vài thái độ của dân, rồi vội vã quay về, như thế là hành động nông nổi chưa chín chắn, chắc sau này có điều phải ân hận… Vậy ta phải đến thẳng tịnh xá tại vườn Kỳ Viên, để được gặp Ðức Phật đã rồi sẽ hay. Nghĩ rồi, khách đi thẳng một hơi tới Tịnh xá và được ra mắt Phật.

    Khi thấy Phật, khách khoan tay cúi đầu thi lễ, đoạn lui sang ngồi một bên, không nói không rằng: Ðức Phật đọc rõ ý kiến trong lòng khách, nhưng cũng cất tiếng từ bi hỏi:

    - Tại sao viễn khách có bộ dạng buồn rầu?

    - Bạch Thế Tôn, nhân vì con hy vọng một việc mà chưa được như ý nên trong lòng con không được vui vẻ.

    - Có việc gì trái với bản tâm, tưởng cứ nói ra không nên để trong lòng phải ưu sầu không thể giải quyết được việc gì hết!

    Lúc đó người khách mới thuật hết đầu đuôi câu chuyện đã gặp ở ngoài thành, cuối cùng khách phê bình thái độ của gia đình nông dân ấy là trái với tình đời.

    Phật nghe xong tủm tỉm cười dạy rằng:

    - Ðiều mà viễn khách cho rằng trái với tình đời là thuộc về “nhân tính”. Còn chân lý thì không những không được thể hiện theo “nhân tính” mà còn phải tước bỏ nhân tính cho đến hết. Ðó mới thực là điều khẩn yếu của kẻ tu hành xuất gia.

    Nghĩ một chút, Ngài nói tiếp:

    - Viễn khách đây vì chưa hiểu chân lý, nên thấy gia đình nhà nông kia hành động như thế thì vội cho là “phản tình đời”. Nhưng đứng về mặt chân lý mà xét, thì những người ấy quả nhiên là không có hành động lỗi lầm, vì họ biết rõ thế nào là “cuộc đời vô thường”, nghĩa là con người đời không thể nào nắm giữ vĩnh viễn được cái “sắc thân” làm sinh mệnh bấy hủy bất diệt của mình. Kìa xem từ xưa tới nay, dù là phàm hay Thánh, cũng không ai có thể tránh được cái chết.

    Nếu vì một cái chết mà cả nhà theo nhau khóc lóc đến phát đau, phát ốm thì sự khóc lóc ấy hỏi có ích lợi gì cho cả người sống lẫn người chết? Vả chăng, con người ngay từ lúc sơ sinh, đã nắm chắc lấy cái chết trong tay rồi. Nay thấy sự chết mà gây phiền não trong lòng quá đỗi thì ta “mê hoặc” chưa hiểu cái lẽ sống chết. Nên biết rằng “sống” và “chết” là hai đầu mối luôn luôn tiếp diễn và luân chuyển không lúc nào ngừng. Hễ đã biết rõ được như thế là đã giải thoát rồi.

    Viễn khách nghe Ðức Phật giảng giải cho nghe một hồi thì lòng thoát nhiên tỉnh ngộ. Liền nguyện xin ở lại làm đệ tử của Phật và qui y Phật pháp tức thì. Viễn khách này sau trở nên một vị Tỳ kheo rất tinh tiến.

    "Thân như bóng chớp chiều tà,
    Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời
    Sá chi suy thịnh việc đời,
    Thịnh suy, suy thịnh, sương rơi đầu cành."


    Trích từ truyện cổ Phật Giáo.

  28. Thanks Hieunguyen11, minh ton, tu kien, andy82 thanked for this post
  29. #90
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Ông Trưởng Giả Kén Rể


    ÔNG TRƯỞNG GIẢ KÉN RỂ

    Thuở xưa có gia đình ông trưởng giả giàu có và sang trọng hơn người. Tuy giàu có sang trọng mà đối với đám dân nghèo hai ông bà chẳng hề giúp đỡ, làm ơn làm phước cho ai.

    Ông bà sanh hạ được bốn người con, ba trai và một gái. Mặc dù của nhiều con có, mà hai ông bà thường lo buồn than thở vì cậu con trai đầu lớn lên thì cờ bạc rượu chè ăn chơi phung phí, hao tốn không biết bao nhiêu tiền của; còn cậu thứ hai thì thân thể vốn suy nhược, từ khi sanh ra đến lớn lên bịnh hoạn triền miên, tiền thầy, tiền thuốc tốn kém rất nhiều mà bịnh vẫn còn nguyên. Không một cậu nào biết hiếu để hoặc biết lo gia nghiệp. Duy có thằng thứ ba và cô út, tánh tình hiền từ, thảo thuận và biết lam lũ làm ăn. Hai ông bà nhờ cậy hơn hết chỉ có một mình cô gái út, nhưng khốn nỗi cô là phận gái, làm sao nối được sự nghiệp của Tổ Tiên! Vì thế mà hai ông bà mỗi đêm, không khỏi gác tay lên trán, lo rầu than thở!

    Một hôm, bà bảo ông rằng:

    - Nhà mình có tiếng là giàu sang chẳng kém thua ai, gia tài sự nghiệp kinh doanh to lớn, đáng lẽ là hạnh phúc lắm, nhưng sao lại vô phúc thế nầy, đã sanh đặng mấy đứa con trai mà thằng cả với thằng thứ hai không một đứa nào biết hiếu đạo, lo nối giỏi gia phong. Có cũng như không, vậy biết làm sao? Duy có thằng thứ ba và con út biết lo làm ăn thạnh lợi cho gia đình. Sách nói: "Vi phúc bất nhân". Có lẽ hai vợ chồng chúng ta cứ lo làm giàu, từ hồi nào đến giờ không biết làm những điều nhân đức, nên Trời Phật khiến cho hai con ta hung hoang phá của như thế để phạt chúng ta chăng? Bây giờ tôi nghĩ như thế nầy, may ra con ta có hồi tâm hướng thiện chăng? Chúng ta nên sắm hương hoa trà quả đến chùa cúng Phật, quy y để nương dựa theo bóng từ bi, nhờ thần lực Tam bảo gia hộ cho chút phước duyên, khiến cho con chúng ta tánh tình trở nên hiền từ biết lo hiếu dưỡng phụ mẫu, duy trì gia nghiệp đặng mong cầu hành phúc tương lai. Vậy ông nghĩ sao?

    - Bà nói nghe hữu lý, vậy thì bà lo sắm sửa hương hoa trà nếp, để chúng ta cùng đi ...

    Sáng hôm sau hai ông bà đem lễ vật lên chùa quy y và giải bày tâm sự cho Hòa thượng nghe. Nghe xong, Hòa thượng cảm động, thương người biết ăn năn hối lỗi, nên hoan hỷ truyền trao quy giới và dùng những lời hòa nhã đạo đức khuyên nhủ ông bà, giảng nói thuyết luân hồi nhân quả. Hòa thượng lại dạy phải kính thờ Tam Bảo, y theo lời Phật dạy, giữ gìn năm giới, mỗi tháng ăn chay 4 ngày và tụng kinh niệm chú, đem của cải chuẩn bần bố thí. Làm được như thế thì hai đứa con ông bà sẽ hồi tâm hướng thiện lo phụng sự gia nghiệp.

    Hai ông bà nghe lời thầy khuyên dạy như vậy, hết lòng kính phục. Sau khi trở về nhà, hai ông bà y như lời thầy dạy, siêng năng niệm Phật tu hành. Nhưng chưa đầy một tháng, thì ôi thôi, cậu cả lâm phải bịnh nặng, ông bà cầu đảo các chùa miễu, chạy đủ thuốc hay, thầy giỏi, mà bịnh tình của cậu lại càng ngày càng thêm nguy ngập! Thế rồi cậu chỉ để lại cho ông bà một sự thất vọng quá ư sầu thảm mà một mình riêng về cõi hư vô.

    Sau khi mai táng cậu cả rồi, ông bà lên chùa khóc than tha thiết, kể lại tình cảnh cho thầy nghe. Thầy động lòng cảm thương, khuyên dạy rằng:

    - “Con người có sanh phải có tử, đó là lẽ cố nhiên, từ vua chúa đến quan dân, không một ai tránh khỏi. Dù cho có ngọc ngà châu báu đầy kho cũng không thể đổi được cái chết, tôi tớ đầy nhà cũng không sao thay thế đặng. Cha mẹ vợ chồng con cái, dù tình thương có mặn nồng bao nhiêu rồi cũng phải phân ly. Tình chồng vợ, cha con sống trong một nhà, cũng như bầy chim chung ngủ trong một cụm rừng, hễ cơn giông tố ào đến, thì mạnh con nào nấy bay!

    Cổ nhân đã dạy:

    Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt
    Phu thê nghĩa trọng giã phân ly
    Nhơn tình tợ điều đồng lâm túc
    Đại hạn lai thời các tự phi.


    Dịch nghĩa:

    Cha mẹ ơn sâu còn có biệt
    Vợ chồng nghĩa nặng cũng phân ly
    Nhơn tình nào khác chim chung ngủ
    Sáng lại, con nào nấy bay đi.


    Hòa thượng lại nói tiếp:

    - “Ông Bà nghĩ coi, ai lại không muốn sống, sống để hưởng cuộc phú quí vinh hoa. Kia như vua chúa là bực giàu sang phú quí nhất trên đời, họ còn muốn sống gấp trăm lần dân chúng, đặng hưởng hạnh phúc, nhưng không tránh khỏi số mạng đã định.

    Sách nói:

    Diêm Vương chủ định tam canh tử
    Định bất lưu nhơn đáo ngũ canh

    Nghĩa là:

    Diêm Vương nhất định canh ba chết
    Quyết chẳng để người đến canh năm.


    Cuộc đời của cậu cả hưởng thọ chỉ có bấy nhiêu, bởi kiếp trước cậu không tu nhơn trường thọ. Vậy ông bà cũng nên khuây khỏa, chớ nên buồn rầu lắm mà thêm hao tổn tinh thần. Bây giờ ông bà có thương yêu sầu thảm cho mấy, cậu cũng không sống lại được, tốt hơn là ông bà lo tụng kinh cầu nguyện cho hương hồn của cậu cả, được tiêu diêu về miền Cực-Lạc, thì ích lợi hơn. Từ nay ông bà nên dũng mãnh phát nguyện ăn chay mỗi tháng 6 ngày và thọ trì Kinh Phổ-Môn, thì tai họa sẽ tiêu tan, gia đình yên ổn, và hương hồn cậu cả được siêu thăng.

    Hai vợ chồng ông trưởng giả được nghe lời thầy khuyên dạy, nên trong lòng cũng tạm khuây. Hai ông bà từ tạ thầy về nhà tinh tấn tu hành. Chưa đầy ba tháng, thì kế tiếp người con thứ hai kỳ này chỉ lâm bịnh sơ sài, rồi cũng theo anh Cả mà thả hồn về nơi chín suối.

    Ôi thôi! Lúc bấy giờ hai ông bà biết bao sầu thảm, oán Trời trách Đất, khinh miệt Thánh Thần, nghi Phật Trời không linh thiêng, bảo vì tu theo Phật mà ra nông nỗi nầy!

    Sau khi tống táng người con thứ hai xong rồi, hai vợ chồng lên chùa, sắc mặt chứa chan những nét âu sầu và tức giận.

    Bà nức nở khóc, nói:

    - Tôi cũng tưởng quy y theo Phật để mong nhờ Phật phù hộ cho con tôi được lành mạnh, nào ngờ đâu, mới vừa quy y làm phước, mà con tôi lại chết luôn cả hai thằng! ... Vậy nay, chúng tôi xin trả phái điệp, chuông mõ và Phật tượng lại Thầy, từ đây thôi không tu nữa! ...

    Thầy ôn tồn khuyên bảo:

    - “Con người ta sanh ra ở đời, sự chết sống đều do số mạng. Sách nói: Nhứt ẩm, nhứt trác giai do tiền định (một hớp nước hay một miếng ăn cũng đều do tiền định) Có người được phước giàu sang mà không trường thọ. Có người được trường thọ mà không có phước giàu sang, đó là do nghiệp nhơn đời trước, chớ không phải muốn mà được đâu. Người chết yểu hay sống lâu là đều do nghiệp trước đã gây tạo cả. Như trong kinh Pháp Cú Phật có dạy rằng: "Dục tri tiền thế nhơn, kim sanh thọ giả thị, yếu tri hậu thế quả, kim sanh tác giả thị" Nghĩa là: Người muốn biết nhơn đời trước thì cứ theo quả báo đời nay mà suy nghiệm; còn muốn biết quả báo đời sau, thì nên xem chỗ tạo nhơn của mình ngày nay vậy.

    Suy đó thì biết hai cậu đời trước tuy có bố thí làm phước chút ít, nên đời nay mới được đầu thai làm con ông bà để hưởng phước giàu sang; còn cậu chết yểu là do đời trước cậu không tu nhơn trường thọ. Bởi hai cậu đời trước tạo nhơn ngắn ngủi, nên nay chỉ sống được chừng ấy thôi. Nè! Vậy xin khuyên Ông Bà chớ vì chỗ thấy biết hẹp hòi của mình mà thối tâm Bồ Đề, vùi lấp giống Phật tử, oán hờn Phật Tổ, trách móc quỉ thần, gây thêm tội lỗi. Ông Bà nên nhớ rằng: “Nhứt nhựt hành thiện, thiện du bất túc; nhứt nhựt hành ác, ác tự hữu dư”

    Ông Bà cũng nên tinh tấn ăn chay thêm, mỗi tháng 10 ngày và nguyện thọ trì Kinh Kim-Cang đi, để cầu nguyện cho hương hồn của hai cậu được siêu thoát, và gia đình từ đây chắc được bình an, để vun trồng cội phúc về sau.”

    Hai vợ chồng ông trưởng giả nhờ thầy lấy nước từ bi rưới tắt lửa sân hận, nên không oán Phật, sầu con nữa, mà lại còn thêm kính Tam Bảo, vâng lời thầy dạy. Ông bà tinh tấn tu hành, vừa lúc đúng một năm thì ôi thôi, người con thứ ba của ông bà cũng từ biệt ông bà hồn dạo nơi âm cảnh.

    Lúc bấy giờ tình thầy trò đã không còn thương mến, mà lại trở nên kẻ thù của ông bà. Ác tâm của ông bà nổi lên cực điểm, nào phái điệp, kinh sách, Phật tượng trên bàn thờ, đều bị ông tuôn xuống đất một lượt, không còn một mảy may nào kính trọng cả. Từ đây, hễ ông thấy đến ông thầy hay cô ni nào đi ngang qua ngõ, nếu ông không đánh đập thì cũng mắng chưởi tồi tàn.

    Trải qua hai ba năm trời, mà ông vẫn còn ôm lòng oán Phật ghét Tăng, hủy báng người tu hành.

    Các việc buồn dồn dập làm cho bà trưởng giả không ăn không ngủ, khóc luôn cả ngày đêm, nên hai con mắt sưng vù và ra máu, không bao lâu bà cũng theo 3 con trai của bà, hồn về chín suối!

    Thế là ông trưởng giả chỉ còn một cô gái út tên là Lan Phương. Lan Phương tuổi vừa đôi chín, nhan sắc lộng lẫy tuyệt vời, công dung ngôn hạnh đều đặng vẹn toàn. Ông trưởng giả cưng nàng như trứng mỏng.

    Nàng thôi học, từ khi anh thứ Ba nàng từ biệt cõi trần, để trở về an ủi cha già và thế cho các anh chăm nom săn sóc gia đình. Nàng là một cô gái rất hiếu hạnh, cả ngày chỉ lo việc nữ công, và chăm nom từ bữa ăn cho cha già, nên cha nàng quí nàng như ngọc.
    Đã nhiều lần, Ông ngồi nghĩ đến việc gia đình và tương lai của con... Ông đầy những nỗi lo buồn, vì không có con trai để nối nghiệp, chỉ còn một đứa con út, song phận nó là gái rồi đây sẽ phải theo chồng.

    Sau mấy đêm nghĩ ngợi, ông tính ra được một kế là kén chọn một chàng rể, không cần con nhà giàu có quan quyền, mà chỉ cần văn chương lỗi lạc để nối gia phong. Sau mấy lần suy tính, ông tuyên bố lên rằng: Nếu ai thi được đậu, thì sẽ được một phần thưởng vô giá là: một cô gái yêu quí của ông và một gia nghiệp triệu phú nầy. Trái lại, nếu người nào bị rớt, sẽ bị đánh 100 roi đuổi ra.

    Lời tuyên bố được truyền khắp mọi nơi, từ già đến trẻ, ai nấy cũng đều biết gia tài triệu phú và cô gái nhà ông trưởng giả, nên không biết bao nhiêu văn nhơn thi sĩ tài ba lỗi lạc đều hy vọng chứa chan mong sẽ lãnh được phần thưởng quí giá của đời họ. Nhưng đã bao nhiêu người rồi, khi đến thi chẳng những thất vọng không lãnh được phần thưởng quí báu ấy, trái lại còn bị đánh 100 roi và đuổi ra khỏi cửa. Bởi cuộc khảo thí quá khó khăn và nghiêm khắc, nên trải qua trên một năm trường mà ông trưởng giả chưa kén chọn được một chú rể nào cả, gần đến khúc đường bế tắc, và thất vọng.

    Bỗng một hôm có một người phong độ giống tu sĩ, điệu bộ khoan thai và nhàn nhã, mặc đồ nâu sòng, đến xin dự thí.

    Người gác cổng hỏi:

    - Thầy đi đâu đó?

    - Tôi nghe ông trưởng giả có mở cuộc thi để chọn rể tài nên tôi xin đến dự thí.

    - Bấy lâu nay biết bao bực văn nhân tài tử đến dự thi, song rốt cuộc đều bị đánh đòn và đuổi ra, huống chi ông, tôi xem bộ tịch thiệt thà như thế nầy, chắc không tránh khỏi bị đòn 100 roi, rồi bị đuổi ra đấy.

    - Không, không hề chi đâu miễn anh vui lòng cho tôi vào, may ra thi được đậu, thì ơn ấy tôi chẳng dám quên.

    - Thôi được, ông hãy đi theo tôi. Nói xong anh gác cửa liền dẫn chàng đi vào nhà.

    Khi vào tận nơi, trưởng giả vừa thấy liền quát to bảo anh gác cửa rằng:

    - Người không biết sao, đã lâu rồi, ta nghiêm cấm không cho ông thầy, cô vãi lai vãng đến đây, nay người còn dẫn vào! Đè lão ấy xuống, đánh 100 roi rồi đuổi ra lập tức cho ta!

    Thí sinh ôn tồn đáp rằng:

    - Thưa Cụ, cháu không phải nhà Sư, Cụ ạ.

    - Không phải nhà Sư à? Không phải nhà Sư sao lại cạo đầu?

    - Cháu muốn cho mát mẻ giản tiện khi tắm rửa và khỏi mất thì giờ chải gở.

    - Ngươi còn giấu gì nữa chớ? Nếu không phải nhà Sư sao mặc đồ nâu sòng.

    - Thưa Cụ vì cháu ở gần chùa, nhà cháu nghèo khó, không tiền mua sắm, chỉ nhờ các Sư bố thí y phục, nên cháu mới mặc đồ như thế nầy.

    - Ngươi nói ngươi nghèo khổ, nếu quả thật như thế thì ngươi làm sao biết chữ để thi?

    - Thưa Cụ, khi cha mẹ cháu còn sanh tiền, có cho cháu đi học, nhưng rủi thay, cha mẹ cháu khuất núi sớm, nên cháu phải côi cút và vất vả đến thế nầy! ... Hiện nay hằng ngày cháu chỉ nhờ miếng cơm thừa của cô bác, nuôi sống qua ngày, để theo đòi việc học tập. Nay nghe Cụ mở cuộc thi chọn rể, cháu cũng xin đem chút tài mọn dự thí, mong rằng: "bỉ cực thới lai" gặp lúc "thời lai phong tống Đằng Vương các", cháu sẽ được thỏa mãn lòng hoài vọng bấy lâu.

    - Thôi được, ngươi hãy ngồi đó, để ta ra đề cho thi, nếu đậu thì ta sẽ làm đúng theo lời hứa, còn không thì ngươi phải bị đánh 100 roi đuổi ra. Song lối thi nầy không phải như cách thi Hương hay thi Hội, nghĩa là không cần có bài vỡ chi cả, miễn ta chỉ đâu ngươi lập tức ứng khẩu làm thi theo đó, nếu hay và thích hợp với ý ta thì được đậu.

    - Dạ vâng!

    Lúc bấy giờ, ông trưởng giả ngó ra trước ngõ, thấy hai cánh cửa, một cánh mở và một cánh khép, tòng bá trang hoàng hai bên đường đi; ông liền chỉ tay vào cảnh đó và bảo chàng làm một bài thơ.

    Chàng thí sinh liền ứng khẩu ngâm:

    Môn tiền nhứt phiến khai
    Tòng bá lưỡng biên bày
    Nhược nhơn hành tà đạo
    Bất năng kiến Như Lai


    Dịch nghĩa:

    Cửa ngoài một cánh mở
    Tòng bá hai hàng dài
    Nếu người theo đạo quấy
    Chẳng thấy đặng Như Lai.


    Nghe xong, ông trưởng giả giận mừng lẫn lộn: vì đã trên một năm rồi, không biết bao nhiêu người đến thi, mà chưa có ai tài đặc biệt hay lỗi lạc như trò nầy, nhưng lòng ông đang thù oán Phật, mà ông nghe đến câu “Nhược nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai” là hai câu kệ trong Kinh Kim Cang mà ông đã thường đọc tụng hơn một năm, nên lòng thêm tức giận và quát to lên rằng:

    - Người làm thi thì hay và bặt thiệp lắm! Nhưng người không biết ta sao? Ta rất oán Phật. Vì theo đạo Phật mà ba đứa con trai ta đã chết nên Ta không muốn nghe đến tên Như Lai hay Phật nữa. Lỡ lần đầu Ta tha thứ, nếu sau người còn dùng đến danh từ Như Lai hay Phật thì sẽ bị đánh trăm roi đuổi ra lập tức nhé!

    - Dạ vâng! Những danh từ nào Cụ cấm, cháu không dám tái phạm.

    Ông Trưởng giả êm dịu cơn nóng giận, lại nhìn ra trước sân thấy có một con gà trống cồ, màu lông năm sắc, đang đập cánh gáy lên. Ông ôn tồn đưa tay chỉ và bảo làm thi.

    Chàng liền ứng khẩu ngâm:

    Đình tiền hữu nhứt kê
    Thân phi ngũ sắc ê
    Ngũ canh thường báo hiệu
    Tam miệu tam Bồ Đề


    Dịch nghĩa:

    Trước sân con gà trống
    Mập mạp năm sắc lông
    Năm canh thường báo hiệu
    Tam miệu tam Bồ Đề


    Nghe xong, ông trưởng giả quát to lên: Rằng hay thì thật là hay, nhưng ta không ưa Phật pháp, oán ghét tăng, ni, chẳng thích Bồ-Tát, không chịu Bồ-Đề. Sao người cứ dùng những danh từ ấy mãi? Lại nữa người nói người không phải nhà Sư, sao rất thuộc những danh từ Phật pháp?

    - Thưa Cụ, vì cháu ở gần chùa thường nghe chư Tăng đọc kinh tự nhiên thấm nhiễm thôi, chớ thật không phải nhà Sư. Nếu cháu thật nhà Sư thì đâu có dự thi như thế nầy.

    - Thôi người đừng nói chi nhiều lời hãy nằm xuống đây chịu đánh 30 roi, rồi ta sẽ cho làm bài khác.

    - Thưa Cụ, xin Cụ hãy xét kỹ mà dung thứ cho cháu. Cụ chỉ cấm không cho nói tới Phật và Như Lai, thì cháu không nói đến hai danh từ đó chớ Cụ đâu có cấm dùng danh từ Bồ-Tát hay Bồ-Đề. Lại nữa, Cụ bảo làm thi trong tức khắc, chỉ đâu phải đọc liền đó, không cho cháu được một phút suy nghĩ, trong lúc cấp bách lựa lời chẳng kịp, vì túng vãn nên cháu nói lỡ như thế, xin Cụ mở lượng khoan hồng mà dung thứ cho.

    Ông trưởng giả nghe chàng phân trần cũng phải, nên cơn nóng giận dịu xuống, bèn tha thứ cho chàng. Lúc bấy giờ ông chỉ ngay bức tranh vẽ hình con cọp treo trên vách và bảo làm thi.

    Chàng liền ứng khẩu ngâm rằng:

    Bích trung hữu nhứt hổ
    Thân ly tam xích thổ
    Thượng báo tứ trọng ân
    Hạ tế tam đồ khổ.


    Dịch nghĩa:

    Trên tường có con hổ
    Thân cách đất ba thước
    Trên báo bốn ơn dày
    Dưới cứu ba đường khổ.


    Kinh Kim-Cang Bát-Nhã là một quyển kinh mà ông Trưởng giả đã thuộc làu. Trong bài thi nầy chàng dùng hai câu “Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” là hai câu kệ trong kinh Kim-Cang, vì chàng muốn thức tỉnh cho ông trưởng giả luôn luôn nhớ lại Phật pháp. Nhưng trái lại, khi nghe đến hai câu kinh làm cho ông trưởng giả thêm khêu gợi lại lửa hờn xưa, vì ông nhớ bởi tụng kinh nầy mà ba đứa con trai của ông bị chết!

    Lúc bấy giờ ông nổi giận lôi đình, la quát om sòm, lần nầy quyết định không tha. Ông bảo: “Nằm xuống! Nằm xuống! Đã ba lần rồi, lần nào ngươi cũng dùng đến danh từ trong kinh Phật, khêu gợi sự tức giận của ta.”

    Tay ông vừa đánh và miệng vừa la mắng, đập một hơi không biết mấy chục roi. Thấy thế, động mối từ tâm, nên Lan Phương là con gái ông bước đến khuyên rằng:

    - Thôi cha! ... Thôi cha! ... Vì người ta ở gần chùa chiền thấm nhiễm đạo Phật đã lâu, hôm nay chỉ trong tức khắc, Cha bảo họ phải bỏ hết những cái gì mà người ta đã thấm nhiễm, thì không thể được, để sau về ở nhà mình, lần hồi dạy dỗ, chàng sẽ làm được vừa lòng cha. Cha không nhớ Cổ nhân dạy: "Cận châu giã xích, cận mặc giã hắc" hay sao? (gần son thì đỏ, gần mực thì đen). Hơn nữa đã hơn một năm rồi, không biết bao nhiêu nhà thi sĩ văn nhân vào thi, song rốt cuộc đều bị đòn đi ra, không có một người nào tài hay lỗi lạc như anh nầy. Cha chỉ đâu thì anh ứng khẩu ngâm thi liền đến đó, không cần suy nghĩ, rất bặt thiệp, làm thi trong chớp nhoáng, nếu cha còn chê nữa thì con chắc chắn cha không tìm được một người nào hơn nữa.

    Nói xong cô bèn trở vào phòng.

    Sau mấy lời can gián, cơn nóng giận dịu lần, ông trưởng giả nghĩ thầm có lẽ con mình đã thương chàng nầy nên ông cũng chìu theo ý muốn của con, tha đánh và bảo chàng đứng dậy.

    Khi đó ông trưởng giả ngồi suy nghĩ: Con mình nói cũng phải, đã hơn một năm rồi, không biết bao nhiêu tài sĩ văn nhân vào thi, nhưng không có một người nào tài hay bặt thiệp và văn chương hay tuyệt như chàng nầy. Đã ba bài rồi, bài nào cũng xuất sắc, chỉ có một điều, chàng thấm nhiễm đạo Phật đã lâu, nên từ ngôn ngữ cho đến điệu bộ cũng đều nhuộm màu sắc Phật giáo. Nhưng nếu ta cố chấp và gắt gao thế nầy mãi thì chắc không có một người nào được hoàn toàn theo ý muốn, rốt cuộc rồi con ta phải côi cút và lạnh lẽo suốt đời! Thôi ta hãy châm chế và dễ dãi bớt đi, để cho con ta được vui lòng.

    Khi đó Lan Phương ở trong phòng phía đông, vừa khoát màn bước ra, diện mạo sáng rỡ như mặt nhựt, điệu bộ khoan thai và thùy mị. Ông liền chỉ ngay vào Lan Phương và bảo chàng làm thi.

    Chàng kính cẩn khép nép và ứng khẩu ngâm:

    Nhựt xuất hướng đông phương
    Diện như minh kính trương
    Dung nhan thậm kỳ diệu
    Phổ chiếu biến thập phương


    Dịch nghĩa:

    Mặt nhựt mọc hướng Đông
    Diện mạo tợ gương trong
    Dung nhan thật kỳ diệu
    Soi sáng khắp mười phương.


    Lần nầy có phần êm dịu hơn các lần trước. Ông trưởng giả nghe xong có hơi tức giận, nhưng vẫn còn giữ được thái độ điềm tĩnh vì ông nghĩ thầm rằng: "Do ở gần chùa, chàng bị thấm nhiễm lâu ngày, nên mỗi bài thi đều bị ảnh hưởng đến Phật giáo chớ có lý nào chàng muốn chọc ta mãi như thế?"

    Ông ôn tồn hỏi tiếp:

    - Nầy cháu! Bác hỏi thật cháu: Vậy thân thế cháu có phải là nhà Sư chăng?

    - Không, thưa Cụ.

    - Nếu không phải nhà Sư, sao cháu biết kinh Phật, và trong mỗi bài thi cháu đều dùng những câu kinh, tỏ ra người rất thông Đạo Phật?

    - Thưa Cụ, cháu đã thưa: Nhà cháu ở gần chùa Phật, sớm chiều cháu thường được nghe các thầy tụng kinh bái sám, với những giọng hòa huởn êm dịu và thanh thoát, khi bỗng khi trầm, lúc khoan lúc nhặt; thỉnh thoảng điểm một vài tiếng chuông, ngân nga trong cõi không gian tịch mịch, để đánh thức người say mê trong cảnh mộng, một vài tiếng mõ kêu sương trong đêm khuya thanh vắng, để gọi ai còn say ngủ trong đêm trường. Vì quá thích thú với mùi Thiền, nên cháu để ý thuộc được các bài kinh ấy. Thú thật, cháu không phải là tu sĩ.

    Ông Trưởng giả yên lặng và nghĩ thầm: "Có lẽ, vì tập nhiễm lâu ngày nên phong độ của chàng nầy giống hệt nhà tu. Nếu sau khi chàng về làm con rể nhà ta, lần hồi huấn luyện, chắc cũng được vừa theo ý muốn."

    Lúc bấy giờ ông hứa sẽ gả Lan Phương cho chàng, và định ngày làm lễ thành hôn cho hai trẻ.

    Suốt cả ngày, vì bận việc thi cử quá mệt mỏi, nên đêm nay ông Trưởng giả ngủ sớm. Đang mê man trong giấc điệp, ông bỗng thấy chàng thí sinh đến gọi:

    - Thưa Cụ, Cụ có muốn tìm các con của Cụ không? Cháu xin tình nguyện dẫn Cụ đi.

    Ông Trưởng giả vui mừng hớn hở đáp:

    - Còn gì quí bằng! Bác cám ơn cháu lắm.

    Hai người dẫn đi một hồi... Ông Trưởng giả bỗng thấy một cảnh giới khác thường, rùn rợn!

    Ông hỏi:

    - Có phải đây là âm phủ không?

    - Thưa Cụ, âm phủ thì cháu chẳng biết, cháu chỉ biết chỗ nầy người ta gọi là chốn "Huỳnh Tuyền" hay gọi là chốn "Suối Vàng".

    - Suối vàng à! Suối vàng à! Bác nghe nói người chết rồi thả hồn xuống "Suối Vàng". Hôm nay ta xuống đến Suối vàng, thế thì ta đã chết rồi sao?

    - Không! Cụ chưa chết ạ. Vì Cụ muốn tìm vợ con nên cháu dẫn đến chốn nầy.

    Nói xong chàng dẫn ông đi một đỗi nữa... Xa xa thấy dạng cậu Cả, ông mừng quá giục tốc chạy đến, ôm con và khóc kể:

    - Con ơi! Sao con đành bỏ cha mẹ ra đi, làm cho cha ngày khóc đêm sầu! ...

    - “Thôi đi ông, tôi đâu phải con cái gì của ông. Nhà ông thiếu nợ tôi. Tôi đến đòi lại. Đòi xong tôi đi, chớ tôi đâu có phải con cái gì của ông.

    Ông còn nhớ không? Trên 30 năm về trước tôi là người tá điền của ông, vì ông buộc phải đem thế vợ con trừ nợ, chúng tôi không thể làm theo ý muốn của ông được, nên ông dùng quyền thế ép chế và phá tan gia đình sự nghiệp của tôi. Tức giận quá nên tôi phải tự tử. Cái oan thù nầy chưa rửa sạch, tôi thề theo báo thù ông.

    Bởi thế nên tôi sanh vào nhà ông, trong mấy chục năm, chỉ phá hại gia sản, làm cho ông phải hao tài tốn của. May nhờ ông biết hối hận tu hành nên tôi vui lòng hủy bỏ nợ cũ. Bằng không thì tôi quyết theo báo ông đến tiêu tan sự nghiệp mới thôi.”

    Nói xong cậu bỏ đi không chút gì quyến luyến. Thấy con nói thế, ông tuôn rơi nước mắt, tức tưởi khóc một hồi. Chàng thí sinh nói:

    - Thôi Cụ, con của Cụ đã nói như vậy, Cụ còn bịn rịn chi nữa cho vô ích! Để cháu dẫn Cụ đi tìm cậu Hai.

    Đi một đoạn đường, ông lại thấy người con thứ Hai của ông đang đi ngang qua. Ông vội vã chạy theo, mừng rỡ và kêu vang:

    - Con ơi! Con! Sao con đành bỏ cha đi biệt mất, làm cho cha đêm ngày sầu thảm, ốm o gầy mòn đến thế nầy!

    Cậu gạt ngang nói:

    -Ai cha con gì với ông. Ông thiếu nợ tôi đến đòi; đòi xong rồi đi, chớ tôi đâu có phải con cái gì của ông. Ông còn nhớ không: trên 20 năm về trước, nhà ông bị mất mấy lượng vàng. Ông nghi cho tôi, nên bắt ra tra khảo. Vì chịu không nổi sự đánh đập tàn nhẫn của người tra, nên tôi phải bỏ mạng. Rồi tiền tài của tôi ông tịch thâu hết. Mặc dù vợ con tôi bị đói rách mà ông cũng chẳng trả lại phần nào. Cái oán thù nầy tràn ngập, nên tôi thề trở lại nhà ông để báo thù. Khi nhà ông sanh tôi ra, cho đến ngày khôn lớn thì tôi đau ốm liên miên, làm cho hai ông bà có khi lo chạy gần hết tiền của cải, không làm một chút gì lợi cho nhà ông. May thay! Ông biết hối hận, sớm lo tu hành, nên tôi vui lòng xóa bỏ oán thù trước, chỉ đòi ông bấy nhiêu năm thôi.

    Nói xong cậu bỏ đi một nước. Ông Trưởng giả gạt nước mắt, tức tưởi khóc, chàng thí sinh khuyên:

    - Thôi Cụ, thế tình như thế... Cụ còn luyến ái nữa làm chi. Cụ nên đi tìm cậu Ba, thử xem nào.

    Chàng dẫn ông Trưởng giả đi một khoảng đường nữa, ông thấy đứa con thứ Ba của ông đang đứng nói chuyện với một người bạn ở bên đường. Mừng quá! Ông hấp tấp chạy đến ôm con mà khóc.

    - Con ơi! Con! Sao con đành bỏ cha mẹ ra đi, làm cho cha mẹ rầu buồn suốt cả ngày đêm. Mẹ con cũng vì rầu buồn quá, khóc cả ngày đêm không ăn bỏ ngủ, trong mấy tháng trường, nên phải bỏ mình, thả hồn về Âm cảnh.

    - “Thưa ông! Tôi thiếu nợ ông, tôi phải đến trả, trả xong tôi đi; chớ tôi không phải con cái gì của nhà ông. Ông còn nhớ không? Trên 20 năm về trước, ở trong bọn tá điền của ông, có một gia đình rất nghèo, nhà dột cột xiêu, thiếu trước hụt sau, làm suốt cả năm, bị ông thâu góp hết. Nào lúa vốn lúa lời, lúa quần lúa áo, đến mùa rồi chỉ phủi hai bàn tay không. Cả gia đình suốt năm nầy đến năm nọ, phải mặc rách ăn hèn, tai bùn chân lấm, tóc rám môi chì, da đen mặt nám, cực khổ suốt đời, ấy là gia đình của tôi.

    Khi cha tôi chết đã 3 ngày mà không có hòm chôn, đến xin ông chẳng được, mà vay tiền thì ông bảo phải trả lời 20. Chao ôi! Của đâu mà trả! Túng thế, tôi phải lẻn vào nhà ông, trộm lấy 5 lượng vàng để đem về chôn cất cha tôi.

    Chôn cất xong tôi có thề với Phật Trời rằng: "Kiếp nầy trả không được, xin nguyện kiếp sau".

    Vì lao tâm cùng lao lực, bởi gia đình nghèo khổ nhiều năm, nên trong vài năm sau tôi phải lâm bịnh nặng, rồi từ biệt cõi đời! ...

    Sau khi chết, tôi đầu thai vào nhà ông, để thanh toán số nợ nần mà tôi đã thiếu ông ngày trước.

    Ông sanh tôi ra, đến khi khôn lớn thì tôi vẫn lam lụ làm ăn, làm cho cửa nhà ông tiền vô như nước. Nợ ông thanh toán đã dứt khoát rồi, nên tôi đi nơi khác. Hôm nay ông còn tìm kiếm tôi làm gì?”

    Nói xong, cậu bỏ đi. Ông trưởng giả lấy hai tay bụm mặt, nức nở khóc và than:

    - Chao ôi! Vậy cảnh trần gian nầy có phải là một bãi trường để vay trả, trả vay nợ nần cho nhau chăng?

    Chàng thí sinh khuyên lơn một hồi, rồi dẫn ông đi tìm bà trưởng giả. Hai người cùng đi được một khoảng đường, đến một cảnh âm u tịch mịch, ông trưởng giả thấy một người mình gầy vóc ốm chỉ còn da bọc xương, in như đã bị đói khát nhiều ngày. Đầu người bạc trắng phới, má hóp, đôi mắt sưng vù, đang ngồi rên khóc dưới một gốc cây. Ông bước gần đến mới nhận ra là bà trưởng giả. Ông gọi:

    - Bà ơi! ... Bà!

    - Ai đó?

    - Tôi là ông Trưởng giả đây. Vậy chớ tại sao thân hình bà tiều tụy, khổ sở đến thế nầy?

    - Ông ôi! Ông ngồi xuống đây để tôi kể chuyện cho mà nghe. Vì tôi quá tham lam độc ác, muốn cho gia đình mình giàu có muôn hộ, mà tôi phải tạo nhiều tội lỗi. Tôi có ngờ đâu: Làm ra thì cả chồng con chung hưởng, mà bây giờ đây một mình tôi phải chịu tội khổ đến thế nầy! Ngày đêm đói khát, đã mấy tháng rồi không ăn được một chút cháo hay một miếng cơm. Thân hình tôi chỉ còn da bọc xương, lại còn bị hành phạt khổ sở lắm điều.

    - Vậy chớ bà làm tội gì?

    - “Ông không nhớ sao? Một lần nhà mình bị mất 5 lượng vàng, nghi cho thằng ở, bắt ra tra tấn, nó chịu không nỗi phải bỏ mình. Khi nó chết rồi, bỏ lại một ít tiền của. Ông bảo trả về cho gia quyến nó. Tôi lại giấu đi chẳng chịu trả. Đến khi vợ con nó kiện ra đến quan làng, tôi lại thề rằng: “Nếu tôi có nói ngược, thì cho hai con mắt của tôi chảy máu, đui và chết.”

    Tưởng rằng không Trời không Phật, không ai hay biết, nào hay đâu: “Lưới Trời lồng lộng, thưa mà chẳng lọt”. Tôi vẫn tưởng thề càn cho qua buổi; không ngờ nhơn nào quả nấy. Khi các con chết rồi, tôi rầu khóc luôn mấy ngày đêm, bỏ ăn bỏ ngủ, nên đôi mắt chảy máu, sưng vù và đui mù đến thế nầy. Khổ sở lắm ông ơi! Ngoài ra còn nhiều tội ác không sao kể hết.

    Hôm nay ông đến đây thăm tôi, nếu ông còn nghĩ chút nghĩa tào khang tình xưa bạn cũ, thì sau khi trở về dương thế, ông nên vì tôi mà chuẩn bần bố thí làm các việc từ thiện và cầu siêu độ cho vong hồn của tôi. Một điều ông phải nhớ là nên lo tu tâm dưỡng tánh, làm những điều hiền đức để nhờ kiếp sau.”

    Đến đó, ông tỉnh giấc mộng trường, mồ hôi vả ra như tắm, trong lòng còn hoang mang sợ hãi vô cùng, ông Trưởng giả bỗng nghe trên không trung có tiếng gọi:

    - “Trưởng giả! Ông trưởng giả! Ta đây là Quan-Thế-Âm Bồ-Tát. Vì thấy nhà ngươi là kẻ trần gian mê muội, chạnh lòng thương xót, cho nên ta hóa hiện làm chàng thí sinh để đến nhắc thức nhà ngươi.

    Bởi nhà ngươi ngày trước tạo nhiều điều tội ác, nên ngày nay bị oan gia nghiệp báo đến báo lại ngươi. Ngươi hãy nhớ lại kỹ: Từ khi nhà ngươi sanh con trai đầu lòng, đến khôn lớn, nó chỉ phá hại gia tài sự sản của ngươi, đôi khi nó còn muốn giết cả vợ chồng ngươi để tự do phá của. Bởi mấy mươi năm về trước, ngươi có làm một việc tội ác, là buộc một người tá điền đem vợ con đến thế nợ. Chúng không làm theo ý muốn của ngươi. Lúc bấy giờ nhà ngươi dùng quyền thế ép chế, vì chịu không nổi nên chúng phải tự tử. Việc đó nhà ngươi còn nhớ chăng? Bởi thế nên chúng đầu thai lại nhà ngươi để báo thù cho đến ngày cuối cùng. Nhờ ngươi biết ăn năn hối ngộ, lo tu hành, nên nó chỉ đòi bấy nhiêu đó thôi.

    Thằng thứ Hai là đứa ở của nhà ngươi. Ngươi nghi nó ăn cắp vàng, đem ra tra tấn đến chết. Cái oan hồn ấy trở lại nhà ngươi để báo thù, nên khi sanh ra cho đến lớn, nó cứ đau mãi, để hai vợ chồng ngươi phải lo chạy thuốc men, hao tốn gần hết tiền của. Và nó còn phá tán gia tài sự sản của ngươi. Nhờ người có tu hành, nên nó mới thôi đòi nợ.

    Thằng thứ Ba, vì ăn trộm của ngươi năm lượng vàng, để đem về chôn cất cha nó, nên phải đến trả lại cho ngươi. Vì thế nên khi ngươi sanh ra nó, nó làm cho gia đình ngươi tiền vô như nước. Khi trả nợ xong rồi, nó đi nơi khác. Nhơn nào quả nấy, không có sai chạy.

    Nhà ngươi nên biết: Do oan trái kiếp trước, nên kiếp nầy phải trở lại, kẻ làm vợ, người làm chồng và làm con cái v.v... để đền trả cho nhau đó thôi. Sách nói: “Vô oan trái bất thành phu phụ”. Nay chúng nó chết đi, là oan gia ngươi đã trả xong. Thế mà nhà ngươi mê muội không biết, lại hờn Trời oán Phật, tạo thêm tội lỗi, thật đáng thương xót!

    Bởi trước kia người tạo cái nhơn tội ác, nên nay phải trả. Còn người mới tu hành vài ba năm nay, vì cái nhơn nầy chưa hoàn bị, nên người chưa được quả lành.

    Thí như người năm nay làm 100 công ruộng, mà vẫn bị thiếu trước hụt sau, là vì năm rồi họ chỉ cờ bạc ăn chơi nợ nần ấp lút, nên năm nay phải chịu thiếu hụt. Còn ruộng làm năm nay tuy nhiều, xong sang năm họ mới hưởng được.

    Một thí dụ thứ hai: Như chú Xoài trộm cướp sát nhơn, chú mới vừa buông cái dao vào chùa tu niệm; ít ngày bị lính đến bắt bỏ tù. Không phải vì tu mà bị lính bắt, mà chính vì chú gây cái nhơn trộm cướp trước kia, nên nay bị cái quả ở tù. Còn sự tu hành làm phước hiện nay, phải thời gian sau mới hưởng quả.

    Người đời không thấy xa, chỉ nhìn hiện tại, rồi vội vàng trách móc Phật Trời: "Tôi tu hành lo làm lành làm phước, sao lại gặp tai nạn thế nầy!"

    Nhà ngươi là người có học thức, sao lại chẳng nhớ câu: “Thiệc ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lại tảo dữ lai trì” nghĩa là: làm lành hay làm dữ, rốt cuộc rồi đều có quả báo, chẳng qua đến sớm hay đến muộn mà thôi .

    Trong kinh nói: “Dã sử bá thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhơn duyên hội ngộ thời quả báo hoàn tự thọ” nghĩa là: người tạo ra một nghiệp gì, dầu trải qua trăm ngàn muôn kiếp cũng không mất, khi nhơn duyên đến rồi, quả báo nầy phải chịu.

    Vậy nhà ngươi từ đây nên ăn năn hối ngộ lo tu tâm dưỡng tánh, để nhờ kiếp sau...”

    Nhờ mấy lời giáo hóa của đức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát, mà ông phú trưởng giả kia được giác ngộ, hồi tâm hướng thiện, tinh tấn tu hành.

    Tòa lâu đài nguy nga đồ sộ của ông trước kia, lúc bấy giờ biến thành chốn thiền lâm tu niệm, là nơi lễ Phật đi chùa của khách hành hương rộn nhịp.

    Trích từ truyện Nhân Quả

  30. Thanks vinamaster, huudangdo, Hieunguyen11, minh ton, tu kien thanked for this post
  31. #91
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Mụt Ghẻ Mặt Người


    MỤT GHẺ MẶT NGƯỜI

    Ðời Ðường vua Ý Tôn ở đất Trường An có một nhà sư mắc phải bệnh cùi, hằng ngày thất tha thất thiểu trong bộ quần áo lang thang, mặt mày khô đét, thân hình gầy còm, tay chân lở lói, ai trông thấy cũng gớm nhờm. Thỉnh thoảng, một vài người vì động lòng trắc ẩn, biếu cho chút ít quà bánh không đáng giá, ngoài ra không ai buồn đả động đến, hoặc hỏi han điều gì cả, vì vậy chẳng ai biết nguyên quán nhà sư ở đâu. Một hôm, trên con đường lớn xuôi về cổng chùa An Quốc, nhà sư tình cờ gặp Ngộ Ðạt, lúc ấy chưa phải là một tu sĩ nổi danh.

    Thấy người đồng đạo trong cơn hoạn nạn, Ngộ Ðạt quá đau thương cố thỉnh về ở với mình. Trước tâm tình chân thật, lời lẽ thiết tha của Ngộ Ðạt, nhà sư nhận chịu. Ngộ Ðạt rước về chùa, kính như bậc thầy, hết lòng cung phụng. Mỗi ngày sáng dậy, Ngộ Ðạt lấy nước nóng, rửa lau ghẻ lở, tuyệt đối không tỏ vẻ gì nhờm gớm cả. Sau một thời gian khá lâu, nhà sư từ giã ra đi, Ngộ Ðạt tỏ lòng quyến luyến, cầm cọng lắm lời, nhưng nhà sư không đổi ý. Thấy thế Ngộ Ðạt thiết tha xin theo để sớm hôm giúp đỡ, nhà sư cũng từ chối nốt, bảo rằng: “Trên đường danh đức, ông ngày sau sẽ được hiển đạt, ông nên ở lại, đừng nghĩ việc theo tôi mà phải trôi nổi bình bồng, mai một khả năng siêu tuyệt của mình”. Nhưng điều này nên để dạ: “Hãy cẩn thận trong khi hưởng thụ những phần hưởng danh dự, vì nó có thể làm tổn thương đạo niệm của mình. Tôi hết sức cảm nghĩa tốt của ông, vậy nếu sau nầy có bị tai nạn gì hãy nhớ qua đất Tây Thục, xứ Bành Châu, núi Trà Lung mà tìm tôi. Cứ đến lưng chừng núi, chỗ có hai cây tòng to tục gọi là “Song tòng lãnh” chúng ta sẽ gặp nhau”.

    Dặn dò xong, nhà sư từ biệt, Ngộ Ðạt rơm rớm nước mắt, trông theo đến khi khất bóng mới quay gót trở về.

    Ngày qua tháng lại, Ngộ Ðạt đến thời kỳ hiển đạt. Bấy giờ ở kinh đô, người người đều quen biết và khâm phục danh đức của Ngài. Một vị sư có tài, có đức, giảng pháp hay, hiểu biết rộng, tiếng tăm vang dậy khắp nơi.

    Vua Ý Tôn qua nhiều lần thăm dò, trải bao cơn thử thách, mới chịu thỉnh Ngài vào cung giảng đạo. Cách ít lâu lại phong Ngài lên làm Quốc sư và ban cho một pháp tòa bằng gỗ trầm thơm quí. Danh vọng này còn danh vọng nào hơn! Một hôm, nhân lên ngồi trên ghế trầm, nghĩ mình tài đức ai bằng, vua kiêng, quan phục, trăm họ kính nhường, Ngộ Ðạt thấy thật không còn nấc thang nào cao hơn nữa. Lòng tự đắc dâng lên tột độ, bỗng nghe xây xẩm mặt mày, Quốc sư vội bảo đồ đệ dìu vào phương trượng, nằm mê man suốt hai ba giờ mới tỉnh lại. Cảm nghe trong mình khó chịu biết đã thọ bịnh, chợt rờ xuống gối nghe đau vén quần lên, thật là hết sức kinh ngạc. Một mụt ghẻ giống tạc như mặt người, có mày mắt, miệng, tai, mũi đủ cả. Ghê tởm quá! Kinh sợ quá! Quốc sư ngất đi, các đồ đệ kêu vực mãi mới mở mắt, bỗng nghe dưới mụt ghẻ nghiến răng, đau buốt thấu xương, khổ sở quá không phương gì cứu chữa. Các danh y và Quốc y đều được vua mời đến chữa cho Ngài, mà mỗi lần thoa thuốc men là mỗi lần chết giấc chớ không thấy thuyên giảm phần nào cả. Nhưng lạ, hễ mỗi lần đút thịt vào thì lại thấy mụt ghẻ ăn ngay và lại nghe trong mình êm ái dễ chịu. Thật là một quái bệnh xưa nay chưa từng thấy. Các danh y, quốc y đều thúc thủ lăn lóc chịu khổ sở mãi như thế đến hơn tháng trời, nằm nghĩ cuộc đời chả ra chi, thân như bọt nước thoạt có, thoạt không, thoạt còn, thoạt mất, đáng ghê sợ. Nhân nhớ đến vị sư bịnh khi xưa, ôn lại những lời dặn dò thiết yếu, Quốc sư sực tỉnh, bèn cố gắng một thân bị đau nhức, cắn răng lần mò qua đất Tây Thục, xứ Bành Châu.

    Vất vả khổ sở suốt mấy tuần mới đến chân núi Trà Lung. Bởi đường dốc quanh co, nên mãi đến lúc hoàng hôn mới tìm ra được dấu. Kìa hai cây tòng đà lộ bóng, nhưng vị sư đâu chẳng thấy hình dạng; nếu không tìm gặp, thì đêm nay không khỏi dả thú nhai xương giữa chốn rừng núi hoang vu, không một bóng người thấp thoáng. Ngộ Ðạt đang ngơ ngác đoái nhìn bốn phía, lòng những lo sợ bồi hồi, thì may quá, hình bóng thân yêu và quen thuộc khi xưa của vị sư, bỗng hiện ra trong một gộp đá gần đấy. Một tiếng kêu rú thất thanh vì mừng, Ngài Ngộ Ðạt bất chấp đau đớn, chạy lại và leo nhanh lên gộp đá, ôm choàng lấy vị sư hỏi han rối rít. Khi bộc lộ hết những nổi vui mừng, khao khát của mình rồi, Ngài bèn kể bằng nước mắt sự khổ sở đau đớn của mình cho vị sư nghe. Vị sư thốt lời an ủi và dìu dẫn Ngộ Ðạt về Thảo am trên lưng chừng núi, Ngộ Ðạt thưa:

    - Bạch Thầy, kẻ đệ tử đang lâm vào cơn khốn nạn, bức bách, khổ sở không còn bút mực nào tả xiết, xin thầy rủ lòng từ bi ra tay tế độ giúp cho đệ tử thoát nạn, ơn đức Thầy thật vô lượng vô biên.

    Không hại gì, vị sư đáp, oan oan nghiệp chướng của ông đã vay từ nhiều đời về kiếp trước, ngày nay phải đến thời kỳ đền trả. Ông phải ẩn nhẫn trả xong mối nợ máu tiền kiếp ấy, mới có thể giải thoát được. Ðức Thế Tôn ta khi xưa còn thị hiện nạn gươm vàng đâm vế, ăn lúa ngựa thay, huống chúng ta là hạng người phàm phu làm sao mà thoát được. Nợ mình đã trả thì sẽ hết, nhưng cần thiết là đừng nên vay nữa mới được.

    - Thưa thầy, thầy nói nợ máu là thế nào đệ tử không hiểu ra sao cả, xin thầy hoan hỷ giảng cho.

    - Chuyện ấy rồi ông tất sẽ rõ, vì đã có người sẽ nói cho ông nghe giờ khắc rất gần đây.

    Rạng ngày hôm sau, nhà sư dạy đồng tử dẫn Ngộ Ðạt xuống ngọn suốt dựa triền, lấy nước rửa ghẻ. Ðồng tử vừa toan khoát nước thì thoạt nghe tiếng thét từ trong ung thư phát ra: “Khoan, hãy khoan đã, ta có việc cần muốn nói với ông”.

    Ngộ Ðạt và đồng tử đang cơn kinh ngạc, thì mụt ghẻ tiếp lời:

    - Tiếng đồn ông là người học rộng, vậy ông đã từng đọc sách Tây Hán chưa?

    - Ðã có xem qua vài lượt, Ngộ Ðạt đáp.

    - Vậy ông có nhớ chuyện người Viên Án dèm tâu với vua Cảnh Ðế chém chết Triệu Thố ở phía đông chợ chăng?

    - Nhớ lắm, nhớ lắm. Nhưng hỏi thế để làm gì?

    - Chính ông là Viên Án còn Triệu Thố là tôi, ông giết tôi oan đến dường nào, ông có biết chăng? Thù ấy, oan ấy, thâm xương thấu cốt tôi đã từng mười đời theo dõi bên ông để tìm dịp báo oán, nhưng suốt mười đời ông luôn luôn làm bực cao tăng, tinh nghiêm giới luật, tôi đành ôm hận, nhưng quyết theo mãi, đến khi nào trả xong mối thù, đòi xong món nợ máu mới thôi. Mới vừa rồi, được dịp thuận tiện, ông vì vua kính chuộng, ban cho tòa trầm hương, phong làm đến Quốc sư, vinh quang hiển hách, do đó tâm danh lợi nổi lên, khí kiêu căng bừng khởi, khuyết phần đức hạnh, tôi mới nhân cơ hội đó làm hại ông để đòi món nợ nần trên. Ngày nay, nhờ Ngài Ca Nặc Ca Tôn Giả thương xót ra tay cứu giải cho ông, lại cho dùng nước Tam muội rửa tội, nhờ thần lực của Ngài khiến cho ông và tôi, từ đây oán hận không còn, cừu thù tan mất, vậy kính khuyên ông, hãy cố gắng tinh tấn tu hành và chúc ông vuông tròn đạo nghiệp. Tôi xin chào vĩnh biệt.

    Ngộ Ðạt nghe xong, đầy mình mộc ốc. Ðồng thời với tay khoát nước rửa mụt ghẻ, nước vừa chạm đến thịt, Ngộ Ðạt nghe đau buốt thấu xương, ngất lịm hồi lâu. Khi tỉnh lại, mụt ghẻ đã lành da thịt liền lại như xưa, không chút vết sẹo nào. Quốc sư mừng quá đến chảy nước mắt, vội trở lên núi cảm tạ ơn dày của Tổ, tự thệ từ đó tinh tiến tu hành không dám chậm trễ nữa.

    Trích từ truyện cổ Phật Giáo

  32. Thanks Hieunguyen11, vinamaster, tu kien, minh ton thanked for this post
  33. #92
    Join Date
    Apr 20th 2013
    Location
    SAC. USA
    Posts
    2,178
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    433

    Default


  34. Thanks hoaquynh, vinamaster thanked for this post
  35. #93
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Sự Tích 18 Vị La Hán


    SỰ TÍCH 18 VỊ LA HÁN

    Ngày xưa, có một người giàu có đức hạnh, nuôi được một con ngựa đẹp, nước chạy hay nhất trong xứ. Đặc biệt hơn nữa là con ngựa biết nói tiếng người và đoán được cả việc tương lai. Người nhà giàu chăm nom thương mến con ngựa như tình cha đối với con.

    Một hôm ngựa nói cho chủ hay:

    " Ngày mai sẽ có một bọn cướp mười tám đứa đến đánh nhà này để lấy của. Ông đừng sợ gì cả, vì tôi đã có cách đối phó với họ. Ông cho giết mười tám con lợn sữa quay lên, rồi dọn ra ở bàn, với xôi, các thức ăn, cùng một vò rượụ Đợi đến giờ Tý, ông đi đón bọn cướp tụ họp ở ngã tư, rồi mời họ về nhà ăn uống. Họ sẽ nhận lời mời, và sẽ không làm hại gì ông đâu".

    Người nhà giàu vốn rất tin ở ngựa đã nhiều lần việc trước được việc đúng, nên không do dự nghe theo.

    Việc xảy ra quả y như lời ngựa đã nói. Bọn cướp sau khi ăn uống no say mới hỏi chủ làm sao mà lại biết trước được họ đến nhà dể dọn đúng bữa tiệc cho mười tám người ăn? Chủ nhà đáp rằng chính con ngựa đã báo trước cho hay số cướp đến bao nhiêu người, mục đích của họ định làm hại ông ra sao.

    Bọn cướp lấy làm ngạc nhiên, lo ngại, tỏ ý muốn xem con vật dị thường. Chủ nhà dẫn họ đến chuồng ngựạ Tên cầm đầu bọn cướp mới hỏi con ngựa:

    " Sao mày biết được chúng tao đến nhà mà báo cho chủ hay"?

    Ngựa đáp:

    " Tôi không phải là một con ngựa như các người tưởng đâu. Trước đây tôi cũng là người, như các ông, một người ngay thẳng, nhưng nghèo khổ. Tôi thiếu tiền chủ tôi mà trước kia ông là ân nhân của tôi. Tôi khó nhọc làm việc ngày đêm để trả nợ, song nửa chừng thì chết. Xuống âm phủ, Diêm Vương nhận thấy tôi là người ngay thật, song trước khi cho đầu thai trở lại làm người, tôi phải hóa kiếp làm ngựa để đền bù, trả cho hết số nợ tôi còn thiếu lại của chủ. Vì vậy nên các ông mới thấy tôi làm ngựa như thế này. Ngoài ra số nợ kiếp trước như tôi vừa nói, kiếp này chủ tôi lại tạo cho tôi thêm một món nợ khác nữa, đó là nợ cảm tình, vì chủ tôi săn sóc chu đáo, đối đã tử tế, không để cho tôi thiếu thốn gì hết. Bởi thế cho nên tôi thấy có bổn phận không được lặng im như các loài vật khác, mà phải nói ra, báo trước cho chủ tôi hay những sự không may có thể xảy đến và giúp chủ tôi tìm cách tránh đỡ tai họa".

    Những lời thốt ra từ miệng con ngựa lay động tận đáy lòng bọn cướp. Họ bảo nhau:

    " Con người ngay thật như thế mà còn phải hóa thân làm ngựa để trả nợ dở dang kiếp trước, còn chúng mình bấy lâu chỉ sống bằng cướp của giết người, không biết rồi đây phải đến thế nào nữả Chết xuống âm phủ chắc chắn chúng mình sẽ phải chịu hình phạt ghê gớm lắm. Có lẽ chúng ta còn có ngày giờ để hối cải mà chuộc lại bao nhiêu tội lỗi đã gây nên".

    Nghĩ thế rồi bọn cướp cáo từ ngựa và cám ơn chủ nhà mà rút lui. Về đến sào huyệt, tên tướng cướp bảo nội bọn:

    " Anh em ơi, tội lỗi chúng ta đã đầy đầu đầy cổ, tôi thấy hối hận đốt cháy cả ruột gan. Riêng về phần tôi, ngay từ lúc này, tôi quyết tâm cải tà quy chánh. Trong anh em, ai nghĩ như tôi thì giơ tay lên".

    Tất cả bọn cướp đều giơ taỵ Tướng cướp nói thêm:

    " Trước khi vào chùa để sám hối, ta cũng nên xem Phật có thuận lòng cứu vớt chúng ta không. Anh em hãy mang một nồi nước ra đây, bỏ những đồ nghề ăn cướp vào mà đun lên. Trong khi đó chúng ta quỳ sấp mặt xuống đất mà khẩn cầu đến chư Phật. Nếu hết ngày hôm nay mà đồ nghề của chúng ta đều tiêu tan hòa theo nước, thì đó là triệu chứng lời thỉnh cầu của chúng ta được như ý nguyện".

    Cả bọn cướp đều làm y theo lời đó.

    Đến tối lại, bọn cướp đứng lên, dỡ nắp vung ra, mừng rỡ thấy trong nồi chỉ toàn là nước. Mười tám tên cướp bèn cạo đầu đi tu. Từ đó thành khẩn ăn năn xám hối, cho đến chết được thành quả làm 18 vị La Hán.

    Do đó mà ở trong các nhà chùa ngày nay người ta vẫn thấy tượng 18 vị bao giờ cũng đứng chung với nhau, song mặt mũi vẫn dữ tợn, vì lẽ nhiệm màu của Phật, chỉ thay đổi lòng của họ mà thôị Mười tám vị La Hán còn cầm ở tay các đồ ăn cướp là để nhắc nhở cho người đời rằng sự hối cải chân thành có thể xóa bỏ các tội lỗi đã gây nên.

    Trích từ truyện cổ Phật Giáo

  36. Thanks Hieunguyen11, vinamaster, minh ton, tu kien, huudangdo thanked for this post
  37. #94
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Vị A La Hán 7 Tuổi


    VỊ A LA HÁN 7 TUỔI (CHÚ TIỂU HIỀN TRÍ)

    Thuở Phật Ca Diếp còn tại thế, Ngài có một tăng đoàn gồm 20.000 (hai mươi ngàn) tỳ kheo đã diệt tận các lậu hoặc. Mỗi khi du hóa một nơi nào, tất cả các Tỳ kheo ấy đều theo Phật Ca Diếp, cũng như 1250 Tỳ kheo thường đi cùng với Đức Bổn Sư Thích Ca vậy.

    Một hôm, Phật Ca Diếp và Tăng chúng của Ngài đi đến thành Ba La Nại, dân chúng đua nhau đến đảnh lễ cúng dường và nghe Ngài thuyết pháp. Sau khi thọ thực xong, Phật nói lời tùy hỷ công đức như sau:

    - “Này các cư sĩ, trong thế gian có bốn hạng người. Thế nào là bốn?

    Một là những người tự mình làm phước bố thí, nhưng không khuyến khích kẻ khác làm. Hạng người này, trong tương lai được giàu có nhưng không được nhiều người theo.

    Hai là những người khuyên kẻ khác bố thí, nhưng tự mình không bố thí. Hạng người này đời sau có phước báo được đông người theo, nhưng không có của cải.

    Ba là những người tự mình không bố thí cũng không khuyên người bố thí. Hạng người này đời sau không có của cải cũng không có người theo, phải sống cô độc, ăn cơm thừa của kẻ khác.

    Bốn là hạng người vừa tự bố thí, vừa khuyên người bố thí, hạng người này trong tương lai sẽ được cả hai phước báo: giàu có và đông người theo”.

    Khi nghe như thế, có một người khởi lên ý nghĩ: “Ta cố làm sao để được hai phước ấy”. Rồi vị ấy đến đảnh lễ Phật, bạch rằng:

    - Bạch Thế Tôn, xin Ngài đến thọ thực làng con vào ngày mai, để chúng con được phước cúng dường.

    Phật Ca Diếp hỏi lại:

    - Ngươi muốn cúng dường bao nhiêu vị Tỳ kheo?

    - Bạch Thế Tôn, Tăng chúng của Ngài gồm bao nhiêu?

    - Hai mươi ngàn.

    - Bạch Thế Tôn, ngày mai xin Ngài đem theo tất cả Tỳ kheo ấy.

    Đức Phật nhận lời. Người kia cầm một mảnh bối diệp (xưa dùng lá cây khô để viết chưa có giấy) trở về làng, rồi đi từng nhà khuyên sửa soạn cúng dường Phật và chư Tăng tùy khả năng của mỗi gia đình. Có nhà tình nguyện cúng dường 500 vị, nhà 200 vị, nhà 100 vị, nhà 50 vị v. v. . . Người kia đều ghi dấu vào lá bối để hôm sau thỉnh đúng số Tỳ kheo đến từng nhà. Trong làng, có một gia đình rất nghèo đến nỗi ông chủ được mệnh danh là “ông Chúa Nghèo”. Người kia cũng không quên ghé vào nhà Chúa Nghèo để tạo phước cho ông ta. Khi Chúa Nghèo nghe người kia muốn mình cúng dường chúng Tỳ kheo thì giật bắn người lên:

    - Ối bạn ơi! Bạn coi nhà cửa tôi đây, đến một chỗ ngồi cũng không có, làm sao tôi cúng dường gì được? Tôi có đồng xu nào đâu? Hãy đến những nhà cao cửa lớn kia!

    - Này bạn, không phải chính vì vậy bạn mới nên nhân cơ hội này mà gieo giống phước sao? Vì sao bạn phải nghèo? Phải chăng bạn chưa từng giúp ai một chút gì cả?

    Chúa Nghèo ngẫm có lý bèn ưng thuận:

    - Được. Vậy thì xin bạn ghi cho tôi cúng dường một vị tỳ kheo.

    Người kia bằng lòng nhưng không ghi vào lá vì y nghĩ rằng một vị thì ít quá, chẳng cần ghi làm gì. Y từ giã, tiếp tục đi phổ khuyến.

    Chúa Nghèo gọi vợ ra, cho hay ý định cúng dường một vị Tỳ kheo của mình, và đề nghị với vợ cùng đi làm mướn để đủ tiền sắm sửa các thứ. Người vợ bằng lòng ngay và cả hai cùng đi đến một nhà phú hộ. Nhà này sẳn lòng mướn hai vợ chồng làm việc một buổi chiều hôm ấy để chuẩn bị cho việc cúng dường hôm sau. Họ mướn Chúa Nghèo giã gạo, còn bà vợ thì gánh nước. Hai vợ chồng làm việc rất hăng hái, nét hân hoan lộ hẳn trên gương mặt, đến nỗi chủ nhà hỏi nguyên do. Khi được biết họ làm mướn để có tiền mua thực phẩm cúng dường một vị Tỳ kheo, phú ông cảm khái, trả công gấp bội. Với số tiền nhận được họ mua ít gạo thơm hảo hạng, trái cây quí và ít đồ vặt vãnh để nấu nướng.

    Sáng hôm sau, Chúa Nghèo dậy sớm đi hái rau bên bờ sông về cho vợ làm thức ăn. Một người đánh cá hỏi:

    - Chúa Nghèo hái rau làm gì sớm thế?

    - Tôi hái rau để cúng dường một vị Tỳ kheo.

    - Thế à! Vị nào ăn rau của Chúa Nghèo cúng dường chắc là hên lắm đó.

    - Thôi tôi đi đây, sắp tới giờ cúng dường rồi.

    Chúa Nghèo sung sướng đem rau về cho vợ. Khi ấy, từ trong tịnh xá của Ngài, Phật Ca Diếp đã biết được một người nghèo đang thành tâm sửa soạn cúng dường một vị Tỳ kheo. Ngài cũng biết được rằng tất cả chúng Tỳ kheo đã được sắp đặt vào từng nhà, mỗi nhà sẽ cúng dường một số Tỳ kheo. Duy chỉ có nhà Chúa Nghèo chỉ cúng có một vị, người phổ khuyến quên ghi vào lá, do đó mà y đã không chừa một người nào cho Chúa Nghèo. “Vậy chỉ còn ta để cho Chúa Nghèo gieo ruộng phước”, Phật nghĩ thế, và Ngài lấy làm hoan hỷ, vì Phật vốn thương những kẻ nghèo cùng. Vừa khi Ngài có ý định như vậy, thì vua trời Đế Thích cảm thấy chiếc ngai vàng đang ngồi rung mạnh, “Có chuyện gì thế?” Vua trời ngẫm nghĩ, và biết chính tấm lòng thành khẩn của Chúa Nghèo ở dưới thế đã làm chấn động đến chư thiên. “Ta phải giúp Chúa Nghèo một tay để sửa soạn món ăn cúng dường Phật”. Đế Thích cùng với vợ rời thiên cung bay xuống, hóa làm hai vợ chồng nghèo đang đi tìm việc làm. Đến gần nhà Chúa Nghèo, Đế Thích hỏi:

    - Nhà có việc gì làm không? Cho chúng tôi làm với.

    - Ông lão ơi! Chúng tôi có nhiều việc làm lắm, nhưng thú thật là chúng tôi không có tiền để trả công ông lão.

    - Bạn làm gì thế?

    - Chúng tôi làm thức ăn cúng dường vị Tỳ kheo.

    - Ồ, việc phước ấy thì tôi cũng muốn hùn. Tôi không cần trả công đâu.

    - Tốt lắm. Vậy lão hãy giúp chúng tôi.

    - Xin vâng.

    Rồi hai vợ chồng Đế Thích bước vào nhà, Đế Thích bảo:

    - Bây giờ, để chúng tôi làm thức ăn cho. Bạn hãy đi thỉnh vị Tỳ kheo của bạn đi.

    Chúa Nghèo đi đến vị phổ khuyến hôm qua. Y bảo:

    - Ồ bạn! Tôi quên bẵng. Không còn vị Tỳ kheo nào cho bạn thỉnh vì tất cả đều nhận lời các nhà khác rồi.

    Không thể nào tả nỗi tuyệt vọng lớn lao của Chúa Nghèo lúc ấy. Chúa Nghèo đấm ngực, lăn ra mà khóc.

    -Trời đất ơi! Bạn hại tôi rồi! Suốt hai hôm nay, chúng tôi làm việc tối mắt tắt đèn để chờ đợi bữa trưa nay cúng dường một vị Tỳ kheo! Vậy mà bây giờ bạn bảo không còn vị nào! Bạn phải cho tôi một vị Tỳ kheo! Không thì tôi chết mất. Hu hu.

    Quần chúng bu lại xem đông. Người kia bối rối năn nỉ:

    - Này Chúa Nghèo, xin Chúa Nghèo đừng làm tội tôi nữa. Tôi lỡ đi mà. Chúa Nghèo tha cho tôi đi.

    - Không biết! Phải cho tôi một vị Tỳ kheo! Hu hu, hu hu.

    Túng quá, người kia đánh bạo đề nghị:

    - Thôi chúa Nghèo hãy đứng dậy, tôi bày cho một cách này. Đấng Đạo sư chưa nhận lời của ai, vì rất đông vua chúa đại thần đều muốn thỉnh Ngài. Vậy bạn hãy đến thỉnh Ngài đi. Ngài rất thương những người nghèo chắc Ngày sẽ nhận lời bạn đấy. Ngài đang ngồi trong tịnh xá nói pháp cho các bậc thượng khách nghe.

    Chúa nghèo nghe lời, đứng lên đi đến tịnh xá. Vua và đình thần đang nghe pháp, thấy Chúa Nghèo tiến tới thì ngăn lại (vì họ tưởng Chúa Nghèo đến xin đồ ăn thừa):

    - Chúa Nghèo! chưa đến giờ ăn đâu.

    - Tôi biết. Tôi đi thỉnh Phật về nhà tôi thọ trai.

    Đức Phật mỉm cười, chìa cái bình bát của Ngài ra, trao cho Chúa Nghèo một cách thân mật. Chúa Nghèo ôm lấy bình bát của Phật vào lòng, mặt mày hớn hở như đứa bé vừa được kẹo. Các ông Hoàng và đại thần chạy theo đề nghị:

    - Chúa Nghèo, hãy nhường cái bát ấy cho ta cúng thức ăn cho Phật. Ta sẽ cho Chúa nghèo 1000 đồng.

    - Không bao giờ tôi nhường cái bát này cho ai dù có đổi bạc triệu.

    Chúa Nghèo trân trọng ôm bình bát của Phật về nhà để bày thức ăn. Vua đang ngồi gần Phật ngẫm nghĩ: “Lão Chúa Nghèo chắc chẳng có gì ngon lành mà cúng dường Đức Thế Tôn đâu. Chi bằng ta sắm sẵn các thức ăn thượng vị đựng trong một cái bát khác, chờ khi Chúa Nghèo dâng lên Phật ta sẽ đổi thức ăn của ta cho Phật dùng.

    Đến giờ thọ thực, Phật Ca Diếp đến nhà chúa Nghèo. Vua đi theo ý định như trên. Nhưng khi Phật vào nhà Chúa Nghèo, Đế Thích đã hóa trang để dâng Phật một bát đầy thức ăn mùi thơm bay khắp không gian. Vua đành thất vọng bẻn lẻn cáo từ Phật trở về.

    Do phước báo cúng dường Phật Ca Diếp, Chúa Nghèo được sanh lên cõi Trời cho đến khi Phật Thích Ca ra đời mới trở xuống trần thế, sanh vào nhà một thí chủ thân tín của Ngài Xá Lợi Phất. Khi mang thai Chúa Nghèo người mẹ bổng thông minh khác thường, những người trong gia đình ai có bệnh tật gì đều được khỏi và trở nên thông tuệ. Do đó hài nhi được Tôn Giả Xá Lợi Phất đặt tên là Hiền Trí. Khi lên 7, Hiền Trí xin mẹ xuất gia làm đệ tử Tôn giả.

    Tôn giả dạy cho chú tiểu những uy nghi phép tắc phải theo trước khi đưa chú vào thành khất thực. Lần đầu tiên ôm bát theo hầu thầy ra đường, chú hỏi Ngài khi thấy một con đê:

    - Bạch Tôn giả, cái kia là cái gì?

    - Chú tiểu, đấy là một con đê.

    - Bạch Tôn giả, con đê dùng để làm gì?

    - Để dẫn nước đi khắp nơi nào người ta muốn.

    - Nhưng bạch Tôn giả, nước có hiểu biết gì không?

    - Không đâu, chú tiểu. Nước là vật vô tri giác.

    - Bạch Tôn giả, thế thì người ta có thể hướng dẫn một vật vô tri giác đến bất cứ chỗ nào người ta muốn hay sao?

    - Chính vậy, chú tiểu

    - Hiền Trí nghĩ: “Nếu người ta có thể hướng dẫn một vật vô tri tùy theo ý muốn thì tại sao ta lại không thể nhiếp phục tâm ý mình để chứng A La Hán quả?”

    Đi thêm một quãng, chú thấy những người làm tên đang hơ những cây tên trên lửa và nheo mắt nhắm để uốn chúng cho thẳng. Chú tiểu hỏi:

    - Bạch Tôn giả họ làm chi vậy?

    - Họ đang uốn những cây tên cho thật thẳng.

    - Cây tên có lý trí không?

    - Không nó là vật vô tri.

    Chú tiểu nghĩ: “Nếu người ta có thể uốn nắn một vật vô tri cho thẳng theo ý muốn, thì ta cũng có thể nỗ lực điều phục tâm ý để chứng quả A La Hán”

    Một lát sau, hai thầy trò gặp những người thợ mộc đang đẽo bánh xe, chú lại hỏi:

    - Bạch Tôn giả, họ làm gì thế?

    - Đây là thợ mộc đang đẽo bánh xe.

    - Bánh xe có lý trí không?

    - Không, bánh xe chỉ chạy theo ý người muốn.

    Khi ấy chú tiểu trao y bát cho thầy và bạch:

    - Bạch Tôn giả, con muốn trở về tịnh xá.

    Tôn giả Xá Lợi Phất không nói một lời đỡ lấy y bát trên tay chú tiểu. Chú tiểu vái chào thầy xong còn quay đầu lại dặn Tôn giả:

    - Bạch Tôn giả, khi nào Ngài ăn xong xin đem thức ăn về cho con.

    Tôn giả Xá Lợi Phất nhận lời và vốn cẩn thận, Ngài sợ chú tiểu ngủ ngoài trời có thể bị rắn cắn, hay sâu bọ đốt, bởi thế Ngài trao chìa khóa cho chú tiểu và bảo:

    - Hãy mở cửa tịnh thất của ta mà vào.

    Chú tiểu vâng lời. Vào phòng Tôn giả, chú bắt đầu tỉnh tọa thiền quán. Khi ấy Đế Thích ở trên trời cảm thấy chiếc ngai vàng rung động, và nhận ra rằng chú tiểu Hiền Trí đang ngồi thiền quyết chứng quả A La Hán trong ngày đó, nên Ngài muốn giúp chú một tay. Ngài bảo thần mặt trời phải đi chậm lại, kéo dài buổi sáng ra trọn ngày, và sắc cho Tứ Thiên vương đứng gác bốn góc chùa, đuổi hết chim chóc ra khỏi vườn đừng gây tiếng động. Do đó, Kỳ Viên tịnh xá trở nên yên tĩnh lạ thường. Thỉnh thoảng mới có một âm thanh rất nhỏ gây nên bởi một chiếc lá vàng lìa cành rơi xuống.

    Trong khi ấy, Tôn giả Xá Lợi Phất vào nhà người thí chủ quen biết để khất thực. Gia chủ vừa mới mua thực phẩm về nấu nướng cũng vừa xong, ông đem đặt vào bát Ngài. Tôn giả định đem về cho chú tiểu như lời chú tiểu dặn nhưng gia chủ xin thỉnh Tôn Giả cứ dùng, sẽ còn phần khác để Tôn giả đem về. Tôn giả ngồi lại thọ thực.

    Đúng lúc ấy, từ tư thất của Ngài, đức Phật Thích-Ca quan sát bằng Phật nhãn thanh tịnh thấy chú tiểu có thể chứng quả A La Hán trong vài giờ nữa, nhưng nếu Tôn giả Xá Lợi Phất mà về lúc này, đem thức ăn vào phòng cho chú tiểu thì lỡ mất dịp đắc quả của chú. Do đó Đức Phật quyết định đi đến tịnh thất của Tôn giả để đón đường. Vừa khi Tôn giả trở về, Ngài gặp ngay đức Đạo Sư đứng trước cửa. Tôn giả thi lễ, đức Đạo Sư hỏi vị thông tuệ của Ngài về một số câu hỏi trong luận tạng, chỉ cốt kéo dài thời gian cho chú tiểu có thể đắc quả. Khi biết Hiền Trí đã chứng quả, Ngài bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:

    - Bây giờ, này Xá Lợi Phất, hãy đem thức ăn vào cho chú tiểu Hiền Trí đi.

    Tôn giả khỏ cửa. Chú tiểu bước ra đỡ lấy bát trên tay Ngài đặt xuống một nơi, rồi bắt đầu quạt cho Ngài. Tôn giả bảo:

    - Này chú hãy ăn sáng đi.

    - Bạch Tôn giả, còn Tôn giả thì sao?

    - Ta đã ăn rồi.

    Khi chú tiểu mới ngồi xuống quán tưởng năm điều rồi thọ thực. Khi chú đã ăn xong, rửa bát và dọn dẹp xong, thì mọi sự mới trở lại bình thường: Mặt trời bắt đầu lặn, trăng từ từ lên, Tứ thiên vương hết canh gác bốn góc chùa. Đế Thích trở về thiên cung ngồi vào chiếc ngai vàng thường lệ. Chúng Tỳ kheo bảo nhau:

    - Thật kỳ lạ! Hôm nay buổi sáng hầu như dài suốt cả ngày, mà buổi chiều lại ngắn có một khoảnh khắc. Tại sao thế nhỉ?

    Đức Đạo Sư giải thích:

    - Đúng thế, này các Tỳ kheo, chính vì chú tiểu 7 tuổi kia phát tâm chứng quả A La Hán, mà tất cả trời Đế Thích, Tứ Thiên Vương, thần mặt trời, thần mặt trăng đều hỗ trợ cho công việc của chú ấy và để canh chừng, chính Như Lai cũng đã phải bỏ cả thì giờ nghỉ ngơi cho chú bé, một người nhân quán sát con đê dẫn nước, thợ làm tên, người làm bánh xe, mà quyết tâm nỗ lực thiền định để chứng quả vị bất lai.

    “Người đào đê dẫn nước. Người làm tên uốn tên
    Thợ mộc đẽo gỗ, còn người trí thì lo điều phục tâm mình”


    (Pháp cú 80)

    Trích từ truyện cổ Phật Giáo.

  38. Thanks ryan3, andy82, minh ton, tu kien, huudangdo thanked for this post
  39. #95
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Giữ Ý Như Giữ Thành


    GIỮ Ý NHƯ GIỮ THÀNH

    Khi Phật ở nước Xá vệ, trong chúng tỳ kheo tại tinh xá Cấp cô độc có một vị tôn giả tên Soreyya, đã chứng quả A La Hán. Câu chuyện sau đây được truyền tụng về cuộc đời của vị tôn giả trước khi đắc quả.

    Trong lúc tôn giả Soreyya còn ở trại gia, ngài là con của một vị phú hộ ở thị trấn Soreyya. Một hôm Soreyya cùng ngồi trên xe đi tắm với một người bạn thân của chàng, có gia nhân đông đảo đi theo. Khi ra khỏi thành bỗng chàng thấy tôn giả Ca Chiên Diên, đệ tử của Phật đang ôm bát đi vào thành khất thực. Tôn giả Ca chiên Diên có một màu da sáng đẹp như vàng ròng, sắc diện uy nghiêm khả kính đến nỗi đoàn người đi tắm biển chú mục nhìn ngài không biết chán. Thanh niên Soreyya là người hiếu sắc, thấy tôn giả bèn nghĩ thầm trong bụng: "Ồ, ước gì vị tôn giả ấy là vợ ta! Ước gì màu da của vợ ta cũng đẹp đẽ như da vị tôn giả ấy". Ngay khi tư tưởng ấy vừa khởi, thanh niên Soreyya tức khắc biến thành phụ nữ.

    Chàng vô cùng bối rối, vội nhảy ra khỏi xe lẫn vào đám đông trốn bi?t. Phụ nữ Soreyya không dám về nhà, đi mãi đi mãi, theo đoàn người tiến ra thành phố cho đến khi gặp một đoàn xe đi về phía đô thị Tắc ca. Nàng bạo dạn đến gần một xe xin quá giang đến thành Tắc ca. Những người trên xe là gia nhân của một vị phú hộ ở thành Tắc ca, trông thấy thiếu nữ xinh đẹp liền bằng lòng ngay. Họ bảo nhau: - Con trai của chủ chúng ta chưa có vợ, chúng ta hãy đưa nàng này về, thế nào cũng được trọng thưởng. Quả nhiên khi xe về đến thành Tắc ca, phú ông rất vui mừng được cô dâu xinh đẹp, làm lễ cưới ngay cho con trai mình. Thế là thanh niên Soreyya trở thành vợ của thanh niên Tắc ca, con trai của phú ông ở đô thị Tắc ca.

    Đám cưới không bao lâu, nàng mang thai, sau mười tháng sanh ra một thằng con bụ bẫm. Đứa con này vừa biết đi tập tễnh, nàng lại cho ra đời một thằng con khác. Soreyya trước làm nam nhi ở thành Soreyya đã có vợ hai con, bây giờ biến thành phụ nữ lại sinh ra hai đứa con là bốn. Thế là Soreyya làm cha hai trẻ, làm mẹ hai trẻ. Một hôm thành Tắc ca có hội chợ, tình cờ bà Soreyya trông thấy một thanh niên trong đám đông và nhận ra ngay đó là người bạn rất thân đã cùng ngồi xe đi tắm biển với mình dạo trước, khi chưa biến thành phụ nữ. Bà Soreyya bảo gia nhân đến mời thanh niên ấy về nhà mình.

    Thanh niên ngạc nhiên nhưng được người đẹp mời cũng khoái, thấy không có gì hại, liền theo gót gia nhân về nhà bà Soreyya. Ngồi vào "xa lông" thanh niên mới đánh bạo lên tiếng:

    - Thưa bà, có lẽ bà lầm chăng? Tôi chưa hề được trông thấy bà từ trước đến nay, vì đây là lần đầu tiên tôi đến thành phố này. - Thưa ông tôi không lầm đâu, có phải ông là người của thành Soreyya? - Thưa bà chính vậy. Thế ra bà biết.

    Soreyya bèn hỏi chàng thanh niên về sức khỏe của ông bà phú hộ cha mẹ mình và hỏi thăm tin tức vợ và hai con đang ở Soreyya. Thanh niên hỏi: - Thưa bà, họ đều khỏe mạnh. Tại sao bà biết họ? - Thưa ông tôi biết lắm chứ. Thế còn người con trai của họ, thanh niên Soreyya ở đâu? - Ồ thưa bà, xin bà đừng nhắc đến chuyện thương tâm ấy nữa. Bao nhiêu năm nay, việc ấy đã trở thành một vết thương lòng cho những người thân. Số là chúng tôi cùng ngồi xe đi tắm biển, nhưng khi ra khỏi thành, không biết chàng biến mất tự bao giờ, người thì đoán chàng xuống tắm bị nước cuốn trôi, người thì cho có lẽ chàng bị cá nuốt. Tìm khắp nơi không thấy nên gia đình đã làm chay cho chàng. - Thưa ông chàng không chết đi đâu cả, chính tôi đây là Soreyya ngày trước. - Thưa bà... bà nói cái gì thế? Soreyya là bạn rất thân của tôi, tôi biết rõ y là đàn ông.

    - Thưa ông, vậy mà tôi là Soreyya. - Sao lại có chuyện kỳ quái như thế? - Ông có nhớ lúc chúng ta đi xe ra khỏi thành đã gặp một vị tôn giả ôm bát vào thành hay không? - Vâng, tôi nhớ có gặp tôn giả Ca Chiên Diên ngày hôm ấy. - Đấy, khi tôi trông thấy tôn giả, tôi nghĩ mong tôn giả là vợ mình, hay ít nhất vợ mình có được làn da mơn đẹp như tôn giả. Ngay khi tôi vừa có ý nghĩ ấy, tôi liền hóa thành phụ nữ. Ồ, thưa ông tôi bối rối quá, không thể nói cùng ai, tôi nhảy đại ra khỏi xe chạy trốn, và đến thành phố này. - Ồ, bạn ơi, bạn đã làm một việc quá điên rồ. Sao bạn không bảo tôi? Thế bạn có sám hối cùng vị tôn giả ấy không? - Không bạn ạ, tôi chưa từng sám hối Ngài. Nhưng bạn có biết hiện giờ Ngài ở đâu không? - Ngài ở quanh quẩn gần thành phố này. - Ước chi Ngài đến đây, tôi sẽ cúng dường thực phẩm cho Ngài. - Tốt lắm, vậy bạn hãy sửa soạn đi, ngày mai tôi sẽ thỉnh Ngài tới đây để bạn sám hối cùng Ngài.

    Rồi người bạn cũ của Soreyya, vốn là một Phật tử thuần thành, đi đến chỗ tôn giả Ca Chiên Diên ở để thỉnh Ngài về nhà cư sĩ thọ trai. Tôn giả hỏi: - Này thanh niên, nhưng con đâu có nhà ở đây? Không phải con là du khách của thành phố này sao? - Bạch tôn giả việc ấy không quan hệ, xin tôn giả nhận lời cho con ngày mai được cúng dường tôn giả tại nhà. Tôn giả im lặng nhận lời. Đến giờ ngọ thực hôm sau Ngài cùng thanh niên đến nhà Soreyya. Sau khi bà Soreyya bày biện các món thức ăn thượng vị lên cúng dường, thanh niên bảo bà Soreyya quỳ xuống dưới chân tôn giả và thay lời nàng tác bạch: - Bạch tôn giả, xin tôn giả tha thứ cho bạn con. Tôn giả chẳng hiểu ất giáp gì trước sự tình ấy, bèn hỏi: - Có chuyện gì thế? - Bạch tôn giả, người đàn bà này trước kia là đàn ông, và là bạn rất thân của con. Một hôm y nhìn tôn giả và có ý nghĩ quấy, nên bị biến thành đàn bà tức khắc. Xin tôn giả hãy tha thứ cho y. - Được, ta tha thứ cho ngươi. Hãy đứng dậy.

    Vừa khi tôn giả thốt ra những lời ấy, Soreyya đứng lên và trở lại thân hình nam nhi như trước. Con trai Tắc ca, chồng của Soreyya, thấy vợ mình mới đó bây giờ đã hóa thành đàn ông liền bảo: - Này bạn ơi, vì bạn đã là mẹ của hai đứa con, tôi là cha của chúng, thì quả thật chúng là con chung của chúng ta. Bạn hãy ở lại đây với tôi, đừng có đi đâu, chúng ta sẽ "đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ" (vợ chồng đổi thành bè bạn ). Soreyya nói: - Hỡi bạn, tôi đã hai lần hóa thân trong một đời người. Ban đầu làm đàn ông, sau biến thành đàn bà và bây giờ biến thành đàn ông trở lại. Ban đầu tôi làm cha hai đứa trẻ, sau lại làm mẹ hai đứa trẻ khác. Tôi còn sống ở đời làm gì nữa! Tôi muốn xuất gia. Bây giờ bạn hãy săn sóc hai đứa bé này.

    Nói xong, Soreyya hôn hai đứa bé, từ giã chúng rồi xin đi theo tôn giả Ca Chiên Diên. Tôn giả nhận chàng về trong Tăng đoàn. Sau khi truyền giới cụ túc cho Soreyya, Ngài đưa tỳ kheo Soreyya về tinh xá Cấp cô độc nước Xá vệ. Câu truyện ly kỳ về đời tư Soreyya truyền đi rất nhanh khắp thành Xá vệ. Dân chúng tò mò đến nơi để biết rõ thực hư. Suốt ngày tỳ kheo Soreyya phải bận rộn về những người này. Câu hỏi bất di dịch của họ là:

    - Bạch đại đức, có phải tin đồn Ngài hóa thân hai lần là đúng không? - Đúng.

    - Bạch Đại Đức, Ngài đã từng làm cha hai đứa trẻ và làm mẹ hai đứa trẻ khác, Ngài thương cặp con nào hơn? - Tôi thương cặp con do tôi làm mẹ nhiều hơn.

    Cuộc phỏng vấn cứ tái diễn như vậy không biết lúc nào ngưng, làm cho tỳ kheo Soreyya không rảnh phút nào để tham thiền nhập định. Do đó, Đại Đức quyết định rút vào rừng sâu, độc cư thiền định. Sau một thời gian ngắn, nhờ nỗ lực tu tập, Đại Đức chứng quả A La Hánvà trở lại nếp sống bình thường trong tăng đoàn ở tu viện. Những người đến thăm lại được dịp phỏng vấn tôn giả trở lại: - Bạch tôn giả, tin đồn rằng Ngài đã làm cha hai đứa trẻ và làm mẹ hai đứa khác, có đúng không?

    - Đúng. - Ngài thương cặp con nào hơn? - Không thương cặp nào cả.

    Các tỳ kheo nghe tôn giả trả lời như vậy, liền đến bạch Phật:

    - Bạch Thế tôn, tỳ kheo Soreyya phạm tội nói dối. Trước kia vị ấy thường bảo: "Tôi thương hai đứa con do tôi làm mẹ hơn là hai đứa mà tôi làm cha". Thế mà bây giờ khi người ta hỏi, vị ấy lại đáp là không thương đứa nào. Bạch Thế tôn, như vậy là nói dối.

    - Này các tỳ kheo, tỳ kheo Soreyya không nói dối đâu. Trước kia ông ấy chưa chứng quả, bây giờ ông ấy đã chứng quả và biết rõ rằng "Chẳng Phải Cha Hay Mẹ, Mà Chính Là Cái Tâm Khéo Điều Phục Mới Đem Lại Lợi Ích Cho Chúng Sinh".

  40. Thanks huudangdo, Hieunguyen11, vinamaster, tu kien, minh ton thanked for this post
  41. #96
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default

    GIỮ GÌN CÂY PHÁP
    (Phỏng thuật theo Kinh Tăng Chi Bộ)

    Khi đức Thế tôn ở núi Linh Thứu thành Vương Xá, có tôn giả Dhammikà, sau khi lang thang hết chỗ này tới chỗ khác qua bảy trú xứ mà không nơi nào chấp nhận, cuối cùng lần mò về chỗ Phật. Nguyên do là vì, tôn giả đi đến đâu cũng gây sự với các tỳ kheo ở đó, khiến họ không chịu nổi, bỏ đi. Các cư sĩ biết chuyện, đến mời Tôn giả đi chỗ khác. Thế là cuối cùng Tôn giả về thành Vương Xá yết kiến Phật. Ngài hỏi:

    - Này Dhammikà, sao ngươi trở về đó?

    - Bạch Thế tôn, con bị các cư sĩ tại các trú xứ mời đi chỗ khác.

    - Thế đấy! Ngươi cũng chẳng hề gì cả, vì còn ta đây để cho ngươi quay về. Phải ngươi nghĩ vậy không?

    Tôn giả cúi đầu im lặng. Đức Thế tôn lại bảo:

    - Thuở xưa, này Dhammika, các nhà buôn đi biển thường mang theo một con chim. Khi tàu ra khơi, không trông thấy bờ bến, muốn biết có hòn đảo nào gần để ghé tàu, người ta thả con chim ra. Nó bay đi tứ phía, nếu không có chỗ nào đậu, không gặp bờ bến, thì nó trở lui về tàu. Nay nhà ngươi cũng vậy đó, Dhammika.

    Tôn giả đứng im lặng, Thế tôn lại tiếp:

    - Thuở xưa, này Dhammika, có một cây bàng chúa to lớn, chịu đầy trái ngon ngọt. Vua và các cung nữ hưởng thụ một cành, quân đội hưởng thụ một cành, dân chúng một cành, các sa môn, bà la môn một cành, thú rừng và chim chóc một cành. Một hôm có người đến ăn trái no bụng xong, bẻ gãy một cành rồi bỏ đi. Khi ấy vị thần trú nơi cây bàng nói với cây rằng: "Thưa tôn giả, loài người thật là ác độc, đã ăn no rồi còn bẽ gãy cành. Tôn giả đừng có sinh trái nữa." Cây bàng chúa nghe lời, năm sau không thèm sinh trái nữa. Khi thấy cây không còn sinh quả, vua bèn yêu cầu trời Đế thích triệt hạ cây bàng chúa. Đế thích liền ra lệnh cho Thiên lôi nổi sấm sét bật tung gốc rễ cây bàng lên, làm cho nó ngã nằm sóng soài ra giữa đất. Vị thần cây mất chỗ trú ngụ, đứng khóc lóc nước mắt đầy mặt, làm cho trời Đế thích ngạc nhiên hỏi: "Này thần cây, sao ngươi sầu muộn thế?" Thần cây đáp: "Thưa tôn giả, có cơn mưa to gió lớn nổi lên, làm cho trú xứ của con, cây bàng chúa này, bị ngã xuống trốc gốc."

    Đế thích hỏi: "Này thần cây, ngươi có giữ gìn cây này, để cho nó sống đúng như pháp không?" Thần hỏi: "Thế nghĩa là gì, thưa Tôn giả?" Đế thích nói: "Nghĩa là ngươi phải nghĩ, với cái cây này, người cần rễ đến lấy rễ, người cần lá đến lấy lá, cần hoa lấy hoa, cần trái lấy trái. Như vậy không có gì dính dấp đến vị thần cây, khiến cho vị ấy không hoan hỉ. Thế là giữ gìn Pháp của cây."

    Thần cây nói: "Thưa Tôn giả, con sẽ giữ gìn cây ấy theo pháp của cây. Mong rằng trú xứ của con trở lại như xưa." Rồi Đế thích vấn thần thông làm cho cây bàng chúa dựng đứng trở lại.

    Cũng thế, này Dhammika, nhà ngươi có giữ gìn pháp của sa môn, khi các cư sĩ mời ngươi đi chỗ khác hay không?

    - Nhưng bạch Thế tôn, thế nào là giữ pháp của sa môn?

    - Này Dhammika, sa môn không mắng nhiếc lại người đã mắng nhiếc mình, không tức giận người đã tức giận mình, không khiển trách người đã khiển trách mình. Như vậy là giữ gìn pháp sa môn.

    - Bạch Thế tôn, con không giữ gìn sa môn pháp, khi các cư sĩ mời con đi nơi khác.

    - Vậy, này Dhammika, từ nay về sau, ngươi cần phải học tập pháp sa môn.

    - Thưa vâng, bạch Thế tôn.

    Truyện Cổ Phật Gíao

  42. Thanks vinamaster, Hieunguyen11, tu kien, minh ton thanked for this post
  43. #97
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Cúng Phật


    CÚNG PHẬT
    (Phỏng theo một đoạn vấn đáp trong kinh "Di Lan Đà vấn" - Milinda-panha )
    Thích nữ Trí Hải

    Vua Di Lan Đà hỏi:

    - Đức Phật đã nhập Niết bàn có nhận những sự cung kính cúng dường hay không? Nếu Ngài có nhận thì chứng tỏ Ngài chưa giải thoát, vẫn còn quanh quẩn đâu đó trong ba cõi. Nếu Ngài không nhận, thì sự cung kính cúng dường Ngài thật vô ích.

    Na Tiên đáp:

    - Đức Phật là Đấng giải thoát hoàn toàn. Ngay khi Ngài còn ngồi dưới cội Bồ đề, còn thân hữu dư, Ngài đã không cần đến sự cung kính cúng dường, huống chi sau khi Ngài đã nhập Vô Dư Niết bàn.

    Nhưng chính vì để làm phước điền cho thế gian, mà khi còn tại thế, Ngài đã thụ nhận những sự cung kính cúng dường tuy Ngài không cần đến. Những người cúng dường nhờ đó được phước đức lớn. Sau khi nhập Niết bàn cũng vậy, mặc dù Ngài không nhận, nhưng những kẻ cúng dường cung kính Ngài vẫn được phước báo lớn do nhân lành ấy.

    Vua Di Lan Đà hỏi: - Những lời Tôn giả nói chỉ thuyết phục được các tỳ kheo đệ tử Phật mà thôi. Như con đề cao cha, trò đề cao thầy, không đủ thuyết phục người ngoài. Xin hãy nêu những bằng chứng cụ thể, khách quan thì trẫm mới tin được.

    Na Tiên tỳ kheo: - Đại vương, Đại vương có nghĩ rằng đất bằng lòng nhận những gì ta gieo xuống đất hay không?

    - Bạch Tôn giả, không! Nhưng đất làm môi trường cho hạt nẩy mầm, đơm hoa kết trái.

    - Cũng vậy, Đại vương. Tuy Đức Thế tôn không nhận sự cung kính cúng dường, người ta vẫn gặt hái kết quả của sự cung kính do nhân duyên cung kính cúng dường Phật.

    Và này Đại vương, những con súc vật hay con người, có nhận cho những con vi trùng ở trong thân mình đục khoét cơ thể hay không?

    - Không, thưa Tôn giả.

    - Thế thì tại sao chúng vẫn bị vi trùng đục khoét?

    - Ấy là do từ lâu xa, chúng đã tạo những điều kiện, nh?ng môi trường cho vi trùng sinh trưởng, do ác nghiệp của chúng.

    - Cũng vậy đối với thiện nghiệp cúng dường cung kính, mặc dù Phật không nhận, vẫn có quả báo tốt đẹp. Và này Đại vưong, Đại vương có nghe chuyện con quỷ Nalaka bị đất chôn sống không?

    - Bạch Tôn giả, có nghe.

    - Vì sao quỷ bị chôn sống?

    - Bạch Tôn giả vì quỷ Nalaka xúc phạm đến trưởng lão Xá Lợi Phất lúc Ngài đang nhập định.

    - Thế thì trưởng lão Xá Lợi Phất có chấp nhận cái việc đất chôn sống quỷ Nalaka không?

    - Bạch Tôn giả, không! Nhưng do ác nghiệp của quỷ mà quỷ tự rước lấy quả báo.

    - Cũng vậy, này Đại vương, mặc dù đức Như lai không nhận sự cung kính cúng dường, nhưng do thiện nghiệp cúng dường của chúng sanh, sẽ tự có quả báo tốt đẹp.

    - Hay thay, thưa Tôn giả, ngoại đạo sẽ nhờ những ví dụ cụ thể của Tôn giả mà tiêu tan những thành kiến trong vấn đề này.

  44. Thanks huudangdo, Hieunguyen11, minh ton, tu kien thanked for this post
  45. #98
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Bán Thịt Tự Thân Mua Lễ Vật


    BÁN THỊT TỰ THÂN MUA LỄ VẬT

    Cách đây rất lâu về trước, có một người tên là Thường Đề, tu hành rất tinh chuyên, đạo cao đức trọng, nên được mọi người xưng là Thường Đề Bồ Tát.

    Lúc mới xuất gia, Thường Đề Bồ Tát muốn tìm minh sư, nên không ngại lặn lội đường xa cực khổ, không sợ nguy hiểm đường trường, tinh thần cầu pháp của ông là "chưa đạt mục đích thì chưa ngừng nghỉ".

    Nhưng đi khắp các danh sơn trong thiên hạ rồi mà chưa tìm ra được một vị thiện tri thức lý tưởng. Có một hôm, ông ngồi dưới bóng mát một gốc cây để nghỉ ngơi, bỗng nhìn thấy một người từ trong không trung bước xuống, nói với ông rằng:

    - Hỡi vị cầu đạo kia! Tinh thần cầu pháp nhiệt tình và tâm nhẫn nại mọi lao khổ của ông khiến cho mọi người phải khâm phục. Nay tôi đến nói cho ông biết rằng, nhắm hướng đông mà đi thì ông sẽ gặp được pháp yếu vô thượng, đắc được trí huệ quý giá nhất.

    Nghe thế, Thường Đề hấp tấp hỏi:

    - Đại đức! Xin ngài cho tôi biết, nhắm hướng đông mà đi thì phải đi tới chỗ nào mới gặp được vị thiện tri thức cho tôi lạy làm thầy?

    Vị hóa nhân trả lời:

    - Cách đây xa thật là xa, có một chỗ tên gọi là Chúng Hương thành, ông đến đó tìm Bồ Tát Đàm Vô Kiệt xin học chỗ tối cao trong Phật pháp. Chúng Hương thành là một vườn hoa tuyệt đẹp và Bồ Tát Đàm Vô Kiệt là một vị chuyên môn nghiên cứu về Bát Nhã, đó chính là người thầy lý tưởng mà ông mong cầu.

    Nghe thế rồi, Thường Đề mừng rỡ vô hạn, lập tức thu thập mấy thứ đang mang theo mình mà nhắm hướng đông đi như baỵ Nỗi mừng vui đã khiến ông quên hết mọi cực nhọc gian khổ dặm đường.

    Thường Đề đêm ngày đi không ngừng nghỉ, chỉ hận là sao mình không mọc đôi cánh để bay một mạch tới nước Chúng Hương. Đến một thị trấn nọ, ông chợt nghĩ đến một chuyện : khi đến gặp danh sư bái tổ thì phải mang theo lễ vật nào đó cúng dường, nhưng đem cái gì được đây? Ngoài tấm áo thầy tu rách rưới trên thân, ông không hề có một vật gì khác. Cuối cùng ông nghĩ ra một cách, nghĩ rằng những bắp thịt rắn chắc của ông là một món hàng có thể bán được, vì thế ông bèn viết trên một tấm bảng dán trên mình tìm người mua thịt, nhưng ai lại muốn mua thịt người bao giờ? Một buổi sáng đã qua mà vẫn chưa ai tới mua thịt của ông, mọi người chỉ nhìn ông bằng cặp mắt kỳ dị, nhưng không ai dám tiến lại gần. Lòng cầu đạo của ông đã làm cho trời đất phải cảm động, nên thiên Đế Thích muốn thử đạo tâm của Thường Đề, bèn biến thành một ông già đến gần, nói:

    - Ối! Ông bạn ơi! Sao ông lại muốn bán thịt người vậy? Mạng sống là một báu vật vô giá, và thân thể là chỗ y cứ của mạng sống, sao lại đem mạng sống quý giá ấy hủy mất đi?

    - Tôi số phận hẩm hiu phước mỏng, không có tài sản. Thường Đề nước mắt nhoè nhoẹt trả lời. Bây giờ tôi muốn đến thành Chúng Hương cầu pháp, muốn lạy Bồ Tát Đàm Vô Kiệt làm thầy, nhưng tôi không có tiền mua lễ vật cúng dường, vì vậy nên đứng đây bán thịt người, nhưng chẳng ai muốn mua cho tôi.

    Nghe Thường Đề nói thế, ông lão thương hại nói rằng:

    - Thôi được! Thế thì tôi mua cho ông một cân thịt người, nhưng ông không sợ đau hay sao?

    - Cám ơn ông lão! Cám ơn ông! Ông đã giúp cho tôi mãn nguyện, đã giúp cho tôi giải quyết mọi khốn khó, khỏi cần nói giá tiền, ông cho bao nhiêu cũng được cả!

    Nói xong Thường Đề bèn đem con dao sắt, cắn răng chịu đau cắt bắp thịt trên cánh tay. Ngay lúc ấy, giữa đám người đứng nhìn có một thanh niên trẻ tuổi chạy lại hỏi Thường Đề:

    - Hỡi vị tu đạo kia, ông chịu đau đớn khổ sở như thế chỉ để cúng dường Bồ Tát Đàm Vô Kiệt, xin hỏi ông rằng, ông làm như thế có ích lợi gì?

    - A! Cậu không biết chứ công đức của việc này vô lượng vô biên. Cậu nghĩ xem, Cực Lạc thế giới là một khu vườn vi diệu, đức Phật đã kêu gọi chúng ta một cách chân tình như thế, không lẽ cậu không tha thiết muốn về đó hay sao?

    Anh chàng thanh niên cảm động trước lời nói khẩn thiết, nhiệt tình của Thường Đề, nên khảng khái nói:

    - Ngài thật là khả kính! Tiền tài mà ngài cần dùng, tôi có thể dâng tặng cho ngài. Nhưng tôi chỉ xin ngài một điều, là hãy cho phép tôi đi theo để cùng cầu pháp bảo.

    - Tốt lắm! Tốt lắm! Thường Đề trả lời ngay.

    Lúc ấy, hóa nhân của trời Đế Thích nói:

    - Thường Đề! Không phải ta thích gì thịt của ông, ta chỉ muốn thử đạo tâm của ông đấy thôi! Ta không phải là ai xa lạ, mà chính là trời Đế Thích. Sau này, ta quyết sẽ ủng hộ pháp của ông.

    Lão già nói xong, dùng cánh tay áo phất nhẹ lên vết thương của Thường Đề rồi biến mất, vết thương bèn lành lặn lại như cũ. Thường Đề lạy tạ trời Đế Thích rồi cùng anh chàng thanh niên chuẩn bị một vài lễ vật cúng dường xong, cả hai cùng nhắm hướng Chúng Hương thành mà thẳng tiến.

    Tới Chúng Hương thành, nhờ Bồ Tát Đàm Vô Kiệt dìu dắt khai đạo lại nhờ Thường Đề tu hành rất tinh tiến, nên 7 năm sau, Thường Đề giác ngộ được đạo pháp vi diệu, chứng được trí huệ Bát Nhã và vĩnh viễn giải thoát được sinh tử.

    Từ đó người ta gọi ông là Bồ Tát Thường Đề.

    "Người có chí thì làm gì cũng thành", câu này áp dụng ở đây rất đúng. Chỉ cần chịu nhọc, cố gắng thực hiện thì việc gì dẫu khó khăn tới đâu cũng có ngày thành công.

    Trích từ truyện cổ Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn

  46. #99
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Nỗi Lòng Tu - Đi


    NỖI LÒNG TU-ĐI

    Ngày xưa, có một con chó bị bệnh ghẻ lác, nên bị chủ quăng bỏ ra ngoài bờ sông. Cạnh bờ sông có một vị sư già sống trong một am cốc nghèo nàn, ngày ngày đi khất thực để sống. Trông thấy con chó đói bệnh, vị sư động lòng từ mẫn, đem về săn sóc, chia sớt cho nó phần ăn hàng ngày sư xin được, tắm rửa, xức thuốc cho nó. Chẳng bao lâu nhờ sự tấn tâm của sư mà con chó khỏi bệnh, lông lá mọc lại trên thân, trở thành một anh chó bảnh bao, dễ nhìn. Nhà sư đặt tên nó là "Tu Đi", có ý muốn thọ ký nó phát tâm tu hành để chuyển nghiệp chó.

    Nhưng từ khi khỏi bệnh, Tu Đi đâm ra ưa lêu lổng. Nó tìm gặm những cục xương của người ta vứt bên bờ sông, và bỗng thấy hết ưa mùi vị tương chao của nhà sư tốt bụng, người đã cứu tử nó. Ngày ngày nó đi tìm ăn những cơm thừa cá vụn nên đâm ra quen mùi trần tục. Một hôm nó đang ngồi bên bờ sông nghễnh mõm nhìn móng sang bên kia bờ, bỗng một làn gió từ bên ấy tắt qua, thơm phức mùi thịt xào hành mỡ. Nó tung mình nhảy xuống sông lội về hướng ấy. Khi nó lội đến giữa dòng thì nhà sư cũng vừa về tới am, không thấy Tu Đi ngài ra sông tìm. Thấy con chó thân yêu đang chới với giữa dòng theo tiếng gọi của dục vọng, nhà sư tha thiết gọi nó quay về:

    -Tu Đi! Con nỡ nào bỏ thầy già yếu cho đành? Con hãy mau quay về với thầy. Tu Đi, Nào có mùi vị gì nơi một mảnh xương khô của trần tục, con chỉ tự ăn nước bọt chính con tiệt ra đấy mà thôi. Hãy quay về, hỡi Tu Đi!

    Con chó nghe lời thầy gọi vội vã quay trở lại, nhưng nó vừa quay lưng với bờ kia thì bỗng một làn gió từ bên ấy hắt lại, tạt mùi thịt ngon lành vào mũi nó. Không cưỡng được, nó lại bơi trở lui về hướng thịt xào. Bên bờ này vị sư lại thiết tha khuyên nhủ. Con chó cầm lòng không đậu cũng quay lại, nhưng vừa muốn quay lại với thầy, thì gió lại đưa mùi thịt xào đến mũi nó, cứ thế Tu Đi quay qua lộn lại giữa giòng sông không thể quyết định được. Và cuối cùng nó bị chết chìm ngay giữa giòng.

    Kể xong câu chuyện, sư lui về tịnh thất nghỉ. Các đệ tử ngồi lại kháo nhau:

    - Huynh cho câu chuyện ấy có nghĩa gì?

    Một người nói:

    - Đó là cái chết thảm khốc của một kẻ bội bạc, phận chủ.

    Người thứ hai:

    - Tai họa xẩy đến cho những kẻ nào không quyết đoán.

    Người thứ ba:

    - Các huynh nói đều đúng cả, nhưng theo tôi thì, thầy mình có ngụ ý. Con chó tượng trưng cho người khởi sự tu tập, tại gia hay xuất gia. Vị thầy là Phật tánh, lương tri sẵn có nơi mỗi người. Mùi thịt xào với làn gió là sự cám dỗ mời gọi của sắc thanh hương vị xúc pháp, tức sáu trần. Giòng sông tượng trưng cho sanh tử. Người nào đã thấm nhuần chút đạo lý, thì đạo lý ấy trong họ trở thành một thứ đại bổ hoặc kịch độc. Đại bổ là khi sống thuận theo ánh sáng mình đã thấy, kịch độc là khi mình không cưỡng nỗi tiếng gọi của sắc trần mà quay lưng với đạo, chạy theo thanh sắc. Thỉnh thoảng tiếng gọi của lương tri nổi dậy, nên người ấy không thể nào dứt khoát chạy theo thanh sắc như người thế tục chưa từng biết đạo, mà cũng không thể quay về, cho nên phải chết chìm giữa giòng sông sanh tử.

    Truyện Cổ Phật Giáo - Thích nữ Trí Hải

  47. Thanks vinamaster, Hieunguyen11, HaiViet, minh ton, tu kien thanked for this post
  48. #100
    Join Date
    Oct 30th 2015
    Location
    Next To You
    Posts
    706
    Post Thanks / Like
    Rep Power
    47

    Default Hoa Vẫn Tươi Cành


    HOA VẪN TƯƠI CÀNH
    Kinh thuật tóm tắt một đoạn kinh Di Lan Đà (Milinda-panha)

    Một hôm, vua Di Lan Đà (Milinda) đề nghị với tỳ kheo Na tiên (Nagasena):

    - Bạch Tôn giả, pháp của Đức Như lai thật là hùng vị, cao quý, tuyệt vời, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không lỗi lầm. Thật không nên để cho cư sĩ phàm phu gia nhập Tăng đoàn thanh tịnh. Hãy dạy Phật pháp cho chúng, đến khi chúng chứng được quả Dự lưu rồi mới nên cho xuất gia. Vì sao? Vì khi những con người còn cấu uế xấu xa ấy được gia nhập Pháp và Luật thuần tịnh như thế kia, rủi chúng bỏ đạo nửa chừng, đọa lạc trở lại nơi hạ liệt, thì do sự đọa lạc của chúng, người ta sẽ nghĩ rằng: "Chắc là Pháp Luật của sa môn Cù Đàm chẳng có ra gì, nên những người kia đã bỏ."

    Na Tiên tỳ kheo trả lời:

    - Đại vương, giả sử có một cái hồ tắm, đầy nước trong sạch mát mẻ. Có một người dơ dáy, mình lấm cả đất bùn, đi đến hồ nước nhưng không chịu tắm, lại bỏ về, vẫn dơ dáy như cũ. Trong trường hợp ấy người ta sẽ chê người kia hay chê cái hồ?

    - Bạch Tôn giả, người ta sẽ chê người kia, chứ hồ tắm có lỗi gì. Làm sao cái hồ tắm tự tẩy sạch người ấy được, nếu người ấy không chịu tắm?

    - Cũng vậy, Đại vương, giáo pháp đức Thế tôn ví như hồ nước trong sạch mát mẻ kia. Một người đầy cấu bẩn tội lỗi, tu theo Ph?t pháp sẽ hết những nhiễm ô, nhưng nếu không tu, bỏ về thì cũng như người dơ không chịu tắm. Lỗi không ở Phật Pháp.

    Và này, Đại vương, giả như có một vị lương y trị lành các chứng bệnh, và một người mắc bệnh đi đến lương y nhưng không chữa trị, bỏ về, bệnh vẫn còn nguyên, thì lỗi ở người kia hay ở lương y?

    - Bạch Tôn giả ở người kia chứ. Lương y làm sao chữa bệnh cho nó, nếu nó nhất định không chịu chữa?

    - Cũng thế, Đại vương, đối với Đức Như lai. Và này, Đại vương, giả như lương y có nhiều thuốc hay trị bá bệnh, tuyên bố rằng: "Bà con cô bác nào bệnh thì đừng đến đây. Chỉ có người khỏe mạnh mới được đến." Khi ấy những người mạnh có cần đến thuốc của lương y không?

    - Bạch Tôn giả không cần! Vì những người ấy đã khỏe mạnh.

    - Cũng vậy, Đại vương. Người đã chứng quả thì còn cần gia nhập Tăng đoàn làm gì nữa. Nhưng này Đại vương, không vì sự thối đọa của những người bỏ cuộc mà Phật pháp mất giá trị. Trái lại, nó còn chứng tỏ năm điểm vi diệu của chánh pháp:

    Thứ nhất, chánh pháp cao thượng thù thắng nên những người kia không theo nổi. Như một người nghèo dốt nát được quyền làm chủ một vương quốc, thì vì không biết gì cả, chẳng bao lâu y phải bị hất xuống, trở lại tình trạng khốn cùng. Kẻ ngu cũng vậy, không thể đương nổi Phật pháp.

    Thứ hai, chánh pháp trong sạch không tì vết, như lá sen không thấm nước. Kẻ ngu vào đạo rồi đi ra, như nước tuột khỏi lá sen.

    Thứ ba, chánh pháp thanh tịnh không dung kẻ tội lỗi, như biển không chứa thây chết, thây phải giạt vào bờ.

    Thứ tư, chánh pháp cao sâu như đích khó trúng với một người bạn tên dở.

    Thứ năm, giới luật rất khó giữ, nên kẻ yếu đuối không thể theo.

    Lại nữa, này Đại vương, như bụi bông lài có những hoa bị sâu ăn, rã rụng nửa chừng, thì bụi bông không vì thế mà mất giá trị, vì nó còn có những hoa khác tỏa ngát hương lài. Phật pháp vi diệu cũng thế, không vì những người thối đọa mà mất giá trị, bởi vì vẫn còn những người ở lại trong Tăng đoàn sẽ tỏa ngát hương giới hạnh khắp thế giới nhân loại và chư thiên.

    - Hay thay, bạch Tôn giả. Bằng nhiều ví dụ chính xác, tôn giả đã khéo trình bày sự vi diệu, vô cấu của giáo pháp đức Như lai. Dù có những người bỏ đạo, cũng vẫn chứng tỏ được các điều thù thắng của Phật pháp.

    Truyện Cổ Phật Giáo - Thích nữ Trí Hải

  49. Thanks vinamaster, Hieunguyen11, minh ton, tu kien thanked for this post
Page 4 of 5 FirstFirst 12345 LastLast

Similar Threads

  1. Hà Nội chi 1 triệu USD để quảng bá trên truyền hình CNN
    By vinamaster in forum Thời Sự - Tin Việt Nam
    Replies: 0
    Last Post: 11-28-2016, 22:26
  2. Replies: 1
    Last Post: 11-27-2016, 21:01
  3. Replies: 0
    Last Post: 07-28-2016, 15:58
  4. Replies: 0
    Last Post: 12-16-2015, 13:53

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •